Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tại nước Ma-kiệt-đà, trong một cái hang trong rừng Mãng nại, thôn Xà-đấu.
Bấy giờ Tôn giả Di-hê làm thị giả Phật.
Vào buổi sáng sớm, Tôn giả Di-hê mang y cầm bát vào thôn Xà-đấu khất thực. Khất thực xong, Tôn giả Di-hê đến bờ sông Kim-tì, thấy một khu đất bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái. Nước sông Kim-tì rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ chịu. Thấy xong, Tôn giả hoan hỷ, thầm nghĩ: “Khu đất này bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái. Nước sông Kim-tì rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ chịu. Nếu thiện gia nam tử nào muốn tu pháp đoạn trừ thì nên ở chỗ này. Ta cũng có điều phải đoạn trừ, có nên ở chỗ yên tĩnh này để tu pháp đoạn trừ chăng?”
Liền đó, sau khi ăn xong, Di-hê thu xếp y bát, rửa tay chân, vắt ni-sư-đàn lên vai, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một bên mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, sáng sớm hôm nay con mang y cầm bát vào thôn Xà-đấu khất thực. Khất thực xong, con đến bờ sông Kim-tì, thấy một khu đất bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái. Nước sông Kim-tì rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ chịu. Thấy xong, con hoan hỷ, thầm nghĩ: ‘Khu đất này bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái. Nước sông Kim-tì rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ chịu. Nếu thiện gia nam tử nào muốn tu pháp đoạn trừ thì nên ở chỗ này. Ta cũng có điều phải đoạn trừ, có nên ở chỗ yên tĩnh này để tu pháp đoạn trừ chăng?’ Bạch Thế Tôn, nay con muốn đến chỗ yên tĩnh, khu rừng xoài kia, để học pháp đoạn trừ”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này Di-hê, ngươi nay có biết chăng? Ta một mình không có ai, không có thị giả. Ngươi có thể ở lại ít lâu, đợi có Tỳ-kheo khác đến làm thị giả cho Ta rồi ngươi có thể đến chỗ yên tĩnh khu rừng xoài kia mà học pháp đoạn trừ”.
Tôn giả Di-hê lặp lại ba lần bạch:
“Bạch Thế Tôn, nay con muốn đến chỗ yên tĩnh, khu rừng xoài kia, để học pháp đoạn trừ”.
Đức Thế Tôn cũng ba lần nói rằng:
“Này Di-hê, ngươi nay có biết chăng? Ta một mình không có ai, không có thị giả. Ngươi có thể ở lại ít lâu, đợi có Tỳ-kheo khác đến làm thị giả cho Ta rồi ngươi có thể đến chỗ yên tĩnh khu rừng xoài kia mà học pháp đoạn trừ”.
Di-hê lại bạch rằng:
“Thế Tôn không có việc cần làm, không có phận sự cần hoàn tất, không có điều gì cần phải quán sát Con còn có những bổn phận, những điều phải làm, những điều phải quán sát. Bạch Thế Tôn, con đến chỗ yên tĩnh, khu rừng xoài kia, để học pháp đoạn trừ”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Di-hê, ngươi mong cầu sự đoạn trừ, Ta có gì để nói thêm nữa? Di-hê, ngươi cứ đi, làm theo những gì mà ngươi muốn”.
Bấy giờ Di-hê sau khi nghe lời Đức Phật dạy, khéo lãnh thọ, khéo ghi nhớ và khéo tụng tập. Tôn giả liền đảnh lễ sát chân Đức Phật, đi quanh ba vòng, rồi đi.
Sau khi đến rừng xoài, vào rừng, Tôn giả đi đến một gốc cây, trải ni-sư-đàn mà ngồi kết già. Tôn giả Di-hê sống trong rừng xoài, sanh khởi lên ba tâm niệm ác bất thiện là tâm niệm dục, tâm niệm nhuế và tâm niệm hại. Do đó, Tôn giả liền nghĩ đến Đức Thế Tôn.
Bấy giờ vào lúc xế chiều, Tôn giả từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đến trước Đức Thế Tôn, đảnh lễ chân Ngài, ngồi sang một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con đến rừng xoài kia, ngồi ở chỗ yên tĩnh, liền sanh khởi ba tâm niệm ác bất thiện là tâm niệm dục, tâm niệm nhuế và tâm niệm hại. Do đó, con liền nghĩ đến Thế Tôn”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Di-hê, tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục, có năm pháp để tu tập. Những gì là năm?
“Di-hê, Tỳ-kheo tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức. Này Di-hê, với ai tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ nhất.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo phải tu tập cấm giới, thủ hộ Biệt giải thoát, lại phải khéo thâu nhiếp oai nghi lễ tiết, thấy tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới. Này Di-hê, với tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ hai.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo nên nói điều đáng nói, phù hợp nghĩa của bậc Thánh, khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm không bị che lấp, tức là nói về giới, nói về định, nói về tuệ, nói về giải thoát, nói về giải thoát tri kiến, nói về sự tổn giảm lần lần, nói về việc không ưa tụ họp, nói về thiểu dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn trừ, nói về vô dục, nói về pháp diệt, nói về tĩnh tọa, nói về duyên khởi. Có được những điều được nói như vậy của Sa-môn, được trọn đủ, dễ được chứ không khó. Này Di-hê, với ai tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ ba.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo thường tu hành tinh tấn, đoạn trừ pháp ác bất thiện, tu các pháp thiện, hằng tự sách tấn, chuyên nhất kiên cố; vì mục đích tìm cầu gốc rễ thiện mà không xả bỏ phương tiện. Này Di-hê, với ai tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ tư.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo tu hành về trí tuệ, quán sát sự hưng thịnh và suy vi của các pháp; chứng trí như vậy, bằng Thánh tuệ minh đạt, phân biệt thấu hiểu, mà chân chánh diệt tận khổ đau. Này Di-hê, với ai tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ năm.
“Vị ấy khi đã có năm pháp tu tập như vậy rồi, lại phải tu bốn pháp khác nữa. Những gì là bốn? Tu ố lộ để đoạn trừ dục. Tu từ để đoạn trừ sân nhuế. Tu sổ tức để đoạn trừ tâm niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ ngã mạn.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết vị ấy chắc chắn tu tập cấm giới, thủ hộ Biệt giải thoát, lại khéo thâu nhiếp các oai nghi, lễ tiết, thấy tội nhỏ cũng sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết, vị ấy nói điều đáng nói, đúng theo nghĩa của bậc Thánh, khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm chẳng bị ngăn che, tức là nói về giới, nói về định, nói về tuệ, nói về giải thoát, nói về giải thoát tri kiến, nói về sự tổn giảm dần dần, nói về việc không ưa tụ họp, nói về thiểu dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn, nói về pháp diệt, nói về vô dục, nói về tĩnh tọa, nói về duyên khởi. Có được những điều được nói như vậy của Sa-môn, được trọn đủ, dễ được chứ không khó.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết rằng, vị ấy chắc chắn thường tu hành tinh tấn, đoạn các pháp ác bất thiện, thường khởi tâm chuyên nhất kiên cố, vì mục đích tìm cầu gốc rễ thiện mà không xả bỏ phương tiện.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết rằng, vị ấy chắc chắn tu hành về trí tuệ, quán sát sự hưng thịnh và suy vi của các pháp; chứng trí như vậy, bằng Thánh tuệ minh đạt, phân biệt thấu hiểu, mà chân chánh diệt tận khổ đau.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết rằng, vị ấy chắc chắn tu ố lộ để đoạn trừ dục. Tu từ để đoạn trừ sân nhuế. Tu sổ tức để đoạn trừ tâm niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ ngã mạn.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào đắc vô thường tưởng, chắc chắn đắc vô ngã tưởng.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào đắc vô ngã tưởng thì ngay trong đời hiện tại đoạn hết thảy ngã mạn, chứng đắc tịch tĩnh, diệt tận, vô vi, Niết-bàn”.
Phật thuyết như vậy. Tôn giả Di-hê và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
T 0491a16
我聞如是:
一時,佛遊摩竭陀國,在闍鬪村
T 0491a17
莽
[木*奈]
林窟。
爾時,尊者彌醯為奉侍者。於是,
T 0491a18
尊者彌醯過夜平旦,著衣持鉢,入闍鬪村而
T 0491a19
行乞食。乞食已竟,往至金鞞河邊,見地平
T 0491a20
正,名好
[木*奈]
林,金鞞河水極妙可樂,清泉徐
T 0491a21
流,冷暖和適,見已歡喜,便作是念:「此地平正,
T 0491a22
名好
[木*奈]
林,金鞞河水極妙可樂,清泉徐流,冷
T 0491a23
暖和適,若族姓子欲學斷者,當於此處,我
T 0491a24
亦有所斷,寧可在此靜處學斷耶?」
於是,彌
T 0491a25
醯食訖,中後舉衣鉢已,澡洗手足,以尼師
T 0491a26
檀著於肩上,往詣佛所,稽首禮足,却住
T 0491a27
一面,白曰:「世尊!我今平旦著衣持鉢,入闍
T 0491a28
鬪村而行乞食。乞食已竟,往至金鞞河邊,
T 0491a29
見地平正,名好
[木*奈]
林,金鞞河水極妙可樂,
T 0491b01
清泉徐流,冷暖和適,我見喜已,便作是念:『此
T 0491b02
地平正,名好
[木*奈]
林,金鞞河水極妙可樂,清泉
T 0491b03
徐流,冷暖和適,若族姓子欲學斷者,當於
T 0491b04
此處,我亦有所斷,寧可在此靜處學斷耶?』
T 0491b05
世尊!我今欲往至彼
[木*奈]
林靜處學斷。」
爾時,
T 0491b06
世尊告曰:「彌醯!汝今知不?我獨無人,無有
T 0491b07
侍者,汝可小住,須比丘來為吾侍者,汝便
T 0491b08
可去,至彼
[木*奈]
林靜處而學。」
尊者彌醯乃至
T 0491b09
再三白曰:「世尊!我今欲往至彼
[木*奈]
林靜處
T 0491b10
學斷。」
世尊亦復再三告曰:「彌醯!汝今知不?我
T 0491b11
獨無人,無有侍者,汝可小住,須比丘來為
T 0491b12
吾侍者,汝便可去,至彼
[木*奈]
林靜處而學。」
彌
T 0491b13
醯復白曰:「世尊無為無作,亦無所觀。世尊!
T 0491b14
我有為有作而有所觀。世尊!我至彼
[木*奈]
林靜
T 0491b15
處學斷。」
世尊告曰:「彌醯!汝欲求斷者,我復
T 0491b16
何言?彌醯!汝去,隨意所欲。」於是,尊者彌醯聞
T 0491b17
佛所說,善受善持而善誦習,即禮佛足,繞三
T 0491b18
匝而去,詣彼
[木*奈]
林。入林中已,至一樹下,敷
T 0491b19
尼師檀,結加趺坐。
尊者彌醯住
[木*奈]
林中便
T 0491b20
生三惡不善之念,欲念、恚念及與害念,彼由
T 0491b21
此故便念世尊。於是,彌醯則於晡時從
T 0491b22
燕坐起,往詣佛所,稽首禮足,却住一面,
T 0491b23
白曰:「世尊!我至
[木*奈]
林,於靜處坐便生三惡
T 0491b24
不善之念,欲念、恚念及與害念,我由此故便
T 0491b25
念世尊。」
世尊告曰:「彌醯!心解脫未熟,欲令
T 0491b26
熟者有五習法。云何為五?彌醯!比丘者自善
T 0491b27
知識與善知識俱,善知識共和合。彌醯!心
T 0491b28
解脫未熟,欲令熟者,是謂第一習法。復次,彌
T 0491b29
醯!比丘者,修習禁戒,守護從解脫,又復善攝
T 0491c01
威儀禮節,見纖芥罪,常懷畏怖,受持學戒。
T 0491c02
彌醯!心解脫未熟,欲令熟者,是謂第二習
T 0491c03
法。復次,彌醯!比丘者,謂所可說聖有義,令
T 0491c04
心柔軟,使心無蓋,謂說戒、說定、說慧、說解
T 0491c05
脫、說解脫知見、說漸損、說不樂聚會、說少
T 0491c06
欲、說知足、說斷、說無欲、說滅、說燕坐、說
T 0491c07
緣起,得如是比沙門所說,具得易,不難得。
T 0491c08
彌醯!心解脫未熟,欲令熟者,是謂第三習
T 0491c09
法。復次,彌醯!比丘者,常行精進,斷惡不善,
T 0491c10
修諸善法,恒自起意,專一堅固,為諸善本,不
T 0491c11
捨方便。彌醯!心解脫未熟,欲令熟者,是謂
T 0491c12
第四習法。復次,彌醯!比丘者,修行智慧,觀
T 0491c13
興衰法,得如是智,聖慧明達,分別曉了,以正
T 0491c14
盡苦。彌醯!心解脫未熟,欲令熟者,是謂第
T 0491c15
五習法。
「彼有此五習法已,復修四法。云何
T 0491c16
為四?修惡露,令斷欲;修慈,令斷恚;修息
T 0491c17
出息入,令斷亂念;修無常想,令斷我慢。
T 0491c18
彌醯!若比丘自善知識與善知識俱,善知識
T 0491c19
共和合,當知必修習禁戒,守護從解脫,又
T 0491c20
復善攝威儀禮節,見纖芥罪,常懷畏怖,受
T 0491c21
持學戒。彌醯!若比丘自善知識與善知識俱,
T 0491c22
善知識共和合,當知必得所可說聖有義,
T 0491c23
令心柔軟,使心無蓋,謂說戒、說定、說慧、
T 0491c24
說解脫、說解脫知見、說漸損、說不樂聚會、
T 0491c25
說少欲、說知足、說斷、說無欲、說滅、說燕
T 0491c26
坐、說緣起,得如是比沙門所說,具得易,不
T 0491c27
難得。
「彌醯!若比丘自善知識與善知識俱,
T 0491c28
善知識共和合,當知必行精進,斷惡不善,
T 0491c29
修諸善法,恒自起意,專一堅固,為諸善本,
T 0492a01
不捨方便。彌醯!若比丘自善知識與善知
T 0492a02
識俱,善知識共和合,當知必行智慧,觀興
T 0492a03
衰法,得如此智,聖慧明達,分別曉了,以正
T 0492a04
盡苦。彌醯!若比丘自善知識與善知識俱,
T 0492a05
善知識共和合,當知必修惡露,令斷欲;
T 0492a06
修慈,令斷恚;修息出息入,令斷亂念;修
T 0492a07
無常想,令斷我慢。彌醯!若比丘得無常想
T 0492a08
者,必得無我想。彌醯!若比丘得無我想者,
T 0492a09
便於現法斷一切我慢,得息、滅、盡、無為、涅
T 0492a10
槃。」
佛說如是。尊者彌醯及諸比丘,聞佛所說,
T 0492a11
歡喜奉行。
T 0492a12
彌醯經第十五竟
(千三百二十三字)
T 0492a13