Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

Đại Kinh Rừng Sừng Bò (MN32)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Như vầy tôi nghe.

SC 1

Một thời Thế Tôn ở tại khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la cùng với một số đông Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng như Tôn giả

Sāriputta

(Xá-lợi-phất) Tôn giả

Mahā

Moggallāna

(Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả

Mahā

Kassapa

(Ðại Ca-diếp), Tôn giả

Anuruddha

(A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả

Ānanda

(A-nan) cùng với một số Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng khác.

SC 2

Rồi Tôn giả

Mahā

Moggallāna

vào buổi chiều, sau khi tham thiền đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả

Mahā

Kassapa

ở, sau khi đến bèn nói với Tôn giả

Mahā

Kassapa

SC 3

—Hiền giả

Kassapa

, chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả

Sāriputta

để nghe pháp.

—Thưa vâng, Hiền giả.

SC 4

Tôn giả

Mahā

Kassapa

vâng đáp Tôn giả

Mahā

Moggallāna

. Rồi Tôn giả

Mahā

Moggallāna

, Tôn giả

Mahā

Kassapa

và Tôn giả

Anuruddha

đi đến chỗ Tôn giả

Sāriputta

để nghe pháp. Tôn giả

Ānanda

thấy Tôn giả

Mahā

Moggallāna

, Tôn giả

Mahā

Kassapa

và Tôn giả

Anuruddha

đi đến chỗ Tôn giả

Sāriputta

để nghe pháp, sau khi thấy vậy liền đi đến chỗ Tôn giả Revata và nói với Tôn giả Revata

SC 5

—Này Hiền giả Revata, các bậc Thượng nhân như vậy đã đến chỗ Tôn giả

Sāriputta

để nghe pháp. Này Hiền giả Revata, chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả

Sāriputta

để nghe pháp.

—Thưa vâng, Hiền giả.

SC 6

Tôn giả Revata vâng đáp Tôn giả

Ānanda

. Rồi Tôn giả Revata và Tôn giả

Ānanda

đi đến chỗ Tôn giả

Sāriputta

để nghe pháp. Tôn giả

Sāriputta

thấy Tôn giả Revata, Tôn giả

Ānanda

từ xa đi đến, sau khi thấy bèn nói với Tôn giả

Ānanda

SC 7

—Tôn giả

Ānanda

hãy đến đây, thiện lai, Tôn giả

Ānanda

, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả

Ānanda

, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả

Ānanda

, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?

SC 8

—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

SC 9

Khi nghe nói vậy, Tôn giả

Sāriputta

nói với Tôn giả Revata

SC 10

—Này Hiền giả Revata, Tôn giả

Ānanda

đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata: Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

SC 11

—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

SC 12

Khi nghe nói vậy, Tôn giả

Sāriputta

nói với Tôn giả

Anuruddha

SC 13

—Này Hiền giả

Anuruddha

, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Anuruddha

: Này Hiền giả

Anuruddha

, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả

Anuruddha

, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

SC 14

—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả

Sāriputta

, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

SC 15

Khi nghe nói vậy, Tôn giả

Sāriputta

nói với Tôn giả

Mahā

Kassapa

SC 16

—Này Hiền giả

Kassapa

, Tôn giả

Anuruddha

đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Kassapa

: Này Hiền giả

Kassapa

, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả

Kassapa

, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

SC 17

—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

SC 18

Khi nghe nói vậy, Tôn giả

Sāriputta

nói Tôn giả

Mahā

Moggallāna

SC 19

—Hiền giả

Moggallāna

, Tôn giả

Mahā

Kassapa

đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahamoggallana: Này Hiền giả

Moggallāna

, khả ái thay khu rừng Gosinga! … Này Hiền giả

Moggallāna

, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?

SC 20

—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 21

Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Tôn giả

Sāriputta

SC 22

—Hiền giả

Sāriputta

, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Sāriputta

: Này Hiền giả

Sāriputta

, khả ái thay, khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 23

—Ở đây, này Hiền giả

Moggallāna

, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả

Moggallāna

, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả

Moggallāna

, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả

Moggallāna

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

SC 24

Rồi Tôn giả

Sāriputta

nói với các Tôn giả ấy

SC 25

—Này chư Hiền, chúng ta đã trả lời theo sự giải thích của chúng ta. Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở và thuật lại vấn đề này cho Thế Tôn rõ. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

—Thưa vâng, Hiền giả.

SC 26

Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả

Sāriputta

. Rồi những Tôn giả ấy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả

Sāriputta

bạch Thế Tôn

SC 27

—Ở đây, bạch Thế Tôn, Tôn giả Revata và Tôn giả

Ānanda

đến tại chỗ con ở để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, con thấy Tôn giả Revata và Tôn giả

Ānanda

từ xa đi đến; thấy vậy, con nói với Tôn giả

Ānanda

:

SC 28

“—Tôn giả

Ānanda

, hãy đến đây, thiện lai Tôn giả

Ānanda

, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả

Ānanda

, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðếm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả

Ānanda

, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? ”

SC 29

Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, Tôn giả

Ānanda

trả lời với con như sau:

SC 30

“—Ở đây, Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và giữ gìn kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

SC 31

—Lành thay, lành thay,

Sāriputta

! Nếu trả lời cho được chơn chánh,

Ānanda

phải trả lời như vậy. Này

Sāriputta

,

Ānanda

là bậc đa văn, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng, với văn cú viên dung lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên.

SC 32

—Bạch Thế Tôn khi nghe nói vậy, con nói với Tôn giả Revata:

SC 33

“—Này Hiền giả Revata, Tôn giả

Ānanda

, đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata:

SC 34

“—Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.

SC 35

“—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.

SC 36

—Lành thay, lành thay,

Sāriputta

! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Revata phải trả lời như vậy. Này

Sāriputta

, Revata ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch.

SC 37

—Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với Tôn giả

Anuruddha

như sau:

SC 38

“—Này Hiền giả

Anuruddha

, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Anuruddha

:

SC 39

“—Này Hiền giả

Anuruddha

, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả

Anuruddha

, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 40

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả

Anuruddha

nói với con:

SC 41

“—Này Hiền giả

Sāriputta

, ở đây, Tỷ-kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả

Sāriputta

, ví như một người có mắt, lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp rồi quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-Kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.

SC 42

—Lành thay, lành thay,

Sāriputta

! Nếu trả lời cho được chơn chánh,

Anuruddha

phải trả lời như vậy. Này

Sāriputta

, chính

Anuruddha

với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới.

SC 43

—Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả

Mahā

Kassapa

:

SC 44

“—Này Hiền giả

Kassapa

, Tôn giả

Anuruddha

đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Kassapa

:

SC 45

“—Khả ái thay ngôi rừng Gosinga! … (như trên) … Này Hiền giả

Kassapa

, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 46

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả

Mahākassapa

nói với con:

SC 47

“—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, Tỷ-kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạnh tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo ấy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

SC 48

—Lành thay

Sāriputta

! Nếu trả lời cho được chân chánh,

Kassapa

phải trả lời như vậy. Này

Sāriputta

,

Kassapa

tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi … tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến.

SC 49

—Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả

Mahā

Moggallāna

:

SC 50

“—Hiền giả

Moggallāna

, Tôn giả

Mahā

Kassapa

đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Mahā

Moggallāna

:

SC 51

“—Này Hiền giả

Moggallāna

, khả ái thay khu rưng Gosinga! … Này Hiền giả

Moggallāna

, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 52

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả

Mahā

Moggallāna

nói với con:

SC 53

“—Ở đây, này Hiền giả

Sāriputta

, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Họ hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, họ trả lời được với nhau, chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp của họ được tiếp tục. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga. ”

SC 54

—Lành thay

Sāriputta

! Nếu trả lời cho được chơn chánh,

Moggallāna

phải trả lời như vậy. Này

Sāriputta

,

Moggallāna

là bậc thuyết về Chánh pháp.

SC 55

Ðược nói vậy, Tôn giả

Mahā

Moggallāna

bạch Thế Tôn

SC 56

—Bạch Thế Tôn, con nói với Tôn giả

Sāriputta

, như sau:

SC 57

“—Hiền giả

Sāriputta

, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả

Sāriputta

:

SC 58

“—Này Hiền giả

Sāriputta

, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 59

—Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả

Sāriputta

nói với con:

SC 60

“—Ở đây, này Hiền giả

Moggallāna

, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả

Moggallāna

, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả

Moggallāna

, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, Tỷ-kheo ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả

Moggallāna

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

SC 61

—Lành thay, lành thay,

Moggallāna

! Nếu trả lời cho được chơn chánh,

Sāriputta

phải trả lời như vậy. Này

Moggallāna

,

Sāriputta

điều phục được tâm, không phải

Sāriputta

không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.

SC 62

Khi được nói vậy, Tôn giả

Sāriputta

bạch Thế Tôn

SC 63

—Bạch Thế Tôn, vị nào đã khéo trả lời (câu hỏi được đặt ra)?

SC 64

—Này

Sāriputta

, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này

Sāriputta

, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này

Sāriputta

, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

SC 65

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc