Nội dung bài kinh
Kệ tóm tắt:
Hai Lâm, hai Quán tâm,
Đạt, Nô-ba, Pháp bản,
Ưu-đà-la, Mật hoàn,
Cù-đàm-di sau cùng
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở. Hoặc không có chánh niệm sẽ được chánh niệm; tâm chưa định sẽ được định; nếu chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa diệt tận sẽ được diệt tận; chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì sẽ chứng đắc Niết-bàn. Điều người học đạo cần như áo, chăn, uống, ăn, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống, tìm cầu tất cả một cách dễ dàng, không khó khăn’.
“Rồi Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Sau khi nương vào khu rừng này để ở, nếu không có chánh niệm vẫn không được chánh niệm, tâm chưa được định vẫn không được định, chưa giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo, chăn, uống, ăn, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống, tìm cầu tất cả một cách dễ dàng, không khó khăn, vị Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta xuất gia học đạo không phải vì áo chăn, không phải vì ăn uống, giường chõng, thuốc thang, cũng không phải vì các vật dụng cho đời sống. Nhưng ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm vẫn không được chánh niệm, tâm chưa định vẫn không được định, chưa giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Nhưng những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.
“Tỳ-kheo ấy đã quán như vậy rồi, phải từ bỏ khu rừng này để đi nơi khác”.
“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm sẽ được chánh niệm, tâm chưa được định sẽ được định, chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.
“Rồi Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Sau khi nương vào khu rừng để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách rất khó khăn, vị Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta xuất gia học đạo không phải vì áo chăn, không phải vì ăn uống, giường chõng, thuốc thang, cũng không phải vì vật dụng cho đời sống. Nhưng ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm thì liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách rất khó khăn’.
“Tỳ-kheo ấy đã quán như vậy rồi, nên ở lại khu rừng này”.
“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm sẽ được chánh niệm, tâm chưa định sẽ được định, chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa hết sẽ được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì sẽ chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.
“Rồi vị Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Sau khi nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm vẫn không có chánh niệm, tâm chưa được định tĩnh vẫn không được định tĩnh, nếu chưa được giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách rất khó khăn. Vị Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm vẫn không được chánh niệm, tâm chưa được định tĩnh vẫn không được định tĩnh, nếu chưa giải thoát vẫn không được giải thoát, các lậu chưa hết vẫn không đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng vẫn chưa chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như: áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách khó khăn’.
“Tỳ-kheo quán như vậy rồi, phải lập tức từ bỏ khu rừng này ngay trong đêm mà đi, chớ có cùng người cáo biệt”.
“Tỳ-kheo nương vào một khu rừng để ở. Vị ấy nghĩ: ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Và những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.
“Rồi Tỳ-kheo ấy nương vào khu rừng này để ở. Đã nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn. Tỳ-kheo ấy nên quán như vầy, ‘Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chánh niệm liền được chánh niệm, tâm chưa định tĩnh liền được định tĩnh, nếu chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn. Những điều người học đạo cần như áo chăn, ăn uống, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống tìm cầu tất cả một cách dễ dàng không khó khăn’.
“Tỳ-kheo đã quán như vậy rồi nên nương vào khu rừng này để ở trọn đời cho đến lúc mạng chung.
“Cũng như các trường hợp nương vào khu rừng để ở, cũng vậy, giữa bãi tha ma, giữa thôn ấp hay sống với người khác”.
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
林品第五
(有十經)
(第二小土城誦)
中阿含經卷第二十七
T 0596c20
T 0596c21
東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯
T 0596c22
T 0596c23
二林、觀心二 達、奴波、法本
T 0596c24
優陀羅、蜜丸 瞿曇彌在後
T 0596c25
T 0596c26
我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤
T 0596c27
獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「比丘者,依一林
T 0596c28
住,我依此林住,或無正念便得正念,其心
T 0596c29
不定而得定心,若不解脫便得解脫,諸漏
T 0597a01
不盡而得漏盡,不得無上安隱涅槃則得
T 0597a02
涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生活
T 0597a03
具,彼一切求索,易不難得。彼比丘依此林
T 0597a04
住,依此林住已,若無正念不得正念,其心
T 0597a05
不定不得定心,若不解脫不得解脫,諸漏
T 0597a06
不盡不得漏盡,不得無上安隱涅槃,然不
T 0597a07
得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸
T 0597a08
生活具,彼一切求索,易不難得。彼比丘應作
T 0597a09
是觀:『我出家學道,不為衣被故,不為飲食、
T 0597a10
床榻、湯藥故,亦不為諸生活具故。然我依
T 0597a11
此林住,或無正念不得正念,其心不定不
T 0597a12
得定心,若不解脫不得解脫,諸漏不盡不
T 0597a13
得漏盡,不得無上安隱涅槃,然不得涅槃;
T 0597a14
學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,
T 0597a15
彼一切求索,易不難得。』彼比丘如是觀已,可
T 0597a16
捨此林去。
「比丘者,依一林住,我依此林住,
T 0597a17
或無正念便得正念,其心不定而得定心,
T 0597a18
若不解脫便得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不
T 0597a19
得無上安隱涅槃則得涅槃;學道者所須衣
T 0597a20
被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,彼一切求索,易
T 0597a21
不難得。彼比丘依此林住,依此林住已,或
T 0597a22
無正念便得正念,其心不定而得定心,若不
T 0597a23
得解脫便得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不
T 0597a24
得無上安隱涅槃則得涅槃;學道者所須衣
T 0597a25
被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,彼一切求索,甚
T 0597a26
難可得。彼比丘應作是觀:『我出家學道,不
T 0597a27
為衣被故,不為飲食、床榻、湯藥故,亦不
T 0597a28
為諸生活具故。然依此林住,或無正念便
T 0597a29
得正念,其心不定而得定心,若不解脫便
T 0597b01
得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱
T 0597b02
涅槃則得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、
T 0597b03
湯藥、諸生活具,彼一切求索,甚難可得。』彼比
T 0597b04
丘如是觀已,可住此林。
「比丘者,依一林住,
T 0597b05
我依此林住,或無正念便得正念,其心不定
T 0597b06
而得定心,若不解脫便得解脫,諸漏不盡而
T 0597b07
得漏盡,不得無上安隱涅槃則得涅槃;學道
T 0597b08
者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生活具,彼一
T 0597b09
切求索,易不難得。彼比丘依此林住,依
T 0597b10
此林住已,或無正念不得正念,其心不定
T 0597b11
不得定心,若不解脫不得解脫,諸漏不盡
T 0597b12
不得漏盡,不得無上安隱涅槃。然不得
T 0597b13
涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸生
T 0597b14
活具,彼一切求索,甚難可得。彼比丘應作
T 0597b15
是觀:『我依此林住,或無正念不得正念,其
T 0597b16
心不定不得定心,若不解脫不得解脫,諸
T 0597b17
漏不盡不得漏盡,不得無上安隱涅槃;然
T 0597b18
不得涅槃,學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、
T 0597b19
諸生活具,彼一切求索,甚難可得。』彼比丘如
T 0597b20
是觀已,即捨此林,夜半而去,莫與彼別。
「比
T 0597b21
丘者,依一林住,我依此林住,或無正念便
T 0597b22
得正念,其心不定而得定心,若不解脫便
T 0597b23
得解脫,諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱
T 0597b24
涅槃則得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、
T 0597b25
湯藥、諸生活具,彼一切求索,易不難得。彼比
T 0597b26
丘依此林住,依此林住已,或無正念便得
T 0597b27
正念,其心不定而得定心,若不解脫便得解
T 0597b28
脫,諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱涅槃
T 0597b29
則得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、
T 0597c01
諸生活具,彼一切求索,易不難得。彼比丘應
T 0597c02
作是觀:『我依此林住,或無正念便得正念,
T 0597c03
其心不定而得定心,若不解脫便得解脫,
T 0597c04
諸漏不盡而得漏盡,不得無上安隱涅槃則
T 0597c05
得涅槃;學道者所須衣被、飲食、床榻、湯藥、諸
T 0597c06
生活具,彼一切求索,易不難得。』彼比丘如
T 0597c07
是觀已,依此林住,乃可終身至其命盡,如
T 0597c08
依林住,塜間、村邑、依於人住亦復如是。」
T 0597c09
佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0597c10
林經第一竟
(千一百六十五字)
T 0597c11