Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

ma107 (MA107)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Kệ tóm tắt:

Hai Lâm, hai Quán tâm,

Đạt, Nô-ba, Pháp bản,

Ưu-đà-la, Mật hoàn,

Cù-đàm-di sau cùng

Tôi nghe như vầy.

Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở. Hoặc không có chánh niệm sẽ được chánh niệm; tâm chưa định sẽ được định; nếu chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa diệt tận sẽ được diệt tận; chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì sẽ chứng đắc Niết-bàn. Điều người học đạo cần như áo, chăn, uống, ăn, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống, tìm cầu tất cả một cách dễ dàng, không khó khăn’.

“Rồi Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Sau khi nương vào khu rừng này để ở, nếu không có chánh niệm vẫn không được chánh niệm, tâm chưa được định vẫn không được định, chưa giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo, chăn, uống, ăn, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống, tìm cầu tất cả một cách dễ dàng, không khó khăn, vị Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta xuất gia học đạo không phải vì áo chăn, không phải vì ăn uống, giường chõng, thuốc thang, cũng không phải vì các vật dụng cho đời sống. Nhưng ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm vẫn không được chánh niệm, tâm chưa định vẫn không được định, chưa giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Nhưng những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.

“Tỳ-kheo ấy đã quán như vậy rồi, phải từ bỏ khu rừng này để đi nơi khác”.

“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm sẽ được chánh niệm, tâm chưa được định sẽ được định, chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.

“Rồi Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Sau khi nương vào khu rừng để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách rất khó khăn, vị Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta xuất gia học đạo không phải vì áo chăn, không phải vì ăn uống, giường chõng, thuốc thang, cũng không phải vì vật dụng cho đời sống. Nhưng ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm thì liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách rất khó khăn’.

“Tỳ-kheo ấy đã quán như vậy rồi, nên ở lại khu rừng này”.

“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm sẽ được chánh niệm, tâm chưa định sẽ được định, chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa hết sẽ được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì sẽ chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.

“Rồi vị Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Sau khi nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm vẫn không có chánh niệm, tâm chưa được định tĩnh vẫn không được định tĩnh, nếu chưa được giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách rất khó khăn. Vị Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm vẫn không được chánh niệm, tâm chưa được định tĩnh vẫn không được định tĩnh, nếu chưa giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như: áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách khó khăn’.

“Tỳ-kheo quán như vậy rồi, phải lập tức từ bỏ khu rừng này ngay trong đêm mà đi, chớ có cùng người cáo biệt”.

“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Và những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.

“Rồi Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Đã nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn. Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định tĩnh liền được định tĩnh, nếu chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.

“Tỳ-kheo đã quán như vậy rồi nên nương vào khu rừng này để ở trọn đời cho đến lúc mạng chung.

“Cũng như các trường hợp nương vào khu rừng để ở, cũng vậy, giữa bãi tha ma, giữa thôn ấp hay sống với người khác”.

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

林品第五

(有十經)

(第二小土城誦)

中阿含經卷第二十七

T 0596c20

T 0596c21

東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯

T 0596c22

T 0596c23

二林、觀心二  達、奴波、法本

T 0596c24

優陀羅、蜜丸  瞿曇彌在後

T 0596c25

T 0596c26

我聞如是:

一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤

T 0596c27

獨園。

爾時,世尊告諸比丘:「比丘者,依一林

T 0596c28

住,我依此林住,或無正念便得正念,其心

T 0596c29

不定而得定心,若不解脫便得解脫,諸漏

T 0597a01

不盡而得漏盡,不得無上安隱涅槃則得

T 0597a02

涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生活

T 0597a03

具,彼一切求索,易不難得。彼比丘依此林

T 0597a04

住,依此林住已,若無正念不得正念,其心

T 0597a05

不定不得定心,若不解脫不得解脫,諸漏

T 0597a06

不盡不得漏盡,不得無上安隱涅槃,然不

T 0597a07

得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸

T 0597a08

生活具,彼一切求索,易不難得。彼比丘應作

T 0597a09

是觀:『我出家學道,不為衣被故,不為飲食、

T 0597a10

床榻、湯藥故,亦不為諸生活具故。然我依

T 0597a11

此林住,或無正念不得正念,其心不定不

T 0597a12

得定心,若不解脫不得解脫,諸漏不盡不

T 0597a13

得漏盡,不得無上安隱涅槃,然不得涅槃;

T 0597a14

學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,

T 0597a15

彼一切求索,易不難得。』彼比丘如是觀已,可

T 0597a16

捨此林去。

「比丘者,依一林住,我依此林住,

T 0597a17

或無正念便得正念,其心不定而得定心,

T 0597a18

若不解脫便得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不

T 0597a19

得無上安隱涅槃則得涅槃;學道者所須衣

T 0597a20

被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,彼一切求索,易

T 0597a21

不難得。彼比丘依此林住,依此林住已,或

T 0597a22

無正念便得正念,其心不定而得定心,若不

T 0597a23

得解脫便得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不

T 0597a24

得無上安隱涅槃則得涅槃;學道者所須衣

T 0597a25

被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,彼一切求索,甚

T 0597a26

難可得。彼比丘應作是觀:『我出家學道,不

T 0597a27

為衣被故,不為飲食、床榻、湯藥故,亦不

T 0597a28

為諸生活具故。然依此林住,或無正念便

T 0597a29

得正念,其心不定而得定心,若不解脫便

T 0597b01

得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱

T 0597b02

涅槃則得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、

T 0597b03

湯藥、諸生活具,彼一切求索,甚難可得。』彼比

T 0597b04

丘如是觀已,可住此林。

「比丘者,依一林住,

T 0597b05

我依此林住,或無正念便得正念,其心不定

T 0597b06

而得定心,若不解脫便得解脫,諸漏不盡而

T 0597b07

得漏盡,不得無上安隱涅槃則得涅槃;學道

T 0597b08

者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,彼一

T 0597b09

切求索,易不難得。彼比丘依此林住,依

T 0597b10

此林住已,或無正念不得正念,其心不定

T 0597b11

不得定心,若不解脫不得解脫,諸漏不盡

T 0597b12

不得漏盡,不得無上安隱涅槃。然不得

T 0597b13

涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生

T 0597b14

活具,彼一切求索,甚難可得。彼比丘應作

T 0597b15

是觀:『我依此林住,或無正念不得正念,其

T 0597b16

心不定不得定心,若不解脫不得解脫,諸

T 0597b17

漏不盡不得漏盡,不得無上安隱涅槃;然

T 0597b18

不得涅槃,學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、

T 0597b19

諸生活具,彼一切求索,甚難可得。』彼比丘如

T 0597b20

是觀已,即捨此林,夜半而去,莫與彼別。

「比

T 0597b21

丘者,依一林住,我依此林住,或無正念便

T 0597b22

得正念,其心不定而得定心,若不解脫便

T 0597b23

得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱

T 0597b24

涅槃則得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、

T 0597b25

湯藥、諸生活具,彼一切求索,易不難得。彼比

T 0597b26

丘依此林住,依此林住已,或無正念便得

T 0597b27

正念,其心不定而得定心,若不解脫便得解

T 0597b28

脫,諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱涅槃

T 0597b29

則得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、

T 0597c01

諸生活具,彼一切求索,易不難得。彼比丘應

T 0597c02

作是觀:『我依此林住,或無正念便得正念,

T 0597c03

其心不定而得定心,若不解脫便得解脫,

T 0597c04

諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱涅槃則

T 0597c05

得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸

T 0597c06

生活具,彼一切求索,易不難得。』彼比丘如

T 0597c07

是觀已,依此林住,乃可終身至其命盡,如

T 0597c08

依林住,塜間、村邑、依於人住亦復如是。」

T 0597c09

佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。

T 0597c10

林經第一竟

(千一百六十五字)

T 0597c11

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc