Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại tại Câu-xá-di, trong vườn Cù-sư-la.
Bấy giờ Tôn giả Chu-na nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu có Tỳ-kheo nói như thế nầy, ‘Tôi biết các pháp, những pháp được biết ấy không có tham lam’. Nhưng trong tâm Hiền giả kia, ác tham lam đã sanh và tồn tại.
“Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến. Nhưng trong tâm Hiền giả ấy ác dục, ác kiến đã sanh và tồn tại. Các vị đồng phạm hạnh biết Hiền giả ấy không biết các pháp, những pháp được biết đến mà không có tham lam. Vì sao? Vì trong tâm Hiền giả ấy tham lam đã sanh và tồn tại. Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến. Vì sao? Vì trong tâm Hiền giả kia ác dục, ác kiến đã sanh và tồn tại.
“Này Chư Hiền, như người không giàu mà tự xưng là giàu, cũng không có phong ấp mà nói là có phong ấp. Lại không có súc mục mà nói là có súc mục. Khi muốn tiêu dùng thì không có vàng bạc, chơn châu, lưu ly, thủy tinh, hổ phách; không có súc mục, lúa gạo; cũng không có nô tỳ. Các bằng hữu quen biết đến nhà người ấy mà nói rằng: ‘Anh thật không giàu mà tự xưng là giàu, cũng không có phong ấp mà nói có phong ấp; lại không có súc mục mà nói có súc mục. Khi muốn tiêu dùng thì không có vàng bạc, chơn châu, lưu ly, thủy tinh, hổ phách, không có súc mục, lúa gạo và cũng không có nô tỳ’. Cũng giống như thế, này Chư Hiền, nếu có Tỳ-kheo nói như thế này: ‘Tôi biết các pháp, những pháp được biết mà không có tham lam’, nhưng trong tâm Hiền giả kia tham lam đã sanh và tồn tại. Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến đã sanh và tồn tại. Các đồng phạm hạnh biết Hiền giả ấy không biết các pháp, những pháp được biết mà không có tham lam. Vì sao? Vì tâm của Hiền giả kia không hướng đến chỗ diệt tận tham lam, đến Vô dư Niết-bàn. Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến. Vì sao? Vì tâm Hiền giả kia không hướng đến chỗ diệt tận ác nhuế, đến Vô dư Niết-bàn.
“Này Chư Hiền, hoặc có Tỳ-kheo không nói như thế này: ‘Tôi biết các pháp, những pháp được biết đến mà không có tham lam”, nhưng trong tâm Hiền giả kia tham lam không sanh và tồn tại. Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến, nhưng trong tâm Hiền giả kia ác dục, ác kiến không sanh và tồn tại. Các đồng phạm hạnh biết Hiền giả ấy thật biết các pháp, những pháp được biết đến mà không có tham lam. Vì sao? Vì trong tâm Hiền giả kia, ác tham lam đã không sanh và tồn tại. Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến. Vì sao? Vì trong tâm Hiền giả kia ác dục, ác kiến không sanh và tồn tại.
“Này Chư Hiền, như người giàu to mà không nói mình giàu, cũng có phong ấp mà không nói là có phong ấp. Lại có súc mục mà không nói là có súc mục. Nếu lúc muốn tiêu dùng thì có sẵn vàng bạc, chơn châu, lưu ly, thủy tinh, hổ phách; có súc mục, lúa gạo và có nô tỳ. Các bằng hữu quen biết đến nhà người ấy, nói rằng: ‘Anh thật giàu to mà không nói là giàu, cũng có phong ấp mà không nói là có phong ấp. Lại có súc mục mà không nói là có súc mục, nhưng khi muốn dùng thì có sẵn vàng bạc, chơn châu, lưu ly, thủy tinh, hổ phách; có súc mục, lúa gạo và cũng có nô tỳ’.
“Cũng giống như thế, này Chư Hiền, nếu có Tỳ-kheo không nói như thế này: ‘Tôi biết các pháp, những pháp được biết đến mà không có tham lam”, nhưng trong tâm Hiền giả kia ác tham lam đã không sanh và không tồn tại. Cũng như vậy, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến, nhưng trong tâm Hiền giả kia ác dục, ác kiến không sanh và tồn tại. Các người đồng phạm hạnh biết Hiền giả ấy thật biết các pháp, những pháp được biết đến mà không có tham lam. Vì sao? Vì tâm Hiền giả ấy hướng đến chỗ diệt tận tham lam, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến. Vì sao? Vì tâm Hiền giả kia hướng đến chỗ diệt tận ác kiến, đến Vô dư Niết-bàn”.
Tôn giả Chu-na thuyết như vậy, các thầy Tỳ-kheo sau khi nghe Tôn giả nói xong, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
我聞如是:一時,佛遊拘舍彌在瞿師羅
T 0572c16
園。
爾時,尊者周那告諸比丘:「若有比丘作
T 0572c17
如是說:『我知諸法所可知法而無增伺。』
T 0572c18
然彼賢者心生惡增伺而住,如是諍訟、恚
T 0572c19
恨、瞋纏、不語結、慳、嫉、欺誑、諛諂、無慙、無愧,無惡
T 0572c20
欲、惡見;然彼賢者心生惡欲、惡見而住。諸梵
T 0572c21
行人知彼賢者不知諸法所可知法而無
T 0572c22
增伺。所以者何?以彼賢者心生增伺而住,
T 0572c23
如是諍訟、恚恨、瞋纏、不語結、慳、嫉、欺誑、諛諂、
T 0572c24
無慙、無愧,無惡欲、惡見。所以者何?以彼賢
T 0572c25
者心生惡欲、惡見而住。
「諸賢!猶人不富自
T 0572c26
稱說富,亦無國封說有國封,又無畜牧說
T 0572c27
有畜牧,若欲用時,則無金、銀、真珠、琉璃、水
T 0572c28
精、琥珀,無畜牧、米穀,亦無奴婢。諸親朋友
T 0572c29
往詣彼所,而作是說:『汝實不富自稱說富,
T 0573a01
亦無國封說有國封,又無畜牧說有畜
T 0573a02
牧,然欲用時,則無金、銀、真珠、琉璃、水精、琥珀,
T 0573a03
無畜牧、米穀,亦無奴婢。』如是。諸賢!若有比
T 0573a04
丘作如是說:『我知諸法所可知法而無
T 0573a05
增伺。』然彼賢者心生惡增伺而住,如是
T 0573a06
諍訟、恚恨、瞋纏、不語結、慳、嫉、欺誑、諛諂、無慙、無
T 0573a07
愧,無惡欲、惡見;然彼賢者心生惡欲、惡見
T 0573a08
而住。諸梵行人知彼賢者不知諸法所可
T 0573a09
知法而無增伺。所以者何?以彼賢者心不
T 0573a10
向增伺盡、無餘涅槃,如是諍訟、恚恨、瞋纏、
T 0573a11
不語結、慳、嫉、欺誑、諛諂、無慙、無愧,無惡欲、惡
T 0573a12
見。所以者何?以彼賢者心不向惡見法盡、
T 0573a13
無餘涅槃。
「諸賢!或有比丘不作是說:『我
T 0573a14
知諸法所可知法而無增伺。』然彼賢者心
T 0573a15
不生惡增伺而住,如是諍訟、恚恨、瞋纏、不
T 0573a16
語結、慳、嫉、欺誑、諛諂、無慙、無愧,無惡欲、惡見,
T 0573a17
然彼賢者心不生惡欲、惡見而住。諸梵行
T 0573a18
人知彼賢者實知諸法所可知法而無
T 0573a19
增伺。所以者何?以彼賢者心不生惡增
T 0573a20
伺而住,如是諍訟、恚恨、瞋纏、不語結、慳、嫉、欺
T 0573a21
誑、諛諂、無慙、無愧,無惡欲、惡見。所以者何?以
T 0573a22
彼賢者心不生惡欲、惡見而住。
「諸賢!猶人
T 0573a23
大富自說不富,亦有國封說無國封,又
T 0573a24
有畜牧說無畜牧,若欲用時,則有金、銀、
T 0573a25
真珠、琉璃、水精、琥珀,有畜牧、米穀,亦有奴
T 0573a26
婢。諸親朋友往詣彼所,作如是說:『汝實大
T 0573a27
富自說不富,亦有國封說無國封,又有
T 0573a28
畜牧說無畜牧,然欲用時,則有金、銀、真珠、
T 0573a29
琉璃、水精、琥珀,有畜牧、米穀,亦有奴婢。』如
T 0573b01
是。諸賢!若有比丘不作是說:『我知諸法
T 0573b02
所可知法而無增伺。』然彼賢者心不生惡
T 0573b03
增伺而住,如是諍訟、恚恨、瞋纏、不語結、
T 0573b04
慳、嫉、欺誑、諛諂、無慙、無愧,無惡欲、惡見,然彼
T 0573b05
賢者心不生惡欲、惡見而住。諸梵行人知
T 0573b06
彼賢者知諸法所可知法而無增伺。所以
T 0573b07
者何?以彼賢者心向增伺盡、無餘涅槃,如
T 0573b08
是諍訟、恚恨、瞋纏、不語結、慳、嫉、欺誑、諛諂、無慙、
T 0573b09
無愧,無惡欲、惡見。所以者何?以彼賢者心向
T 0573b10
惡見法盡、無餘涅槃。」
尊者周那所說如是。彼
T 0573b11
諸比丘聞尊者周那所說,歡喜奉行。
T 0573b12
知法經第四竟
(八百八十一字)
T 0573b13