Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

20. Kinh ba-la-lao (MA20)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú ở Câu-lệ-sấu, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến Bắc thôn, trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa.

Bấy giờ Ba-la-lao Già-di-ni nghe rằng: “Sa-môn Cù-đàm thuộc dòng họ Thích, đã từ bỏ dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang trú tại Câu-lệ-sấu, cùng đại chúng Tỳ-kheo, đi đến Bắc thôn, trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa. Vị Sa-môn Cù-đàm ấy có tiếng tăm lớn, truyền khắp mười phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy ở trong thế gian này giữa Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ loài người cho đến loài trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện, khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ’. Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, để tôn trọng, lễ bái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được nhiều thiện lợi”. Người kia suy nghĩ rằng: “Ta nên đến yết kiến Sa-môn Cù-đàm để lễ bái, cúng dường”.

Ba-la-lao Già-di-ni nghe vậy rồi, ra khỏi Bắc thôn, đi về hướng Bắc, đến rừng Thi-nhiếp-hòa, muốn yết kiết Thế Tôn để lễ bái cúng dường. Ba-la-lao Già-di-ni từ xa trông thấy Thế Tôn ở trong rừng cây, đoan nghiêm đẹp đẽ, như mặt trăng giữa đám tinh tú sáng ngời chói lọi, rực rỡ như tòa núi vàng, đầy đủ tướng hảo, uy thần vời vợi, các căn tịch tịnh, không gì ngăn che, thành tựu sự điều ngự, tâm yên tĩnh lặng. Ba-la-lao Già-di-ni từ xa trông thấy Đức Thế Tôn rồi, đến trước chỗ Thế Tôn, cùng chào hỏi rồi ngồi xuống một phía, thưa với Thế Tôn rằng:

“Tôi nghe Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà huyễn thuật. Thưa Cù-đàm, nếu ai nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà huyễn thuật’, người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm chăng? Người ấy có nói đúng sự thật không? Người ấy nói có đúng pháp chăng? Người ấy nói đúng pháp và như pháp chăng? Đối với như pháp, không có sai lầm và không bị chỉ trích chăng?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Này Già-di-ni, nếu có ai nói như vầy, ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà huyễn thuật’, thì người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm, người ấy nói chân thật, ngươi ấy nói đúng pháp, người ấy nói pháp như pháp, đối với pháp không có lỗi lầm, không bị chỉ trích. Vì sao thế? Này Già-di-ni, Ta biết huyễn thuật ấy, nhưng chính Ta không phải là nhà huyễn thuật”.

Già-di-ni nói rằng:

“Những điều các Sa-môn, Bà-la-môn kia nói là chân thật, nhưng tôi không tin họ nói rằng ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật và là nhà huyễn thuật”.

Thế Tôn nói:

“Này Già-di-ni, nếu người nào biết huyễn thuật thì người đó là nhà huyễn thuật chăng?”

Già-di-ni thưa rằng:

“Quả thật vậy, Thế Tôn. Quả thật vậy, Thiện Thệ”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Này Già-di-ni, ông đừng tự lầm lẫn mà hủy báng Ta. Nếu hủy báng Ta thì chỉ tự gây tổn hại, có sự não hại, có xúc phạm, điều mà Hiền Thánh ghét bỏ, và bị tội lớn. Vì sao thế? Này Già-di-ni, điều ấy thật ra không đúng như lời ông nói.

“Này Già-di-ni, ông có nghe Câu-lệ-sấu có binh tốt chăng?

Già-di-ni đáp rằng:

“Tôi nghe rằng có”.

“Này Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, Câu-lệ-sấu có binh tốt ấy để làm gì?”

Già-di-ni đáp:

“Thưa Cù-đàm, để làm thông sứ và giết giặc cướp. Vì việc đó nên Câu-lệ-sấu nuôi các binh tốt ấy”.

“Này Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, binh tốt Câu-lệ-sấu có giữ giới cấm hay không giữ giới cấm?”

Già-di-ni đáp:

“Thưa Cù-đàm, nếu trên thế gian này có những người không giữ giới cấm, vẫn không thể quá hơn binh tốt Câu-lệ-sấu. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều giới cấm, chỉ làm các ác pháp”.

Lại hỏi:

“Ông thấy như vậy, biết như vậy, Ta không hỏi ông. Nếu có người khác hỏi ông, ‘Vì Già-di-ni biết rằng binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều những giới cấm, chỉ làm những ác pháp; nhân việc đó nên Già-di-ni cũng phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm các ác pháp’. Nên nói như vậy, là lời nói đúng sự thật chăng?”

Già-di-ni đáp:

“Không phải vậy, thưa Cù-đàm. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu có tri kiến khác, có sở nguyện khác, nên binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm các ác pháp. Còn tôi thì rất trì giới, không làm các ác pháp”.

Lại hỏi:

“Già-di-ni, ông biết binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm các ác pháp, nhưng ông không do đó mà phạm cấm giới, chỉ làm các ác pháp. Vậy thì vì sao không thể rằng Như Lai biết huyễn thuật, trong khi chính mình không phải là nhà huyễn thuật. Vì sao thế? Ta biết huyễn thuật, biết người huyễn thuật, biết quả báo của huyễn thuật, biết đoạn trừ huyễn thuật.

“Này Già-di-ni, Ta cũng biết sát sanh, biết người sát sanh, biết sự đoạn trừ sát sanh. Này Già-di-ni, Ta biết việc lấy của không cho, biết người lấy của không cho, biết quả báo việc lấy của không cho, biết sự đoạn trừ việc lấy của không cho. Này Già-di-ni, Ta biết việc nói dối, biết người nói dối, biết quả báo việc nói dối, biết đoạn trừ sự nói dối. Này Già-di-ni, Ta biết như vậy, thấy như vậy. Ai nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật tức là nhà huyễn thuật’, nếu người ấy chưa đoạn trừ lời nói này, mà nghe tâm ấy, dục ấy, nguyện ấy, văn ấy, niệm ấy, quán ấy, thì trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, mạng chung sanh vào địa ngục”.

Già-di-ni nghe vậy, kinh hãi khủng khiếp, lông trên mình dựng đứng lên, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật, quỳ mọp, chắp tay hướng về Thế Tôn mà bạch rằng:

“Cù-đàm, tôi ăn năn tội lỗi. Thiện Thệ, tôi tự thú. Tôi như ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao thế? Vì tôi nói quấy rằng Sa-môn Cù-đàm là nhà huyễn thuật. Cúi mong Cù-đàm cho tôi được ăn năn tội lỗi, thấy tội thì bày tỏ. Tôi đã ăn năn tội rồi, sẽ giữ gìn không để tái phạm nữa”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Thật như vậy, Già-di-ni, ông quả thật ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao thế? Vì ông nói quấy rừang Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác là nhà huyễn thuật. Nhưng ông có thể ăn năn tội lỗi, thấy tội thì nên bày tỏ, giữ gìn không để tái phạm nữa. Như vậy, này Già-di-ni, nếu có người ăn năn tội lỗi, thấy tội nên bày tỏ, hộ trì mà không tạo lại nữa, thì trưởng dưỡng Thánh pháp, không còn có sự sai lầm nữa”.

Lúc đó Già-di-ni chắp tay hướng về Thế Tôn mà bạch rằng:

“Thưa Cù-đàm, có Sa-môn, Bà-la-môn, thấy thế này, nói thế này: ‘Nếu kẻ nào sát sanh, kẻ ấy nhất thiết thọ báo ngay trong đời này; nhân đó mà sanh ra ưu khổ. Nếu kẻ nào lấy của không cho, nói dối, kẻ ấy nhất thiết thọ báo; nhân đó mà sanh ra ưu khổ’. Thưa Sa-môn Cù-đàm, ý Ngài nghĩ sao?”

Đức Thế Tôn bảo rằng:

Này Già-di-ni, nay Ta hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà trả lời. Này Già-di-ni, ý ông nghĩ sao? Nếu trong thôn ấp, hoặc có một người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều loại hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này trước kia làm những gì mà nay đầu đội tràng hoa, hoặc dùng nhiều loại hương xoa vào thân rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy vì Quốc vương mà giết hại kẻ thù. Quốc vương sau khi vui vẻ liền ban thưởng cho. Do đó người ấy đầu đội tràng hoa, dùng nhiều loại hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già-di-ni đáp:

“Tôi có thấy như vậy, nghe như vậy, Cù-đàm. Tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Già-di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, trói quặt hai tay lại, đánh trống, xướng lệnh, kéo ra cửa thành phía Nam, để ngồi dưới cây nêu cao, rồi chém bêu đầu. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này phạm tội gì mà bị Quốc vương giết nhỉ?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người này giết một người trong Vương gia, do đó Quốc vương ra lệnh hành hình như vậy’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già-di-ni trả lời:

“Tôi có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Này Già-di-ni, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, thấy như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có người nào sát sanh người ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong hiện tại này; nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì đó là lời nói chân thật hay lời nói hư dối?”

Già-di-ni đáp:

“Đó là lời nói hư dối, thưa Cù-đàm”.

“Nếu người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”

Già-di-ni đáp:

“Tôi không tin, thưa Cù-đàm”.

Đức Thế Tôn khen rằng:

“Lành thay, Già-di-ni, Ta lại hỏi ông, ông nghĩ thế nào? Nếu trong thôn ấp, hoặc có người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này trước kia đã làm những việc gì mà nay đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng, ‘Người ấy ở nước khác, vì lấy của không cho, do đó người ấy đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già-di-ni thưa:

“Tôi có thấy như vậy, thưa Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Này Già-di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân trói quặt hai tay ra sau, đánh trống, xướng lệnh kéo ra cửa phía Nam, để ngồi dưới gốc cây nêu cao rồi chém bêu đầu. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này mắc tội gì mà bị Quốc vương giết chết?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy lấy của không cho trong Vương gia, do đó Quốc vương ra lệnh hành hình như vậy’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già-di-ni trả lời rằng:

“Tôi có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Này Già-di-ni, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn thấy và nói như vậy: ‘Nếu có kẻ nào lấy của không cho, kẻ ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện tại này, nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì lời nói đó chân thật hay lời nói hư dối?”

Già-di-ni đáp:

“Đó là lời nói hư dối, thưa Cù-đàm”.

“Nếu người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”

Già-di-ni đáp:

“Tôi không tin, thưa Cù-đàm!”

Đức Thế Tôn khen rằng.

“Lành thay! Lành thay! Già-di-ni!”

Lại hỏi Già-di-ni:

“Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, nếu trong thôn ấp hoặc có người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy trước kia làm những việc gì mà nay đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy ca múa để vui giỡn, cười đùa. Người ấy bằng lời nói dối làm cho Quốc vương vui vẻ. Sau khi Quốc vương vui vẻ liền ban thưởng cho, do đó người ấy đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già-di-ni trả lời rằng:

“Tôi có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Này Già-di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, dùng gậy đánh đến chết, rồi bỏ vào củi cây, chở trên xe trống đi ra cửa thành phía Bắc, vất vào trong rãnh nước, nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy mắc tội gì mà bị quốc vương giết chết đi?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy ở trước Quốc vương nói dối là có chứng đắc. Người ấy do lừa gạt Quốc vương bằng lời nói dối nên bị Quốc vương ra lệnh bắt làm như thế’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy không?”

Già-di-ni trả lời rằng:

“Tôi có thấy vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ nghe nữa”.

“Này Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn thấy như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có người nào nói dối, người ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện tại này, nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì lời nói đó là lời nói chân thật hay hư dối?”

Già-di-ni đáp:

“Đó là lời nói hư dối, thưa Cù-đàm”.

“Nếu người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”

Già-di-ni đáp:

“Tôi không tin, thưa Cù-đàm”.

Đức Thế Tôn khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Già-di-ni!”

Lúc đó, Già-di-ni liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo chắp tay hướng về Thế Tôn mà thưa rằng:

“Kỳ diệu thay, những điều Cù-đàm nói rất vi diệu, khéo ví dụ, khéo dẫn chứng. Bạch Cù-đàm, tôi ở trong Bắc thôn có xây dựng một ngôi nhà cao lớn, sắp đặt giường nệm, để sẵn đồ chứa nước thắp sáng những ngọn đèn lớn. Nếu có vị Sa-môn, Bà-la-môn tinh tấn nào đến nghỉ ở ngôi nhà cao lớn ấy, tôi sẽ tùy khả năng mà cung cấp những gì vị ấy cần thiết. Có bốn vị luận sĩ mà sở kiến khác nhau, cùng đến tập hợp tại ngôi nhà cao lớn ấy. Trong đó có một vị luận sĩ thấy như vầy, nói như vầy: ‘Không có bố thí, không có trai tế, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện, nghiệp ác, không có quả báo của nghiệp thiện ác, không có đời này đời sau, không có cha, không có mẹ, trên đời không có bậc chân nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’.

“Vị luận sư thứ hai lại có sở kiến trái ngược với sở kiến của vị luận sư thứ nhất. Vị ấy cũng thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có bố thí, có trai tế, có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời sau, có cha có mẹ có bậc chân nhân trên đời này đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’.

“Vị luận sư thứ ba thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế không phải là làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đời này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước; không do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi hành, không do đó mà có phước, không do đó mà có quả báo của phước’.

Luận sĩ thứ tư lại có sở kiến trái ngược sở kiến vị luận chủ thứ ba. Vị ấy thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế chính là làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó có tội có phước; do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ, lợi hành, do đó mà có quả báo tội phước.

“Thưa Cù-đàm, tôi nghe như vậy liền sanh nghi hoặc: ‘Những vị Sa-môn, Bà-la-môn đó, ai nói chân thật, ai nói hư dối?’.”

Đức Thế Tôn trả lời:

“Này Già-di-ni, ông chớ sanh hoài nghi. Vì sao thế? Có hoài nghi tất sanh ra phân vân. Này Già-di-ni, ông tự mình không có tịnh trí, để biết là có đời sau hay không có đời sau. Này Già-di-ni, ông lại cũng không có tịnh trí để biết điều được làm là ác hay điều được làm là thiện? Này Già-di-ni, có một pháp định được gọi là “Viễn ly”. Ông nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại ông sẽ đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn”.

Lúc đó Già-di-ni từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:

“Thưa Cù-đàm, thế nào là có một pháp định được gọi là “Viễn ly”, mà tôi nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại tôi có thể đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn?”

Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với từ, biến khắp một phương, thành tựu và an trụ. Cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết không oán, không sân, không nhuế, không não hại, quảng đại vô biên, vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Vị ấy suy nghĩ như vầy: “Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào thấy như vầy, nói như vầy: ‘Không có sự bố thí, không có trai tế, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác, không có nghiệp báo thiện ác, không có đời này đời sau, không có cha, không có mẹ trên đời, không có bậc thiện nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’. Nếu những điều mà Sa-môn, Bà-la-môn kia nói ra là chân thật, nhưng ta không xâm phạm đời, dù kẻ sợ hay kẻ không sợ, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Bà-la-môn kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Này Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến.

“Lại nữa Già-di-ni: Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với bi, biến khắp một phương thành tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với bi, không kết, không oán không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Vị ấy suy nghĩ như vậy: “Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có sự bố thí, có trai tế, có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời sau, có cha, có mẹ trên đời, có bậc thiện nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’. Nếu điều vị Sa-môn, Bà-la-môn kia nói ra là chân thật, nhưng ta không xâm phạm đời, dù kẻ sợ hãi hay kẻ không sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Bà-la-môn kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Này Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất tâm; như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến.

“Lại nữa Già-di-ni, Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với hỷ, biến khắp một phương thành tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với hỷ, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế không phải là làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước; không do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi hành, không do đó mà có phước, không do đó mà có quả báo của phước’. Nếu điều vị Sa-môn, Bà-la-môn kia nói ra là chân thật, nhưng ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Bà-la-môn kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Này Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến.

“Lại nữa Già-di-ni, Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với xả, biến khắp một phương thành tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế thật sự là làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy có nghiệp ác, do vậy có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó mà có tội hay có phước; do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ, lợi hành; do đó mà có phước, do đó mà có quả báo của phước’. Nếu điều vị Sa-môn, Bà-la-môn kia nói ra là chân thật, nhưng ta không xâm phạm đời, dù kẻ sợ hãi hay kẻ không sợ, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Bà-la-môn kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Này Già-di-ni, đó là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến”.

Khi Phật nói bài pháp ấy xong, Già-di-ni viễn ly trần cấu, phát sanh con mắt thanh tịnh thấy rõ các pháp. Lúc đó, Già-di-ni thấy pháp, chứng pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi, vượt qua hoặc, không còn tôn sùng ai khác, không còn do ai khác, không còn do dự, đã trụ nói quả chứng đạt, được vô sở úy đối với giáo pháp của Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lễ dưới chân Phật mà bạch rằng.

“Bạch Đức Thế Tôn, con từ nay xin quy y Phật, quy y Pháp và Chúng Tỳ-kheo; cúi mong Đức Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc; bắt đầu từ hôm nay, trọn đời quy y cho đến khi mạng chung”.

Phật thuyết như vậy. Ba-la-lao Già-di-ni và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T 0445a27

我聞如是:

一時,佛遊拘麗瘦,與大比丘眾

T 0445a28

俱,往至北村,住北村北尸攝惒林中。

爾時,

T 0445a29

波羅牢伽彌尼聞沙門瞿曇釋種子,捨釋宗

T 0445b01

族,出家學道,遊拘麗瘦,與大比丘眾俱,至

T 0445b02

此北村,住北村北尸攝惒林中。彼沙門瞿曇

T 0445b03

有大名稱,周聞十方,沙門瞿曇如來、無所著、

T 0445b04

等正覺、明行成為、善逝、世間解、無上士、道法御、

T 0445b05

天人師,號佛、眾祐。彼於此世,天及魔、梵、沙門、

T 0445b06

梵志,從人至天,自知自覺,自作證成就遊,彼

T 0445b07

若說法,初善、中善、竟亦善,有義有文,具足清

T 0445b08

淨,顯現梵行。若見如來、無所著、等正覺,尊重

T 0445b09

禮拜,供養承事者,快得善利。彼作是念:「我應

T 0445b10

往見沙門瞿曇!禮事供養。」

波羅牢伽彌尼聞

T 0445b11

已,從北村出,北行至尸攝惒林,欲見世尊

T 0445b12

禮事供養。波羅牢伽彌尼遙見世尊在林樹

T 0445b13

間,端正姝好,猶星中月,光曜暐曄,晃若金

T 0445b14

山,相好具足,威神巍巍,諸根寂定,無有蔽礙,

T 0445b15

成就調御,息心靜默。波羅牢伽彌尼遙見佛

T 0445b16

已,前至佛所,共相問訊,却坐一面,白世尊

T 0445b17

曰:「我聞沙門瞿曇知幻是幻,瞿曇!若如是說,

T 0445b18

沙門瞿曇知幻是幻,彼不謗毀沙門瞿曇

T 0445b19

耶?彼說真實耶?彼說是法耶?彼說法如法

T 0445b20

耶?於如法無過、無難詰耶?」

世尊答曰:「伽彌

T 0445b21

尼!若如是說,沙門瞿曇知幻是幻,彼不謗

T 0445b22

毀沙門瞿曇!彼說真實,彼說是法,彼說法

T 0445b23

如法,於法無過,亦無難詰。所以者何?伽彌

T 0445b24

尼!我知彼幻,我自非幻。」

波羅牢說曰:「彼沙

T 0445b25

門、梵志所說真實,而我不信彼說沙門瞿曇

T 0445b26

知幻是幻。」

世尊告曰:「伽彌尼!若知幻者,即

T 0445b27

是幻耶?」

波羅牢白曰:「如是。世尊!如是。善逝!」

T 0445b28

世尊告曰:「伽彌尼!汝莫自誤,謗毀於我,若謗

T 0445b29

毀我者,則便自損。有諍有犯,聖賢所惡,而

T 0445c01

得大罪。所以者何?此實不如汝之所說。伽

T 0445c02

彌尼!汝聞拘麗瘦有卒耶?」

答曰:「聞有。」

「伽彌

T 0445c03

尼!於意云何?拘麗瘦用是卒為?」

答曰:「瞿曇!

T 0445c04

通使殺賊,為此事故,拘麗瘦畜是卒也。」

「伽

T 0445c05

彌尼!於意云何?拘麗瘦卒為有戒,為無戒

T 0445c06

耶?」

答曰:「瞿曇!若世間有無戒德者,無過

T 0445c07

拘麗瘦卒。所以者何?拘麗瘦卒極犯禁戒,

T 0445c08

唯行惡法。」

復問:「伽彌尼!汝如是見、如是知,

T 0445c09

我不問汝,若他問汝:『波羅牢伽彌尼知拘

T 0445c10

麗瘦卒極犯禁戒,唯行惡法,因此事故,波

T 0445c11

羅牢伽彌尼極犯禁戒,唯行惡法。』若如是

T 0445c12

說,為真說耶?」

答曰:「非也。瞿曇。所以者何?拘

T 0445c13

麗瘦卒見異、欲異,所願亦異,拘麗瘦卒極犯

T 0445c14

禁戒,唯行惡法;我極持戒,不行惡法。」

復問:

T 0445c15

「伽彌尼!汝知拘麗瘦卒極犯禁戒,唯行惡

T 0445c16

法,然不以此為犯禁戒,唯行惡法;如來

T 0445c17

何以不得知幻而自非幻?所以者何?我知

T 0445c18

幻,知幻人,知幻報,知斷幻。伽彌尼!我亦知

T 0445c19

殺生,知殺生人,知殺生報,知斷殺生。伽

T 0445c20

彌尼!我知不與取,知不與取人,知不與取

T 0445c21

報,知斷不與取。伽彌尼!我知妄言,知妄言

T 0445c22

人,知妄言報,知斷妄言。伽彌尼!我如是知、

T 0445c23

如是見。若有作是說,沙門瞿曇知幻即是

T 0445c24

幻者,彼未斷此語,聞彼心、彼欲、彼願、彼聞、

T 0445c25

彼念、彼觀,如屈伸臂頃,命終生地獄中。」

T 0445c26

羅牢伽彌尼聞已,怖懼戰慄,身毛皆竪,即從

T 0445c27

坐起,頭面禮足,長跪叉手,白世尊曰:「悔

T 0445c28

過,瞿曇!自昔,善逝!如愚、如癡、如不定、如

T 0445c29

不善。所以者何?我以妄說沙門瞿曇是幻,

T 0446a01

唯願瞿曇受我悔過,見罪發露,我悔過已,

T 0446a02

護不更作。」

世尊告曰:「如是,伽彌尼!汝實如

T 0446a03

愚、如癡、如不定、如不善。所以者何?謂汝於

T 0446a04

如來、無所著、等正覺妄說是幻。然汝能悔過,

T 0446a05

見罪發露,護不更作。如是,伽彌尼!若有悔

T 0446a06

過,見罪發露,護不更作者,則長養聖法而

T 0446a07

無有失。」

於是,波羅牢伽彌尼叉手向佛,白

T 0446a08

世尊曰:「瞿曇!有一沙門梵志如是見、如是

T 0446a09

說:『若有殺生者,彼一切即於現法受報,因

T 0446a10

彼生憂苦;若有不與取、妄言,彼一切即於

T 0446a11

現法受報,因彼生憂苦。』沙門瞿曇!於意云

T 0446a12

何?」

世尊告曰:「伽彌尼!我今問汝,隨所解答。

T 0446a13

伽彌尼!於意云何?若村邑中,或有一人,頭

T 0446a14

冠華鬘,雜香塗身,而作倡樂,歌舞自娛,唯

T 0446a15

作女妓,歡樂如王。若有問者:『此人本作何

T 0446a16

等,今頭冠華鬘,雜香塗身,而作倡樂,歌舞

T 0446a17

自娛,唯作女妓,歡樂如王?』或有答者:『此人

T 0446a18

為王殺害怨家,王歡喜已,即與賞賜,是以

T 0446a19

此人頭冠華鬘,雜香塗身,而作倡樂,歌舞自

T 0446a20

娛,唯作女妓,歡樂如王。』伽彌尼!汝如是見、

T 0446a21

如是聞不?」

答曰:「見也。瞿曇!已聞、當聞。」

「伽彌

T 0446a22

尼!又復見王收捕罪人,反縛兩手,打鼓唱

T 0446a23

令,出南城門,坐高標下而梟其首。若有

T 0446a24

問者:『此人何罪,為王所戮?』或有答者:『此人

T 0446a25

枉殺王家無過之人,是以王教如是行刑。』

T 0446a26

伽彌尼!汝如是見、如是聞不?」

答曰:「見也。瞿曇!

T 0446a27

已聞、當聞。」

「伽彌尼!若有沙門、梵志如是見、

T 0446a28

如是說:『若有殺生,彼一切即於現法受報,

T 0446a29

因彼生憂苦。』彼為真說,為虛妄言?」

答曰:「妄

T 0446b01

言。瞿曇!」

「若彼說妄言,汝意信不?」

答曰:「不信

T 0446b02

也。瞿曇!」

世尊歎曰:「善哉!善哉!伽彌尼!」復問:「伽

T 0446b03

彌尼!於意云何?若村邑中,或有一人,頭冠

T 0446b04

華鬘,雜香塗身,而作倡樂,歌舞自娛,唯作

T 0446b05

女妓,歡樂如王。若有問者:『此人本作何等,

T 0446b06

今頭冠華鬘,雜香塗身,而作倡樂,歌舞自娛,

T 0446b07

唯作女妓,歡樂如王?』或有答者:『此人於他

T 0446b08

國中而不與取,是以此人頭冠華鬘,雜香塗

T 0446b09

身,而作倡樂,歌舞自娛,唯作女妓,歡樂如

T 0446b10

王。』伽彌尼!汝如是見、如是聞不?」

答曰:「見也。

T 0446b11

瞿曇!已聞、當聞。」

「伽彌尼!又復見王收捕罪

T 0446b12

人,反縛兩手,打鼓唱令,出南城門,坐高標

T 0446b13

下而梟其首。若有問者:『此人何罪,為王所

T 0446b14

戮?』或有答者:『此人於王國而不與取,是以

T 0446b15

王教如是行刑。』伽彌尼!汝如是見、如是聞

T 0446b16

不?」

答曰:「見也。瞿曇!已聞、當聞。」

「伽彌尼!若有

T 0446b17

沙門、梵志如是見、如是說:『若有不與取,彼

T 0446b18

一切即於現法受報,因彼生憂苦。』彼為真

T 0446b19

說,為虛妄言?」

答曰:「妄言。瞿曇!」

「若彼說妄言,

T 0446b20

汝意信不?」

答曰:「不信也。瞿曇!」

世尊歎曰:「善

T 0446b21

哉!善哉!伽彌尼!」復問:「伽彌尼!於意云何?若

T 0446b22

村邑中,或有一人,頭冠華鬘,雜香塗身,而作

T 0446b23

倡樂,歌舞自娛,唯作女妓,歡樂如王。若有

T 0446b24

問者:『此人本作何等,今頭冠華鬘,雜香塗

T 0446b25

身,而作倡樂,歌舞自娛,唯作女妓,歡樂如

T 0446b26

王?』或有答者:『此人作妓,能戲調笑,彼以妄

T 0446b27

言令王歡喜,王歡喜已,即與賞賜,是以此

T 0446b28

人頭冠華鬘,雜香塗身,而作倡樂,歌舞自

T 0446b29

娛,唯作女妓,歡樂如王。』伽彌尼!汝如是見、

T 0446c01

如是聞不?」

答曰:「見也。瞿曇!已聞、當聞。」

「伽彌

T 0446c02

尼!又復見王收捕罪人,用棒打殺,盛以木

T 0446c03

檻,露車載之,出北城門,棄著壍中。若有問

T 0446c04

者:『此人何罪,為王所殺?』或有答者:『此人在

T 0446c05

王前妄有所證,彼以妄言欺誑於王,是以

T 0446c06

王教取作如是。』伽彌尼!汝如是見、如是聞

T 0446c07

不?」

答曰:「見也。瞿曇!已聞、當聞。」

「伽彌尼!於意

T 0446c08

云何?若有沙門、梵志如是見、如是說:『若有

T 0446c09

妄言,彼一切即於現法受報,因彼生憂苦。』

T 0446c10

彼為真說,為虛妄言?」

答曰:「妄言。瞿曇!」

「若彼

T 0446c11

說妄言,汝意信不?」

答曰:「不信也。瞿曇!」

世尊

T 0446c12

歎曰:「善哉!善哉!伽彌尼!」

於是,波羅牢伽彌尼

T 0446c13

即從坐起,偏袒著衣,叉手向佛,白世尊

T 0446c14

曰:「甚奇!瞿曇所說極妙,善喻善證。瞿曇!我

T 0446c15

於北村中造作高堂,敷設床褥,安立水

T 0446c16

器,然大明燈,若有精進沙門、梵志來宿高

T 0446c17

堂,我隨其力,供給所須。有四論士,所見各

T 0446c18

異,更相違反,來集高堂。於中論士如是見、如

T 0446c19

是說,無施無齋,無有呪說,無善惡業,無

T 0446c20

善惡業報,無此世彼世,無父無母,世無真

T 0446c21

人往至善處,善去善向,此世彼世,自知自

T 0446c22

覺,自作證成就遊。

「第二論士而有正見,反第

T 0446c23

一論士所見、所知,如是見、如是說,有施有

T 0446c24

齋,亦有呪說,有善惡業,有善惡業報,有此

T 0446c25

世彼世,有父有母,世有真人往至善處,善

T 0446c26

去善向,此世彼世,自知自覺,自作證成就遊。

T 0446c27

「第三論士如是見、如是說,自作、教作,自斷、

T 0446c28

教斷,自煮、教煮,愁煩憂慼,搥胸懊惱,啼哭

T 0446c29

愚癡,殺生、不與取、邪婬、妄言、飲酒,穿牆開藏,

T 0447a01

至他巷劫,害村壞邑,破城滅國;作如是

T 0447a02

者,為不作惡。又以鐵輪利如剃刀,彼於此

T 0447a03

地一切眾生,於一日中斫截斬剉,剝裂剬割,

T 0447a04

作一肉段,一分一積,因是無惡業,因是無

T 0447a05

惡業報。恒水南岸殺、斷、煮去,恒水北岸施與、

T 0447a06

作齋、呪說而來,因是無罪無福,因是無罪

T 0447a07

福報。施與、調御、守護、攝持、稱譽、饒益,惠施、愛

T 0447a08

言、利及等利,因是無福,因是無福報。

「第四

T 0447a09

論士而有正見,反第三論士所知、所見,如

T 0447a10

是見、如是說,自作、教作,自斷、教斷,自煮、教

T 0447a11

煮,愁煩憂慼,搥胸懊惱,啼哭愚癡,殺生、不與

T 0447a12

取、邪婬、妄言、飲酒,穿墻開藏,至他巷劫,害

T 0447a13

村壞邑,破城滅國;作如是者,實為作惡。又

T 0447a14

以鐵輪利如剃刀,彼於此地一切眾生,於

T 0447a15

一日中斫截斬剉,剝裂剬割,作一肉段,一

T 0447a16

分一積,因是有惡業,因是有惡業報。恒水

T 0447a17

南岸殺、斷、煮去,恒水北岸施與、作齋、呪說而

T 0447a18

來,因是有罪有福,因是有罪福報。施與、調

T 0447a19

御、守護、攝持、稱譽、饒益,惠施、愛言、利及等利,

T 0447a20

因是有福,因是有福報。瞿曇!我聞是已,

T 0447a21

便生疑惑:此沙門、梵志,誰說真實,誰說虛

T 0447a22

妄?」

世尊告

:「伽彌尼!汝莫生疑惑。所以者

T 0447a23

何?因有疑惑便生猶豫。伽彌尼!汝自無淨

T 0447a24

智,為有後世,為無後世?伽彌尼!汝又無

T 0447a25

淨智,所作為惡,所作為善?伽彌尼!有法之

T 0447a26

定,名曰遠離,汝因此定,可得正念,可得

T 0447a27

一心。如是,汝於現法便斷疑惑,而得昇進。」

T 0447a28

於是,波羅牢伽彌尼復從坐起,偏袒著衣,

T 0447a29

叉手向佛,白世尊曰:「瞿曇!云何法定,名曰

T 0447b01

遠離,令我因此可得正念,可得一心,如

T 0447b02

是我於現法便斷疑惑,而得昇進?」

世尊告

T 0447b03

曰:「伽彌尼!多聞聖弟子離殺斷殺,斷不與

T 0447b04

取、邪婬、妄言,至斷邪見,得正見,彼於晝日

T 0447b05

教田作耕稼,至暮放息,入室坐定,過夜

T 0447b06

曉時而作是念:『我離殺斷殺,斷不與取、邪

T 0447b07

婬、妄言,至斷邪見,得正見。』彼便自見,我

T 0447b08

斷十惡業道,念十善業道。彼自見斷十惡

T 0447b09

業道,念十善業道已,便生歡悅,生歡悅已,

T 0447b10

便生於喜,生於喜已,便止息身,止息身已,

T 0447b11

便身覺樂,身覺樂已,便得一心。伽彌尼!多

T 0447b12

聞聖弟子得一心已,則心與慈俱,遍滿一

T 0447b13

方成就遊。如是,二三四方、四維上下,普周一

T 0447b14

切,心與慈俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚

T 0447b15

大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。彼作

T 0447b16

是念:『若有沙門、梵志如是見、如是說,無施

T 0447b17

無齋,無有呪說,無善惡業,無善惡業報,

T 0447b18

無此世彼世,無父無母,世無真人往至善

T 0447b19

處,善去善向,此世彼世,自知自覺,自作證成

T 0447b20

就遊。若彼沙門、梵志所說真實者,我不犯

T 0447b21

世怖與不怖,常當慈愍一切世間,我心不

T 0447b22

與眾生共諍,無濁歡悅。我今得無上人上

T 0447b23

之法,昇進得安樂居,謂遠離法定。彼沙門、梵

T 0447b24

志所說,不是不非。』不是不非已,得內心止。

T 0447b25

伽彌尼!是謂法定,名曰遠離,汝因此定,可

T 0447b26

得正念,可得一心,如是汝於現法便斷

T 0447b27

疑惑,而得昇進。

「復次,伽彌尼!多聞聖弟子

T 0447b28

離殺斷殺,斷不與取、邪婬、妄言,至斷邪見,

T 0447b29

得正見,彼於晝日教田作耕稼,至暮放息,

T 0447c01

入室坐定,過夜曉時而作是念:『我離殺斷

T 0447c02

殺,斷不與取、邪婬、妄言,至斷邪見,得正見。』

T 0447c03

彼便自見,我斷十惡業道,念十善業道。彼

T 0447c04

自見斷十惡業道,念十善業道已,便生歡

T 0447c05

悅,生歡悅已,便生於喜,生於喜已,便止息

T 0447c06

身,止息身已,便身覺樂,身覺樂已,便得一

T 0447c07

心。伽彌尼!多聞聖弟子得一心已,則心與

T 0447c08

悲俱,遍滿一方成就遊。如是,二三四方、四維

T 0447c09

上下,普周一切,心與悲俱,無結無怨,無恚

T 0447c10

無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間

T 0447c11

成就遊。彼作是念:『若沙門、梵志如是見、

T 0447c12

如是說,有施有齋,亦有呪說,有善惡業,

T 0447c13

有善惡業報,有此世彼世,有父有母,世有

T 0447c14

真人往至善處,善去善向,此世彼世,自知

T 0447c15

自覺,自作證成就遊。若彼沙門、梵志所說真

T 0447c16

實者,我不犯世怖與不怖,常當慈愍一切

T 0447c17

世間,我心不與眾生共諍,無濁歡悅。我得

T 0447c18

無上人上之法,昇進得安樂居,謂遠離法

T 0447c19

定。彼沙門、梵志所說不是不非。』不是不非

T 0447c20

已,得內心止。伽彌尼!是謂法定,名曰遠離,

T 0447c21

汝因此定,可得正念,可得一心,如是於

T 0447c22

現法便斷疑惑,而得昇進。

「復次,伽彌尼!多

T 0447c23

聞聖弟子離殺斷殺,斷不與取、邪婬、妄言,

T 0447c24

至斷邪見,得正見,彼於晝日教田作耕

T 0447c25

稼,至暮放息,入室坐定,過夜曉時而作是

T 0447c26

念:『我離殺斷殺,斷不與取、邪婬、妄言,至斷

T 0447c27

邪見,得正見。』彼便自見,我斷十惡業道,念

T 0447c28

十善業道。彼自見斷十惡業道,念十善業

T 0447c29

道已,便生歡悅,生歡悅已,便生於喜,生於

T 0448a01

喜已,便止息身,止息身已,便身覺樂,身覺

T 0448a02

樂已,便得一心。伽彌尼!多聞聖弟子得一

T 0448a03

心已,則心與喜俱,遍滿一方成就遊。如是,

T 0448a04

二三四方、四維上下,普周一切,心與喜俱,無

T 0448a05

結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍

T 0448a06

滿一切世間成就遊。彼作是念:『若有沙門、

T 0448a07

梵志如是見、如是說,自作、教作,自斷、教斷,

T 0448a08

自煮、教煮,愁煩憂慼,搥胷懊惱,啼哭愚癡,

T 0448a09

殺生、不與取、邪婬、妄言、飲酒,穿墻開藏,至他

T 0448a10

巷劫,害村壞邑,破城滅國;作如是者,實

T 0448a11

為不作惡。又以鐵輪利如剃刀,彼於此地

T 0448a12

一切眾生,於一日中斫截斬剉,剝裂剬割,作

T 0448a13

一肉段,一分一積,因是無惡業,因是無惡

T 0448a14

業報。恒水南岸殺、斷、煮去,恒水北岸施與、作

T 0448a15

齋、呪說而來,因是無罪無福,因是無罪福

T 0448a16

報。施與、調御、守護、攝持、稱譽、饒益,惠施、愛言、

T 0448a17

利及等利,因是無福,因是無福報。若沙門、

T 0448a18

梵志所說真實者,我不犯世怖與不怖,常

T 0448a19

當慈愍一切世間,我心不與眾生共諍,無

T 0448a20

濁歡悅。我今得無上人上之法,昇進得安

T 0448a21

樂居,謂遠離法定。』彼於沙門、梵志所說不

T 0448a22

是不非,不是不非已,內得心止。伽彌尼!是

T 0448a23

謂法定,名曰遠離,汝因此定,可得正念,可

T 0448a24

得一心,如是汝於現法便斷疑惑,而得

T 0448a25

昇進。

「復次,伽彌尼!多聞聖弟子離殺斷殺,

T 0448a26

斷不與取、邪婬、妄言,至斷邪見,得正見,彼

T 0448a27

於晝日教田作耕稼,至暮放息,入室坐定,

T 0448a28

過夜曉時而作是念:『我離殺斷殺,斷不與

T 0448a29

取、邪婬、妄言,至斷邪見,得正見。』彼便自見,

T 0448b01

我斷十惡業道,念十善業道。彼自見斷十

T 0448b02

惡業道,念十善業道已,便生歡悅,生歡悅

T 0448b03

已,便生於喜,生於喜已,便止息身,止息身

T 0448b04

已,便身覺樂,身覺樂已,便得一心。伽彌尼!

T 0448b05

多聞聖弟子得一心已,則心與捨俱,遍滿

T 0448b06

一方成就遊。如是,二三四方、四維上下,普周

T 0448b07

一切,心與捨俱,無結無怨,無恚無諍,極廣

T 0448b08

甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。彼

T 0448b09

作是念:『若有沙門、梵志如是見、如是說,自

T 0448b10

作、教作,自斷、教斷,自煮、教煮,愁煩憂慼,搥

T 0448b11

胸懊惱,啼哭愚癡,殺生、不與取、邪婬、妄言、飲

T 0448b12

酒,穿墻開藏,至他巷劫,害村壞邑,破城

T 0448b13

滅國;作如是者,實為作惡。又以鐵輪利如

T 0448b14

剃刀,彼於此地一切眾生,於一日中斫截

T 0448b15

斬剉,剝裂剬割,作一肉段,一分一積,因是

T 0448b16

有惡業,因是有惡業報,恒水南岸殺、斷、煮

T 0448b17

去,恒水北岸施與、作齋、呪說而求,因是有

T 0448b18

罪有福,因是有罪福報。施與、調御、守護、攝

T 0448b19

持、稱譽、饒益,惠施、愛言、利及等利,因是有

T 0448b20

福,因是有福報。若沙門、梵志所說真實者,

T 0448b21

我不犯世怖與不怖,常當慈愍一切世間,

T 0448b22

我心不與眾生共諍,無濁歡悅,我得無上

T 0448b23

人上之法,昇進得樂居,謂遠離法定。』彼

T 0448b24

於沙門、梵志所說不是不非,不是不非已,

T 0448b25

得內心止。伽彌尼!是謂法定,名曰遠離,汝

T 0448b26

因此定,可得正念,可得一心,如是於現

T 0448b27

法便斷疑惑,而得昇進。」

說此法時,波羅牢

T 0448b28

伽彌尼遠塵離垢,諸法淨眼生。於是,波羅

T 0448b29

牢伽彌尼見法、得法,覺白淨法,斷疑度惑,

T 0448c01

更無餘尊,不復從他,無有猶豫,已住果

T 0448c02

證,於世尊法得無所畏。即從坐起,稽首

T 0448c03

佛足,白曰:「世尊!我今自歸佛、法及比丘眾,

T 0448c04

唯願世尊受我為優婆塞,從今日始,終身

T 0448c05

自歸,乃至命盡。」

佛說如是。波羅牢伽彌尼及

T 0448c06

諸比丘,聞佛所說,歡喜奉行。

T 0448c07

波羅牢經第十竟

(四千八百)

T 0448c08

中阿含經卷第四

(一萬八百十三字)

T 0448c09

中阿含業相應品第二竟

(二萬一千六十字)

(初一日

T 0448c10

誦)

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc