Nội dung bài kinh
BJT 667
Đức vua tên Piṅgalaka đã là vị chúa tể của xứ Suraṭṭha. Sau khi đi đến trợ giúp cho những người Moriya, đức vua đã trở về lại Suraṭṭha.
BJT 668
Vào lúc giữa trưa nóng nực, đức vua đã đi đến đầm lầy và đã nhìn thấy con đường đáng yêu, lối đi bằng cát của các ngạ quỷ.
BJT 669
Đức vua đã nói với người đánh xe rằng: “Con đường này xinh đẹp, an toàn, may mắn, tốt lành. Này xa phu, người hãy đi bằng lối này từ đây cho đến khu vực phụ cận của xứ Suraṭṭha.”
BJT 670
Đức vua xứ Suraṭṭha cùng với đạo binh gồm bốn binh chủng đã xuất phát theo lối đi ấy. Có (một) người nam với dáng vẻ kinh hoàng đã nói với đức vua xứ Suraṭṭha điều này:
BJT 671
“Chúng tôi đã đi vào con đường sai trái, ghê rợn, khiến nổi da gà, con đường được nhìn thấy ở phía trước và không được nhìn thấy ở phía sau.
BJT 672
Chúng tôi đã đi vào con đường sai trái, ở gần khu vực của các nam nhân cõi Dạ-ma, có mùi phi nhân tỏa ra, có âm thanh ghê rợn được nghe.”
BJT 673
Đức vua xứ Suraṭṭha, bị rúng động, đã nói với người đánh xe rằng: “Chúng ta đã đi vào con đường sai trái, ghê rợn, khiến nổi da gà; con đường được nhìn thấy ở phía trước và không được nhìn thấy ở phía sau.
BJT 674
Chúng ta đã đi vào con đường sai trái, ở gần nơi của các nam nhân cõi Dạ-ma, có mùi phi nhân tỏa ra, có âm thanh ghê rợn được nghe.”
BJT 675
Rồi đức vua đã cỡi lên lưng voi, quan sát bốn phương, và đã nhìn thấy cây đa đáng yêu, có bóng râm, giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.
BJT 676
Đức vua đã nói với người đánh xe rằng: “Vật to lớn kia trông giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa là vật gì vậy?”
BJT 677
“Tâu đại vương, vật ấy là cây đa, có bóng râm, giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.”
BJT 678
Vua xứ Suraṭṭha đã tiến theo lối đi ấy về phía vật to lớn ấy, được nhìn thấy giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.
BJT 679
Sau khi leo xuống từ lưng voi, đức vua đã đi đến gần thân cây, rồi đã ngồi xuống ở gốc cây với viên quan cận thần và đoàn tùy tùng.
BJT 680
Đức vua đã nhìn thấy bình nước đầy và các loại bánh ngọt đa dạng. Và có (một) người nam với dáng vẻ Thiên nhân, được điểm tô với tất cả đồ trang sức, đã đi đến gần đức vua xứ Suraṭṭha và đã nói điều này:
BJT 681
“Tâu đại vương, việc đi đến của quý vị là tốt đẹp, hơn nữa đối với quý vị không phải là việc đi đến sai trái. Tâu vị thuần phục kẻ thù, xin bệ hạ hãy uống nước, hãy ăn các bánh ngọt.”
BJT 682
Đức vua cùng viên quan cận thần và nhóm tùy tùng đã uống nước, và đã ăn các bánh ngọt. Uống xong, đức vua xứ Suraṭṭha đã nói điều này:
BJT 683
“Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Trong khi không biết, chúng tôi hỏi ngươi, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”
BJT 684
“Tôi không là Thiên nhân, không là nhạc sĩ Thiên đình, cũng không là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây; tâu đại vương, tôi là ngạ quỷ đã từ xứ Suraṭṭha đi đến đây.”
BJT 685
“Trước đây ở Suraṭṭha ngươi đã có giới hạnh gì, có sự thực hành gì? Do hạnh kiểm cao đẹp nào của ngươi mà ngươi có năng lực này?”
BJT 686
“Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hãy lắng nghe điều ấy; các viên quan cận thần, đoàn tùy tùng, và vị Bà-la-môn viên quan tế tự (cũng thế).
BJT 687
Tâu bệ hạ, từ xứ Suraṭṭha, tôi đã là người đàn ông có tâm ý ác xấu, có tà kiến và có giới tồi, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc (các Sa-môn và Bà-la-môn).
BJT 688
Tôi đã ngăn cản nhiều người trong khi họ đang bố thí. Tôi đã là người gây chướng ngại cho những người khác trong khi họ đang ban phát, (bằng cách nói rằng):
BJT 689
‘Không có quả thành tựu của việc bố thí, từ đâu có quả báo của việc thu thúc (giới)? Không có người gọi là thầy dạy học, ai sẽ huấn luyện cho kẻ không được huấn luyện?
BJT 690
Các chúng sanh đều bằng nhau bình đẳng, do đâu lại có việc tôn kính người trưởng thượng? Không có sức mạnh hay sự tinh tấn, do đâu lại có người với sự vươn lên?
BJT 691
Không có cái gọi là quả báo của sự bố thí, không thể xóa sạch sự thù hằn, loài người nhận lãnh điều sẽ phải nhận lãnh, được sanh lên do sự xoay vần của số phận.
BJT 692
Không có mẹ, cha, anh em trai, không có thế giới nào khác với thế giới này, không có việc đã được bố thí, không có việc đã được hiến dâng, thậm chí việc đã khéo được quy định không được biết đến.
BJT 693
Thậm chí ai đó có thể giết chết người, có thể chặt đầu người khác, thì cũng chẳng có người nào giết chết người nào cả, (con dao đâm vào) khe hở ở khoảng giữa của bảy nhóm (các yếu tố cấu thành cơ thể).
BJT 694
Mạng sống không thể bị cắt đứt, không thể bị đập vỡ, là hình bát giác, là quả cầu tròn, (cao) năm trăm do-tuần, kẻ nào có khả năng cắt đứt mạng sống?
BJT 695
Giống như cuộn chỉ được ném ra, trong khi tháo rời, nó lăn đi, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy trong khi tháo rời, nó lăn đi.
BJT 696
Giống như người sau khi rời khỏi ngôi làng thì đi vào ngôi làng khác, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy đi vào thân thể khác.
BJT 697
Giống như người sau khi rời khỏi ngôi nhà thì đi vào ngôi nhà khác, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy đi vào thân thể khác.
BJT 698
Bởi vì những kẻ ngu và các người trí sau khi bị ném vào luân hồi cho đến tám mươi bốn trăm ngàn (8.400.000) đại kiếp thì sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
BJT 699
Các khổ và lạc được đo lường bằng các đấu và các giỏ; đấng Chiến Thắng biết rõ tất cả, còn những người khác hoàn toàn mê muội.
BJT 700
Trước đây, tôi đã có tà kiến như vậy, hoàn toàn mê muội, bị bao trùm bởi si mê, có tà kiến và có giới tồi, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc (các Sa-môn và Bà-la-môn).
BJT 701
Trong vòng sáu tháng nữa, tôi sẽ chết. Tôi sẽ rơi vào địa ngục vô cùng khổ sở, ghê rợn.
BJT 702
Địa ngục có bốn góc, có bốn cửa, được phân chia thành các phần cân xứng, được bao quanh bằng tường sắt, được đậy lại bằng tấm sắt.
BJT 703
Mặt nền của nó làm bằng sắt, cháy rực, có sức nóng, tỏa rộng ra xung quanh một trăm do-tuần, và luôn luôn tồn tại.
BJT 704
Cứ đến mỗi một trăm ngàn năm thì được nghe tiếng vang. Tâu đại vương, đó là một
lakkha
; một trăm lần (
lakkha
) là số năm tính theo
koṭi
.
BJT 705
Những kẻ có tà kiến và có giới tồi, và những kẻ chỉ trích bậc Thánh nhân bị nung nấu ở địa ngục một trăm ngàn
koṭi
năm.
BJT 706
Tại nơi ấy, tôi đã cảm giác cảm thọ khổ, quả báo của nghiệp ác một thời gian dài lâu; vì việc ấy tôi sầu muộn vô cùng.
BJT 707
Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hãy lắng nghe điều ấy. Tâu đại vương, con gái của tôi là Uttarā. Cầu mong bệ hạ được điều tốt lành.
BJT 708
Cô ấy tạo nghiệp tốt lành, thích thú các giới và ngày trai giới, có sự tự kiềm chế và có sự san sẻ, có sự ân cần, đã xa lìa sự bỏn xẻn.
BJT 709
Cô ấy là người có sự thực hành không bể vỡ về điều học, và nhu mì ở các gia đình những người khác, là cận sự nữ của vị Hiền Trí dòng Sakya, bậc Toàn Giác, đấng Vinh Quang.
BJT 710
Có vị tỳ khưu đầy đủ giới đức đã đi vào làng để khất thực, mắt nhìn xuống, có niệm, có giác quan được canh phòng, khéo được thu thúc.
BJT 711
Trong khi đi tuần tự theo từng nhà, vị ấy đã đi đến chỗ trú ngụ ấy. Tâu đại vương, Uttarā đã nhìn thấy vị ấy. Cầu mong bệ hạ được điều tốt lành.
BJT 712
Và cô ấy đã dâng cúng bình nước đầy và các loại bánh ngọt đa dạng (nói rằng): ‘Thưa ngài, cha tôi đã qua đời, mong rằng việc này thành tựu đến ông ấy.’
BJT 713
Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức, tôi thọ hưởng, là người có dục lạc theo như ước muốn, giống như Thiên Vương Vessavaṇa.
BJT 714
Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hãy lắng nghe điều ấy. Đức Phật được gọi là bậc cao cả của thế gian luôn cả chư Thiên. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hãy đi đến nương nhờ đức Phật ấy.
BJT 715
Nhờ vào Đạo Lộ tám chi phần, các ngài chạm đến vị thế Bất Tử. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hãy đi đến nương nhờ Giáo Pháp ấy.
BJT 716
Bốn hạng đã thực hành Đạo Lộ và bốn hạng đã trụ ở Quả vị, Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hãy đi đến nương nhờ Hội Chúng ấy.
BJT 717
Bệ hạ hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 718
“Này vị Dạ-xoa, ngươi là người mong mỏi sự tốt đẹp cho trẫm. Này vị Thiên nhân, ngươi là người mong mỏi sự lợi ích cho trẫm. Trẫm thực hành lời nói của ngươi; ngươi là thầy dạy học của trẫm.
BJT 719
Trẫm đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và trẫm đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 720
Trẫm lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, trẫm xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và trẫm không nói lời dối trá, và trẫm vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 721
Trẫm (sẽ) sàng lọc ở trong cơn gió mạnh, hoặc ở dòng sông chảy xiết, rồi loại bỏ tà kiến ác xấu; trẫm (sẽ) vui thích trong lời dạy của chư Phật.”
BJT 722
Sau khi nói điều này, sau khi loại bỏ quan điểm ác xấu, sau khi thực hiện việc kính lễ đến đức Thế Tôn, vị vua xứ Suraṭṭha đã bước lên xe, mặt nhìn hướng đông.
Chuyện Ngạ Quỷ Nandaka là thứ ba.