Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trú trong rừng Thắng Lâm Lâm, vườøn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sinh này lúc sinh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, thiện hoặc bất thiện, qua lại chỗ lành hoặc chỗ chẳng lành, tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật. Nếu chúng sinh nào thành tựu thân ác hành, khẩu, ý ác hành, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục. Còn nếu chúng sinh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Cũng như lúc mưa lớn, bọt nước sanh ra rồi diệt. Nếu ai có mắt đứng yên một nơi mà quán sát thấy bọt nước khi sinh, khi diệt. Ta cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sinh này lúc sinh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, thiện hoặc bất thiện, qua lại chỗ lành hoặc chỗ chẳng lành, tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật. Nếu chúng sinh nào thành tựu thân ác hành, khẩu, ý ác hành, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục. Còn nếu chúng sinh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Cũng như mưa lớn, giọt nước rơi xuống hoặc chỗ cao, hoặc ở chỗ thấp. Nếu ai có mắt, đứng yên một nơi mà quán sát nước thấy lúc giọt chỗ cao, lúc giọt chỗ thấp. Ta cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sinh này lúc sinh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, thiện hoặc bất thiện, qua lại chỗ lành hoặc chỗ chẳng lành, tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật. Nếu chúng sinh nào thành tựu thân ác hành, khẩu, ý ác hành, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục. Còn nếu chúng sinh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Cũng như ngọc lưu ly, thanh tịnh tự nhiên, sanh ra không có tỳ vết, cấu uế, tám góc khéo trau chuốt, được xâu qua bằng sợi dây đẹp hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc đen, trắng. Người nào có mắt, đứng yên một chỗ mà quán sát ngọc lưu ly này thấy nó thanh tịnh tự nhiên, sanh ra không có tỳ vết, cấu uế, tám góc khéo trau chuốt, được xâu qua bằng sợi dây đẹp hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, đen, trắng. Ta cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sinh này lúc sinh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, thiện hoặc bất thiện, qua lại chỗ lành hoặc chỗ chẳng lành, tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật. Nếu chúng sinh nào thành tựu thân ác hành, khẩu, ý ác hành, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục. Còn nếu chúng sinh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Cũng như hai nhà có chung cửa ngõ, nhiều người ra vào. Nếu ai có mắt, đứng yên một chỗ thì thấy người ra, kẻ vào. Ta cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sinh này lúc sinh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, thiện hoặc bất thiện, qua lại chỗ lành hoặc chỗ chẳng lành, tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật. Nếu chúng sinh nào thành tựu thân ác hành, khẩu, ý ác hành, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục. Còn nếu chúng sinh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Nếu ai có mắt, đứng yên trên lầu cao nhìn, thấy người dưới thấp qua lại, đổi thay đủ cách, ngồi, nằm, chạy, nhảy. Ta cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sinh này lúc sinh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, thiện hoặc bất thiện, qua lại chỗ lành hoặc chỗ chẳng lành, tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật. Nếu chúng sinh nào thành tựu thân ác hành, khẩu, ý ác hành, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục. Còn nếu chúng sinh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Nếu chúng sinh nào sinh ở nhân gian, không hiếu thảo với cha mẹ, không biết kính trọng Sa-môn, Bà-la-môn, không làm đúng như thật, không tạo phước nghiệp, không sợ tội đời sau, thì do nhân duyên ấy, khi thân hoại mạng chung, chúng sinh ấy sanh vào cảnh giới của Diêm vương. Người của Diêm vương bắt đưa đến chỗ vua và thưa rằng:
“—Tâu Thiên vương, chúng sinh này lúc còn làm người, không hiếu thảo cha mẹ, không biết kính trọng Sa-môn, Bà-la-môn, không làm đúng như thật, không tạo phước nghiệp, không sợ tội đời sau. Mong Thiên vương trừng phạt đúng theo tội trạng của nó.
“Bấy giờ, Thiên vương dẫn Thiên sứ thứ nhất ra mà tra hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách chúng sinh kia rằng:
“—Người có thấy Thiên sứ thứ nhất đến không?
“Chúng sinh đáp:
“—Tâu Thiên vương, không thấy.
“Diêm vương lại hỏi:
“—Ở trong một thôn ấp có hài nhi bé nhỏ hoặc nam hoặc nữ thân thể yếu đuối, nằm ngửa giữa phẩn và nước tiểu, không thể kêu cha mẹ; cha mẹ bồng khỏi chỗ bất tịnh, tắm rửa thân nó cho được sạch sẽ. Người có thấy cảnh tượng đó không?
“Chúng sinh ấy đáp:
“—Tâu Thiên vương, có thấy.
Diêm vương lại bảo:
“—Từ đó về sau, lúc ngươi đã hiểu biết, tại sao ngươi không nghĩ rằng: ‘Chính ta lệ thuộc sự sanh, không lìa khỏi sinh; ta nên làm nghiệp thiện với thân, khẩu và ý.’?
“Chúng sinh ấy hỏi:
“—Tâu Thiên vương, tôi là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát chăng?
“Diêm vương đáp:
“—Ngươi quả là kẻ bại hoại, suy vi lâu, vĩnh viễn mất mát. Nay ta sẽ tra khảo ngươi như trị kẻ phóng dật, sống phóng dật. Ác nghiệp của ngươi không phải do cha mẹ làm, không phải do vua, không phải do Trời, cũng không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm. Chính ngươi tự tạo nghiệp ác bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn ngươi phải thọ báo.
“Sau khi dẫn Thiên sứ thứ nhất này ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách xong, lại dẫn Thiên sứ thứ hai ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách chúng sinh kia rằng:
“—Người có thấy Thiên sứ thứ hai đến không?
“Chúng sinh kia đáp:
“—Tâu Thiên vương, không thấy.
“Diêm vương lại hỏi:
“—Trước kia ở trong một thôn ấp, ngươi há không thấy người đàn bà hoặc đàn ông, tuổi quá già nua, sức sống rũ liệt gần tàn, răng rụng, tóc bạc, lưng còm, chống gậy mà đi, thân thể run rẩy?
“Chúng sinh ấy đáp:
“—Tâu Thiên vương, có thấy.
“Diêm vương lại bảo:
“—Ngươi từ đó về sau, khi đã có hiểu biết, tại sao không nghĩ rằng: 'Chính ta lệ thuộc sự già, không lìa khỏi sự già; ta nên làm điều thiện về thân, khẩu, ý.’?
“Chúng sanh kia hỏi:
“—Tâu Thiên vương, tôi là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát chăng?
“Diêm vương đáp:
“—Ngươi quả là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát. Nay ta sẽ tra khảo ngươi như trị kẻ phóng dật, sống phóng dật. Ác nghiệp của ngươi không phải do cha mẹ làm, không phải do vua, không phải do trời, cũng không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm. Chính ngươi tự tạo nghiệp ác bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn ngươi phải thọ báo.
“Sau khi dẫn Thiên sứ thứ hai này ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách xong, lại dẫn Thiên sứ thứ ba ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách chúng sinh kia rằng:
“—Người có thấy Thiên sứ thứ ba đến không?
“Chúng sinh kia đáp:
“—Tâu Thiên vương, không thấy.
“Diêm vương lại hỏi:
“—Trước kia trong một thôn ấp, ngươi há không thấy người đàn ông hoặc đàn bà bệnh tật nguy khốn, hoặc nằm ngồi trên giường, hoặc nằm ngồi trên chõng, hoặc nằm ngồi dưới đất, thân thể rất đau đớn, đau đớn cùng cực, không thể ái niệm, mong sao rút ngắn mạng sống chăng?
“Chúng sanh ấy đáp:
“—Tâu Thiên vương, có thấy.
Diêm vương lại bảo:
“—Từ đó về sau, khi ngươi đã có hiểu biết, nhưng tại sao ngươi không nghĩ: ‘Chính ta lệ thuộc sự tật bệnh, không lìa khỏi bệnh. Ta nên làm điều thiện về thân, khẩu, ý.’?
“Chúng sanh ấy hỏi:
“—Tâu Thiên vương, tôi là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát chăng?
“Diêm vương đáp:
“—Ngươi quả là kẻ bại hoại, suy vi lâu, vĩnh viễn mất mát. Nay ta sẽ tra khảo ngươi như trị kẻ phóng dật, sống phóng dật. Ác nghiệp của ngươi không phải do cha mẹ làm, không phải do vua, không phải do trời, cũng không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm. Chính ngươi tự tạo nghiệp ác bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn ngươi phải thọ báo.
“Sau khi dẫn Thiên sứ thứ ba này ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách xong, lại dẫn Thiên sứ thứ tư ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách chúng sinh kia rằng:
“—Người có thấy Thiên sứ thứ tư đến không?
“Chúng sinh kia đáp:
“—Tâu Thiên vương, không thấy.
“Diêm vương lại hỏi:
“—Trước kia, trong một thôn ấp, ngươi có thấy người đàn ông hay đàn bà lúc chết rồi qua một hai ngày cho đến sáu bảy ngày bị quạ mổ, chó ăn, hoặc lửa đốt, hoặc chôn xuống đất, hoặc vữa nát tan?
Chúng sanh ấy đáp:
“—Tâu Thiên vương, có thấy.
“Diêm vương lại bảo:
“—Từ đó về sau, lúc ngươi đã có hiểu biết, tại sao ngươi không nghĩ: ‘Chính ta lệ thuộc sự chết, ta không lìa khỏi sự chết. Ta nên làm điều thiện về thân, khẩu, ý.’?
“Chúng sanh ấy hỏi:
“—Tâu Thiên vương, tôi là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát chăng?
“Diêm vương đáp:
“—Ngươi quả là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát. Nay ta sẽ tra khảo ngươi như trị kẻ phóng dật, sống phóng dật. Ác nghiệp của ngươi không phải do cha mẹ làm, không phải do vua, không phải do trời, cũng không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm. Chính ngươi tự tạo nghiệp ác bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn ngươi phải thọ báo.
“Sau khi dẫn Thiên sứ thứ tư này ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách xong, lại dẫn Thiên sứ thứ năm ra để hỏi kỹ, kiểm xét kỹ, khéo dạy, khéo quở trách chúng sinh kia rằng:
“—Người có thấy Thiên sứ thứ năm đến không?
“Chúng sinh kia đáp:
“—Tâu Thiên vương, không thấy.
“Diêm vương lại hỏi:
“—Ngươi trước đây không thấy chăng, người của vua tróc nã kẻ phạm tội, tra khảo, trừng trị đủ cách, như chặt tay, chặt chân, hoặc chặt cả tay chân; xẻo tai, xẻo mũi, hoặc xẻo cả mũi tai; hoặc thái hoặc cắt; nhổ râu, nhổ tóc, hoặc nhổ cả râu tóc; hoặc bỏ vào trong cũi, quấn trong vải mà đốt; hoặc dùng cát lấp kín, dùng cỏ quấn lại mà đốt; hoặc bỏ vào trong bụng con lừa bằng sắt, hoặc bỏ vào trong miệng con heo bằng sắt, hoặc đặt vào trong miệng cọp bằng sắt mà đốt; hoặc bỏ vào trong chảo bằng đồng, hoặc bỏ vào trong chảo bằng sắt mà nấu; hoặc chặt ra từng đoạn; hoặc dùng chĩa nhọn mà đâm, hoặc dùng móc mà móc; hoặc bắt nằm trên giường sắt mà dội nước sôi; hoặc cho người vào cối sắt, dùng chày sắt mà giã; hoặc cho rắn rít mổ; hoặc dùng roi da mà quất, hoặc dùng gậy mà đánh, hoặc dùng hèo mà phang; hoặc treo sống lên ngọn nêu cao, hoặc chặt đầu đem bêu?
“Chúng sanh ấy đáp:
“—Tâu Thiên vương, có thấy.
Diêm vương lại bảo:
“—Từ đó về sau, khi ngươi đã hiểu biết, tại sao không nghĩ: ‘Nay ta hiện thấy điều ác, bất thiện’?
“Chúng sanh ấy hỏi:
“—Tâu Thiên vương, tôi là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát chăng?
“Diêm vương đáp:
“—Ngươi quả là kẻ bại hoại, suy vi lâu dài, vĩnh viễn mất mát. Nay ta sẽ tra khảo ngươi như trị kẻ phóng dật, sống phóng dật. Ác nghiệp của ngươi không phải do cha mẹ làm, không phải do vua, không phải do trời, cũng không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm. Chính ngươi tự tạo nghiệp ác bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn ngươi phải thọ báo.
“Diêm vương đã dẫn Thiên sứ thứ năm này ra để khéo tra hỏi, khéo kiểm xét, khéo giáo hóa, khéo quở trách xong, liền giao phó chúng sanh ấy cho ngục tốt. Ngục tốt liền dẫn y giam vào trong đại địa ngục có bốn cửa.
“Ở đây có bài tụng rằng:
Bốn trụ, có bốn cửa,
Vách vuông mười hai góc,
Dùng sắt làm tường rào,
Ở trên đậy nắp sắt.
Trong ngục nền bằng sắt,
Hừng hực lửa sắt nung,
Suốt vô lượng do-tuần,
Cho đến tận đáy đất.
Cực ác không chịu nổi,
Sắc lửa khó nhìn vào,
Thấy rồi, lông dựng đứng,
Khủng khiếp, sợ, rất khổ.
Chúng sanh đọa địa ngục,
Chân treo, đầu chúc xuống,
Do phỉ báng Thánh nhân,
Điều ngự thiện, Thánh thiện.
“Một thời gian thật lâu xa về sau, trong bốn cửa của đại địa ngục, cửa phía Đông liền mở cho chúng sanh kia. Sau khi cửa mở, các chúng sanh ấy nhắm chạy đến, muốn tìm nơi an ổn, tìm chỗ nương tựa. Nếu khi các chúng sanh ấy tụ tập khoảng vô lượng trăm ngàn, thì cửa phương Đông của địa ngục liền tự đóng lại. Chúng sanh ở trong đó chịu đựng khổ đau cùng cực, khóc lóc kêu gào, sầu muộn, nằm lăn xuống đất, vẫn không thể chết được, cốt làm cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết. Một thời gian lâu xa nữa, cửa Nam, cửa Tây, cửa Bắc lại mở. Khi cửa Bắc đã mở, các chúng sanh kia liền nhắm chạy đến, muốn tìm nơi an ổn, tìm chỗ nương tựa. Các chúng sanh kia nếu khi tụ tập đến số vô lượng trăm ngàn, thì cửa Bắc của địa ngục tự nhiên đóng lại. Những chúng sanh ở trong đó chịu khổ đau cùng cực, khóc lóc, kêu gào, sầu muộn, nằm lăn xuống đất, vẫn không thể chết được, cốt làm cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, các chúng sanh kia ra khỏi đại địa ngục Bốn cửa. Tiếp theo đại địa ngục Bốn cửa, các chúng sanh ấy lại sanh vào đại địa ngục Phong nham, lửa đầy bên trong, không khói, không lửa ngọn, khiến các chúng sanh ấy đi trên lửa, qua lại khắp nơi, da thịt, máu huyết ở đôi bàn chân, bước xuống thì cháy sạch mà dở lên thì sanh lại như cũ. Địa ngục ấy hành hạ các chúng sanh ấy như vậy cho đến vô lượng trăm ngàn năm, chịu khổ đau cùng tột vẫn không chết được, cốt làm cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Một thời gian thật lâu xa về sau, các chúng sanh ấy ra khỏi địa ngục Phong nham. Tiếp theo địa ngục Phong nham, lại sanh vào đại địa ngục Phẩn thỉ, bên trong đầy dẫy phân, sâu đến vô lượng trăm trượng. Các chúng sanh kia đọa hết vào trong đó. Trong đại địa ngục Phẩn thỉ ấy có rất nhiều sâu. Sâu tên là Lăng-cù-lai, thân trắng đầu đen, mỏ nhọn như kim. Loại trùng này rúc rỉa, đục phá chân của chúng sanh kia; sau khi đục phá chân, lại đục phá xương đùi; sau khi đục phá xương đùi, lại đục phá xương bắp vế; sau khi phá xương bắp vế, lại đục phá xương bàn tọa; đục phá xương bàn tọa xong, lại đục phá xương sống; đục phá xương sống xong, lại đục phá xương vai, xương cổ, xương đầu; đục phá xương đầu xong, lại ăn sạch não. Các chúng sanh kia chịu bức bách vô lượng trăm ngàn năm như thế, chịu đau khổ cùng tột, vẫn không chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Một thời gian rất lâu về sau, các chúng sanh kia ra khỏi địa ngục Phẩn thỉ. Tiếp theo địa ngục Phẩn thỉ, lại sanh vào đại địa ngục Thiết diệp lâm. Các chúng sanh kia thấy rồi tưởng là mát mẻ, nghĩ rằng: ‘Chúng ta qua nơi khoái lạc ấy để được mát mẻ’. Các chúng sanh ấy nhắm chạy đến, muốn tìm nơi an ổn, muốn tìm chỗ nương tựa. Nếu tụ tập được vô lượng trăm ngàn, thì các chúng sanh ấy liền vào trong đại địa ngục rừng cây lá sắt. Trong đại địa ngục Thiết diệp lâm đó, bốn bề có gió nóng lớn thổi đến; gió nóng thổi đến thì lá cây bằng sắt rụng xuống. Lá sắt rụng cắt lìa tay, cắt lìa chân, hoặc cắt lìa cả tay chân; cắt lìa tai, cắt lìa mũi hoặc cắt lìa cả tai lẫn mũi và các bộ phận còn lại; cắt thân máu chảy vô lượng trăm ngàn năm, chịu khổ đau cùng tột, vẫn không chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết. Lại nữa, trong đại địa ngục Thiết diệp lâm ấy có chó rất lớn xuất hiện, răng dài thườn thượt, ngoạm cả chúng sanh kia, lột da từ chân đến đầu mà ăn. Các chúng sanh ấy chịu bức bách vô lượng trăm ngàn năm như thế, chịu khổ đau cùng tột vẫn không thể chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của chúng dứt sạch. Lại nữa, trong đại địa ngục Thiết diệp lâm ấy có con chim đen lớn, có hai đầu, mỏ sắt, đứng trên trán chúng sanh, mổ sống con mắt mà nuốt; mổ vỡ sọ lấy não mà ăn. Các chúng sanh ấy chịu bức bách như vậy suốt vô lượng trăm ngàn năm, chịu đau khổ cùng tột, cuối cùng vẫn không chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Sau một thời gian hết sức lâu dài, các chúng sanh ấy ra khỏi đại địa ngục Thiết diệp lâm. Tiếp theo đại địa ngục Thiết diệp lâm, các chúng sanh ấy lại sanh vào đại địa ngục Thiết kiếm thọ. Đại kiếm thọ cao một do-tuần, mũi nhọn dài một thước sáu, chúng sanh kia bị bắt trèo lên tuột xuống. Lúc mới từ dưới leo lên cây thì mũi nhọn chúc xuống; lúc trên cây tuột xuống thì mũi nhọn lại dựng lên; mũi nhọn của kiếm thọ đâm suốt thân chúng sanh, đâm tay, đâm chân hoặc đâm cả tay chân; đâm tai, đâm mũi, hoặc đâm cả tai mũi và các bộ phận khác nữa; đâm thân máu đổ suốt vô lượng trăm ngàn năm, chịu đau khổ cùng cực, rốt cuộc vẫn không chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Một thời gian lâu dài về sau, các chúng sanh ấy ra khỏi đại địa ngục Thiết kiếm thọ. Tiếp theo đại địa ngục Thiết kiếm thọ, các chúng sanh ấy lại sanh vào địa ngục Hôi hà, có hai bờ rất cao bao quanh tạo thành mũi nhọn. Trong sông có nước tro sôi và tối om. Các chúng sanh kia thấy rồi tưởng là nước mát, nghĩ rằng ‘sẽ có mát’. Sau khi tưởng như vậy, các chúng sanh ấy liền nghĩ: ‘Chúng ta đến đó tắm rửa, tha hồ uống no, được mát mẻ khoái lạc’. Các chúng sanh ấy tranh nhau chạy đến mà vào trong đó, muốn tìm nơi hoan lạc, tìm chỗ nương tựa. Nếu các chúng sanh ấy tụ tập chừng vô lượng trăm ngàn, thì liền rớt xuống sông tro. Sau khi rơi vào sông tro, có chúng sanh trôi ngược rồi lại trôi xuôi. Lúc các chúng sanh trôi xuôi, trôi ngược, trôi cả ngược xuôi thì da chín rã xuống, chỉ còn lại xương tủy. Hai bên bờ sông tro có lính địa ngục, tay cầm đao kiếm hoặc chĩa sắt lớn. Các chúng sanh ấy muốn leo lên bờ, tức thì lính ngục đẩy nhận xuống. Lại nữa, hai bên bờ sông tro có lính địa ngục tay cầm móc câu liệng xuống, móc chúng sanh từ sông tro lên bỏ vào nơi sắt nóng, lửa cháy hừng hực, móc chúng sanh ấy đưa lên rồi quật mạnh xuống đất. Rơi xuống, chúng sanh ấy đang quằn quại, bị cật vấn:
“—Ngươi từ đâu lại?
“Các chúng sanh ấy cùng đáp:
“—Chúng tôi không biết từ đâu đến, nhưng hiện giờ chúng tôi chỉ sợ đói lắm.
“Lính địa ngục ấy liền xách chúng sanh liệng lên giường sắt nóng, lửa cháy hừng hực, bắt ngồi trên đó, dùng kẹp sắt nóng kẹp vạch miệng ra, dùng hòn sắt nóng đang cháy hừng hực, bỏ vào. Hoàn sắt nóng ấy đốt cháy môi; cháy môi xong, đốt cháy lưỡi; cháy lưỡi xong, đốt lợi răng; lợi cháy xong, đốt cuống họng; cuống họng cháy xong, đốt tim; tim cháy xong, đốt ruột già; ruột già cháy xong, đốt dạ dày; dạ dày cháy xong hoàn sắt từ thân rơi xuống. Các chúng sanh ấy bị bức bách như vậy suốt vô lượng trăm ngàn năm, chịu khổ đau cùng cực, rốt cuộc không chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Lại nữa, lính địa ngục ấy hỏi chúng sanh:
“—Ngươi muốn đi đâu?
“Chúng sanh đáp:
“—Chúng tôi chẳng biết muốn đi đâu, chỉ sợ khát lắm.
“Ngục tốt liền xách chúng sanh ném lên giường sắt nóng đang cháy đỏ rực, bắt buộc ngồi trên đó, dùng kẹp sắt nóng, kẹp vạch miệng ra, lấy nước đồng sôi rót vào. Nước đồng sôi đó đốt môi, đốt môi rồi đốt lưỡi, đốt lưỡi rồi đốt lợi răng, đốt lợi răng rồi đốt cuống họng, đốt cuống họng rồi đốt tim, đốt tim rồi đốt ruột già, đốt ruột già rồi đốt ruột non, đốt ruột non rồi đốt dạ dày, đốt dạ dày rồi nước ấy từ thân chảy xuống. Các chúng sanh ấy chịu bức bách như vậy suốt vô lượng trăm ngàn năm, chịu khổ đau cùng tột, cuối cùng vẫn không chết được, để cho nghiệp ác bất thiện của các chúng sanh ấy sạch hết.
“Nếu nghiệp ác bất thiện mà những chúng sanh ở địa ngục kia không dứt sạch, không dứt sạch tất cả, không dứt sạch đến mức không còn lưu dư thì những chúng sanh ấy lại rơi vào đại địa ngục Sông tro, lại chịu cảnh trèo lên tuột xuống ở đại địa ngục Rừng cây kiếm sắt, lại vào đại địa ngục Rừng cây lá sắt, lại rớt xuống đại địa ngục Phẩn thỉ, lại qua đại địa ngục Phong nham, lại vào Bốn cửa đại địa ngục.
“Nếu nghiệp ác bất thiện của những chúng sanh kia dứt sạch, dứt sạch tất cả, dứt sạch đến mức không còn lưu dư, thì những chúng sanh ấy từ đó về sau hoặc đọa vào loài súc sanh, hoặc đọa vào loài ngạ quỷ, hoặc sanh vào cõi trời. Nếu lúc ấy chúng sanh đó vốn là người mà bất hiếu với cha mẹ, không biết tôn kính Sa-môn, Bà-la-môn, không làm đúng như thật, không tạo phước nghiệp, không sợ tội đời sau thì phải thọ khổ báo không khả ái, không khả niệm, không khả hỷ như vậy, giống như trong địa ngục kia. Nếu chúng sanh kia vốn là người mà hiếu thuận với cha mẹ, biết tôn kính Sa-môn, Bà-la-môn, làm đúng như thật, tạo nghiệp phước đức, sợ tội đời sau, thì được thọ lạc báu khả ái, khả niệm, khả hỷ như thế, giống như trong cung điện của thần Hư không.
“Thuở xưa, Diêm vương ở tại viên quán mà nguyện rằng: ‘Thân mạng này mất, ta được sanh vào loài người. Nếu có dòng họ nào giàu có tột cùng, của cải vô lượng, sản nghiệp chăn nuôi, không thể tính được, phong hộ thực ấp đầy đủ mọi thứ; dòng họ ấy là gì? Tức là Đại trưởng giả thuộc dòng Sát-lị, Đại trưởng giả thuộc dòng Bà-la-môn, Đại trưởng giả thuộc dòng Cư sĩ. Nếu có dòng họ giàu có tột cùng, của cải vô lượng, sản nghiệp chăn nuôi không thể tính được, phong hộ thực ấp đầy đủ mọi thứ như thế, thì ta mong sanh vào nhà ấy. Sau khi sanh vào thì giác căn thành tựu, mong được tịnh tín pháp luật chân chánh do Đức Như Lai nói ra. Được tịnh tín rồi thì cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình mà học đạo. Con nhà thiện gia đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình mà học đạo thì chỉ mong cầu vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời hiện tại, tự biết, tự giác, tự thân tác chứng, thành tựu an trú, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.’
“Thuở xưa, Diêm vương ở trong viên quán đã nguyện như thế.”
Bấy giờ có bài tụng rằng:
Được Thiên sứ cảnh cáo,
Người vẫn cứ phóng dật,
Chuốc sầu não mãi hoài,
Tệ ấy do dục che.
Được Thiên sứ cảnh cáo,
Quả thật có thượng nhân,
Không còn phóng dật nữa,
Khéo nói diệu Thánh pháp.
Thấy thủ là khiếp sợ,
Mong cầu sanh, lão dứt,
Không thủ, diệt không còn,
Thế là sanh lão hết.
Kia đến nơi an ổn,
Hiện tại đã vượt qua,
Vượt khỏi mọi khiếp sợ,
Cũng vượt dòng thế gian.
Phật dạy như vậy. Sau khi nghe xong điều Đức Phật dạy, các Tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
T 0503a23
我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤
T 0503a24
獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「我以淨天眼出
T 0503a25
過於人,見此眾生死時、生時,好色、惡色,或妙、
T 0503a26
不妙,往來善處及不善處,隨此眾生之所作
T 0503a27
業,見其如真。若此眾生成就身惡行,口、意惡
T 0503a28
行,誹謗聖人,邪見成就邪見業,彼因緣此,
T 0503a29
身壞命終,必至惡處,生地獄中。若此眾生
T 0503b01
成就身妙行,口、意妙行,不誹謗聖人,正見
T 0503b02
成就正見業,彼因緣此,身壞命終,必昇善
T 0503b03
處,乃生天上。
「猶大雨時,水上之泡,或生或滅,
T 0503b04
若有目人住一處,觀生時、滅時;我亦如是,
T 0503b05
以淨天眼出過於人,見此眾生死時、生時,好
T 0503b06
色、惡色,或妙、不妙,往來善處及不善處,隨此
T 0503b07
眾生之所作業,見其如真。若此眾生成就身
T 0503b08
惡行,口、意惡行,誹謗聖人,邪見成就邪見
T 0503b09
業,彼因緣此,身壞命終,必至惡處,生地獄
T 0503b10
中。若此眾生成就身妙行,口、意妙行,不誹
T 0503b11
謗聖人,正見成就正見業,彼因緣此,身壞
T 0503b12
命終,必昇善處,乃生天上。
「猶大雨時,雨墮
T 0503b13
之渧或上或下,若有目人住一處,觀上時、下
T 0503b14
時;我亦如是,以淨天眼出過於人,見此眾
T 0503b15
生,死時、生時,好色、惡色,或妙、不妙,往來善處
T 0503b16
及不善處,隨此眾生之所作業,見其如真。
T 0503b17
若此眾生成就身惡行,口、意惡行,誹謗聖人,
T 0503b18
邪見成就邪見業,彼因緣此,身壞命終,必
T 0503b19
至惡處,生地獄中。若此眾生成就身妙行,
T 0503b20
口、意妙行,不誹謗聖人,正見成就正見業,
T 0503b21
彼因緣此,身壞命終,必昇善處,乃生天上。
T 0503b22
「猶琉璃珠,清淨自然,生無瑕穢,八楞善治,貫
T 0503b23
以妙繩,或青或黃,或赤、黑、白。若有目人住一
T 0503b24
處,觀此琉璃珠,清淨自然,生無瑕穢,八楞
T 0503b25
善治,貫以妙繩,或青或黃,或赤、黑、白;我亦如
T 0503b26
是,以淨天眼出過於人,見此眾生死時、生時,
T 0503b27
好色、惡色,或妙、不妙,往來善處及不善處,隨
T 0503b28
此眾生之所作業,見其如真。若此眾生成就
T 0503b29
身惡行,口、意惡行,誹謗聖人,邪見成就邪見
T 0503c01
業,彼因緣此,身壞命終,必至惡處,生地獄
T 0503c02
中。若此眾生成就身妙行,口、意妙行,不誹
T 0503c03
謗聖人,正見成就正見業,彼因緣此,身壞
T 0503c04
命終,必昇善處,乃生天上。
「猶如兩屋共一
T 0503c05
門,多人出入。若有目人住一處,觀出時入時;
T 0503c06
我亦如是,以淨天眼出過於人,見此眾生
T 0503c07
死時、生時,好色、惡色,或妙、不妙,往來善處及
T 0503c08
不善處,隨此眾生之所作業,見其如真。若
T 0503c09
此眾生成就身惡行,口、意惡行,誹謗聖人,邪
T 0503c10
見成就邪見業,彼因緣此,身壞命終,必至
T 0503c11
惡處,生地獄中。若此眾生成就身妙行,口、意
T 0503c12
妙行,不誹謗聖人,正見成就正見業,彼因
T 0503c13
緣此,身壞命終,必昇善處,乃生天上。
「若有
T 0503c14
目人住高樓上,觀於下人往來周旋、坐臥走
T 0503c15
踊;我亦如是,以淨天眼出過於人,見此眾
T 0503c16
生死時、生時,好色、惡色,或妙、不妙,往來善處
T 0503c17
及不善處,隨此眾生之所作業,見其如真。
T 0503c18
若此眾生成就身惡行,口、意惡行,誹謗聖人,
T 0503c19
邪見成就邪見業,彼因緣此,身壞命終,必至
T 0503c20
惡處,生地獄中。若此眾生成就身妙行,口、意
T 0503c21
妙行,不誹謗聖人,正見成就正見業,彼因
T 0503c22
緣此,身壞命終,必昇善處,乃生天上。
「若有
T 0503c23
眾生生於人間,不孝父母,不知尊敬
沙門
、
T 0503c24
梵志,不行如實,不作福業,不畏後世罪,
T 0503c25
彼因緣此,身壞命終,生閻王境界。閻王人收
T 0503c26
送詣王所,白曰:『天王!此眾生本為人時,不
T 0503c27
孝父母,不知尊敬沙門、梵志,不行如實,
T 0503c28
不作福業,不畏後世罪,唯願天王處當其
T 0503c29
罪。』
「於是,閻王以初天使善問、善撿、善教、善訶:
T 0504a01
『汝頗曾見初天使來耶?』彼人答曰:『不見也。天
T 0504a02
王!』閻王復問:『汝本不見一村邑中,或男或女,
T 0504a03
幼小嬰孩,身弱柔軟,仰向自臥大小便中,不
T 0504a04
能語父母,父母抱移離不淨處,澡浴其身,
T 0504a05
令得淨潔。』彼人答曰:『見也。天王!』閻王復問:
T 0504a06
『汝於其後有識知時,何不作是念:「我自
T 0504a07
有生法,不離於生,我應行妙身、口、意業。」』彼
T 0504a08
人白曰:『天王!我了敗壞,長衰永失耶?』閻王告
T 0504a09
曰:『汝了敗壞,長衰永失,今當考汝,如治放
T 0504a10
逸行、放逸人,汝此惡業非父母為,非王非
T 0504a11
天,亦非沙門、梵志所為,汝本自作惡不善業。
T 0504a12
是故汝今必當受報。』
「閻王以此初天使善
T 0504a13
問、善撿、善教、善訶已,復以第二天使善問、善
T 0504a14
撿、善教、善訶:『汝頗曾見第二天使來耶?』彼人
T 0504a15
答曰:『不見也。天王!』閻王復問:『汝本不見一村
T 0504a16
邑中,或男或女,年耆極老,壽過苦極,命埀欲
T 0504a17
訖,齒落頭白,身曲軁步,拄杖而行,身體戰
T 0504a18
動耶?』彼人答曰:『見也。天王!』閻王復問:『汝於其
T 0504a19
後有識知時,何不作是念:「我自有老法,不
T 0504a20
離於老,我應行妙身、口、意業。」』彼人白曰:『天
T 0504a21
王!我了敗壞,長衰永失耶?』閻王告曰:『汝了敗
T 0504a22
壞,長衰永失,今當考汝,如治放逸行、放逸
T 0504a23
人,汝此惡業非父母為,非王非天,亦非沙
T 0504a24
門、梵志所為,汝本自作惡不善業。是故汝今
T 0504a25
必當受報。』
「閻王以此第二天使善問、善撿、善
T 0504a26
教、善訶已,復以第三天使善問、善撿、善教、善
T 0504a27
訶:『汝頗曾見第三天使來耶?』彼人答曰:『不見
T 0504a28
也。天王!』閻王復問:『汝本不見一村邑中,或男
T 0504a29
或女,疾病困篤,或坐臥床,或坐臥榻,或坐
T 0504b01
臥地,身生極苦甚重苦,不可愛念,令促命
T 0504b02
耶?』彼人答曰:『見也。天王!』閻王復問:『汝於其
T 0504b03
後有識知時,何不作是念:「我自有病法,
T 0504b04
不離於病,我應行妙身、口、意業。」』彼人白曰:
T 0504b05
『天王!我了敗壞,長衰永失耶?』閻王告曰:『汝了
T 0504b06
敗壞,長衰永失,今當考汝,如治放逸行、放
T 0504b07
逸人,汝此惡
業
非父母為,非王非天,亦非
T 0504b08
沙門、梵志所為,汝本自作惡不善業,是故汝
T 0504b09
今必當受報。』
「閻王以此第三天使善問、善撿、
T 0504b10
善教、善訶已,復以第四天使善問、善撿、善教、
T 0504b11
善訶:『汝頗曾見第
四
天使來耶?』彼人答曰:『不
T 0504b12
見也。天王!』閻王復問:『汝本不見一村邑中,或
T 0504b13
男或女,若死亡時,或一、二日,至六、七日,烏鵄
T 0504b14
所啄,犲狼所食,或以火燒,或埋地中,或爛
T 0504b15
腐壞耶?』彼人答曰:『見也。天王!』閻王復問:『汝於
T 0504b16
其後有識知時,何不作是念:「我自有死法,
T 0504b17
不離於死,我應行妙身、口、意業。」』彼人白曰:
T 0504b18
『天王!我了敗壞,長衰永失耶?』閻王告曰:『汝了
T 0504b19
敗壞,長衰永失,今當考汝,如治放逸行、放
T 0504b20
逸人,汝此惡業非父母為,非王非天,亦非
T 0504b21
沙門、梵志所為,汝本自作惡不善業,是故汝
T 0504b22
今必當受報。』
「閻王以此第四天使善問、善
T 0504b23
撿、善教、善訶已,復以第五天使善問、善撿、善
T 0504b24
教、善訶:『汝頗曾見第五天使來耶?』彼人答曰:
T 0504b25
『不見也。天王!』閻王復問:『汝本不見王人捉
T 0504b26
犯罪人,種種考治,截手、截足、或截手足,截
T 0504b27
耳、截鼻、或截耳鼻,或臠臠割,拔鬚、拔髮、
T 0504b28
或拔鬚髮,或著檻中衣裹火燒,或以沙壅
T 0504b29
草纏火燒,或內鐵驢腹中,或著鐵猪口
T 0504c01
中,或置鐵虎口中燒,或安銅釜中,或著鐵
T 0504c02
釜中煑,或段段截,或利叉刺,或以鈎鈎,或
T 0504c03
臥鐵床以沸油澆,或坐鐵臼以鐵杵擣,
T 0504c04
或以龍蛇
[虫*哲]
,或以鞭鞭,或以杖撾,或以
T 0504c05
棒打,或生貫高標上,或梟其首耶?』彼人答
T 0504c06
曰:『見也。天王!』閻王復問:『汝於其後有識知
T 0504c07
時,何不作是念:「我今現見惡不善法。」』彼人
T 0504c08
白曰:『天王!我了敗壞,長衰永失耶?』閻王告曰:
T 0504c09
『汝了敗壞,長衰永失。今當考汝,如治放逸
T 0504c10
行、放逸人,汝此惡業非父母為,非王非天,
T 0504c11
亦非沙門、梵志所為,汝本自作惡不善業,是
T 0504c12
故汝今必當受報。』
「閻王以此第五天使善
T 0504c13
問、善撿、善教、善訶已,即付獄卒。獄卒便捉持,
T 0504c14
著四門大地獄中,於是頌曰:
T 0504c15
「『四柱有四門, 壁方十二楞,
T 0504c16
以鐵為垣墻, 其上鐵覆蓋。
T 0504c17
地獄內鐵地, 熾燃鐵火布,
T 0504c18
深無量由延, 乃至地底住。
T 0504c19
極惡不可受, 火色難可視,
T 0504c20
見已身毛竪, 恐懼怖甚苦。
T 0504c21
彼墮生地獄, 脚上頭在下,
T 0504c22
誹謗諸聖人, 調御善清善。』
T 0504c23
「有時於後極大久遠,為彼眾生故,四門大地
T 0504c24
獄東門便開。東門開已,彼眾生等
走
來趣向,
T 0504c25
欲求安處,求所歸依,彼若集聚無量百千
T 0504c26
已,地獄東門便還自閉,彼於其中受極重
T 0504c27
苦,啼哭喚呼,心悶臥地,終不得死,要令彼
T 0504c28
惡不善業盡。極大久遠,南門、西門、北門復開。
T 0504c29
北門開已,彼眾生等走來趣向,欲求安處,
T 0505a01
求所歸依,彼若集聚無量百千已,地獄北門
T 0505a02
復還自閉,彼於其中受極重苦,啼哭喚呼,
T 0505a03
心悶臥地,終不得死,要令彼惡不善業盡。
T 0505a04
「復於後時極大久遠,彼眾生等從四門大地
T 0505a05
獄出,四門大地獄次生峰巖地獄,火滿其
T 0505a06
中,無煙無焰,令行其上,往來周旋。彼之兩
T 0505a07
足皮肉及血,下足則盡,舉足則生,還復如
T 0505a08
故。治彼如是無量百千歲,受極重苦,終不
T 0505a09
得死,要令彼惡不善業盡。
「復於後時極大
T 0505a10
久遠,彼眾生等從峰巖大地獄出,峰巖大地
T 0505a11
獄次生糞屎大地獄,滿中糞屎,深無量百
T 0505a12
丈。彼眾生等盡墮其中,彼糞屎大地獄中生
T 0505a13
眾多蟲,蟲名凌瞿來,身白頭黑,其觜如針,
T 0505a14
此蟲鑽破彼眾生足,破彼足已,復破
膞
膓
T 0505a15
骨,破
膞
膓骨已,復破髀骨,破髀骨已,復破
T 0505a16
臗骨,破臗骨已,復破脊骨,破脊骨已,復破
T 0505a17
肩骨、頸骨、頭骨,破頭骨已,食頭腦盡。彼眾
T 0505a18
生等如是逼迫無量百千歲,受極重苦,終不
T 0505a19
得死,要令彼惡不善業盡。
「復於後時極大
T 0505a20
久遠,彼眾生等從糞屎大地獄出,糞屎大
T 0505a21
地獄次生鐵鍱林大地獄,彼眾生見已,起
T 0505a22
清涼想,便作是念:『我等往彼,快得清涼。』
T 0505a23
彼眾生等走往趣向,欲求安處,求所歸依,
T 0505a24
彼若集聚無量百千已,便入鐵鍱林大地獄
T 0505a25
中。彼鐵鍱林大地獄中,四方則有大熱風來,
T 0505a26
熱風來已,鐵鍱便落,鐵鍱落時,截手、截足、或
T 0505a27
截手足,截耳、截鼻、或截耳鼻及餘支節,截
T 0505a28
身血塗無量百千歲,受極重苦,終不得死,
T 0505a29
要令彼惡不善業盡。復次,彼鐵鍱林大地獄
T 0505b01
中生極大狗,牙齒極長,擥彼眾生,從足剝
T 0505b02
皮,至頭便食,從頭剝皮,至足便食。彼眾
T 0505b03
生等如是逼迫無量百千歲,受極重苦,終
T 0505b04
不得死,要令彼惡不善業盡。復次,彼鐵鍱
T 0505b05
林大地獄中生大烏鳥,兩頭鐵喙,住眾生額,
T 0505b06
生挑眼吞,
啄
破頭骨,取腦而食。彼眾生等
T 0505b07
如是逼迫無量百千歲,受極重苦,終不得
T 0505b08
死,要令彼惡不善業盡。
「復於後時極大久
T 0505b09
遠,彼眾生等從鐵鍱林大地獄出,鐵鍱林大
T 0505b10
地獄次生鐵劍樹林大地獄,彼大劍樹高一
T 0505b11
由延,刺長尺六,令彼眾生使緣上下,彼上樹
T 0505b12
時,刺便下向,若下樹時,刺便上向。彼劍樹刺
T 0505b13
貫刺眾生,刺手、刺足、或刺手足,刺耳、刺鼻、
T 0505b14
或刺耳鼻及餘支節,刺身血塗無量百千歲,
T 0505b15
受極重苦,終不得死,要令彼惡不善業盡。
T 0505b16
「復於後時極大久遠,彼眾生等從鐵劍樹
T 0505b17
林大地獄出,鐵劍樹林大地獄次生灰河,
T 0505b18
兩岸極高,周遍生刺,沸灰湯滿,其中極闇,
T 0505b19
彼眾生見已,起冷水想,當有冷水。彼起想
T 0505b20
已,便作是念:『我等往彼,於中洗浴,恣意飽
T 0505b21
飲,快得涼樂。』彼眾生等競走趣向,入於其中,
T 0505b22
欲求樂處,求所歸依,彼若集聚無量百千
T 0505b23
已,便墮灰河。墮灰河已,順流、逆流、或順逆
T 0505b24
流,彼眾生等順流、逆流、順逆流時,皮熟墮落,
T 0505b25
肉熟墮落,或皮肉熟俱時墮落,唯骨
鎖
在。
T 0505b26
灰河兩岸有地獄卒,手捉刀劍、大棒、鐵叉,
T 0505b27
彼眾生等欲度上岸,彼時獄卒還推著中。
T 0505b28
「復次,灰河兩岸有地獄卒,手捉鈎羂,鈎挽
T 0505b29
眾生從灰河出,著熱鐵地,洞燃俱熾,舉
T 0505c01
彼眾生極撲著地,在地旋轉,而問之曰:『汝
T 0505c02
從何來?』彼眾生等僉共答曰:『我等不知所
T 0505c03
從來處,但我等今唯患大飢。』彼地獄卒便
T 0505c04
捉眾生著熱鐵床,洞然俱熾,強令坐上,以
T 0505c05
熱鐵鉗鉗開其口,以熱鐵丸洞然俱熾,著
T 0505c06
其口中。彼熱鐵丸燒脣,燒脣已燒舌,燒舌
T 0505c07
已燒齗,燒齗已燒咽,燒咽已燒心,燒
T 0505c08
心已燒大腸,燒大腸已燒小腸,燒小腸
T 0505c09
已燒
胃
,燒
胃
已從身下過。彼如是逼迫
T 0505c10
無量百千歲,受極重苦,終不得死,要令彼
T 0505c11
惡不善業盡。
「復次,彼地獄卒問眾生曰:『汝
T 0505c12
欲何去?』眾生答曰:『我等不知欲何所去?但
T 0505c13
患大渴。』彼地獄卒便捉眾生著熱鐵床,洞
T 0505c14
然俱熾,強令坐上,以熱鐵鉗鉗開其口,以
T 0505c15
沸洋銅灌其口中,彼沸洋銅燒脣,燒脣已
T 0505c16
燒舌,燒舌已燒齗,燒齗已燒咽,燒咽已
T 0505c17
燒心,燒心已燒大腸,燒大腸已燒小腸,
T 0505c18
燒小腸已燒
胃
,燒
胃
已從身下過。彼
T 0505c19
如是逼迫無量百千歲,受極重苦,終不得
T 0505c20
死,要令彼惡不善業盡。
「若彼眾生地獄惡不
T 0505c21
善業不悉盡、不一切盡、盡無餘者,彼眾生
T 0505c22
等復墮灰河中,復上下鐵劍樹林大地獄,復
T 0505c23
入鐵鍱林大地獄,復墮糞屎大地獄,復往
T 0505c24
來峰巖大地獄,復入四門大地獄中。若彼眾
T 0505c25
生地獄惡不善業悉盡、一切盡、盡無餘者,彼
T 0505c26
於其後或入畜生,或墮餓鬼,或生天中。若
T 0505c27
彼眾生本為人時,不孝父母,不知尊敬沙
T 0505c28
門、梵志,不行如實,不作福業,不畏後世
T 0505c29
罪,彼受如是不愛、不念、不喜苦報,譬猶若
T 0506a01
彼地獄之中。若彼眾生本為人時,孝順父
T 0506a02
母,知尊敬沙門、梵志,行如實事,作福德業,
T 0506a03
畏後世罪,彼受如是可愛、可念、
可
喜樂報,
T 0506a04
猶虛空神宮殿之中。
「昔者閻王在園觀中而
T 0506a05
作是願:『我此命終,生於人中。若有族姓極
T 0506a06
大富樂,資財無量,畜牧產業不可稱計,封戶
T 0506a07
食邑種種具足。彼為云何?謂剎利大長者族、
T 0506a08
梵志大長者族、居士大長者族。若更有如是
T 0506a09
族極大富樂,資財無量,畜牧產業不可稱
T 0506a10
計,封戶食邑種種具足,生如是家。生已覺
T 0506a11
根成就,如來所說正法之律,願得淨信,得
T 0506a12
淨信已,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無
T 0506a13
家、學道,族姓子所為剃除鬚髮,著袈裟衣,
T 0506a14
至信、捨家、無家、學道者,唯無上梵行訖,於現
T 0506a15
法中自知自覺,自作證成就遊,生已盡,梵行
T 0506a16
已立,所作已辦,不更受有,知如真。』
「昔者閻
T 0506a17
王在園觀中而作是願,於是頌曰:
T 0506a18
「『為天使所訶, 人故放逸者,
T 0506a19
長夜則憂慼, 謂弊欲所覆。
T 0506a20
為天使所訶, 真實有上人,
T 0506a21
終不復放逸, 善說妙聖法。
T 0506a22
見受使恐怖, 求願生老盡,
T 0506a23
無受滅無餘, 便為生老訖。
T 0506a24
彼到安隱樂, 現法得滅度,
T 0506a25
度一切恐怖, 亦度世間灑。』」
T 0506a26
佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0506a27
天使經第七竟
(四千二百五字)
T 0506a28
中阿含經卷第十二
(九千九百三十九字)
T 0506a29
中阿含王應品第六竟
(一萬七千九百三十五字)
(初一日
T 0506b01
誦訖)