Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba pháp mà thế gian không yêu thích, không nhớ nghĩ, không vừa ý. Những gì là ba? Đó là già, bệnh, chết. Thế gian nếu không có ba pháp không đáng yêu thích, không đáng nhớ nghĩ, không vừa ý này thì Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác không xuất hiện ở thế gian; thế gian cũng không biết có Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Vì thế gian có ba pháp già, bệnh, chết, không đáng yêu thích, không đáng nhớ nghĩ và không vừa ý này, cho nên Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác mới xuất hiện ở thế gian; thế gian biết có Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.
“Vì ba pháp chưa đoạn nên không thể thoát khỏi già, bệnh, chết. Ba pháp đó là tham, nhuế, si.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa tham, nhuế, si. Ba pháp đó là thân kiến, giới thủ, nghi.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được thân kiến, giới thủ, nghi. Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không chánh tri, loạn tâm.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa thất niệm, không chánh tri, loạn tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật nghi, chẳng học giới.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa dao động, không luật nghi, chẳng học giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy, lười biếng.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa không tin, khó dạy, lười biếng. Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh, chẳng muốn nghe pháp, thường hay tìm điều dở của người.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể xa lìa không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm cầu điều dở của người. Ba pháp đó là không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không quý, buông lung. Vì ba pháp này không đoạn trừ nên không thể lìa được không cung kính, nói năng ngang trái, quen bạn xấu. Vì sao? Vì do không tàm, không quí nên buông lung; vì buông lung nên không cung kính; vì không cung kính nên quen theo bạn xấu; vì quen theo bạn xấu nên không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, hay ưa tìm điều dở của người; vì ưa tìm điều dở của người nên không tin, khó dạy, nói năng ngang trái, lười biếng; vì lười biếng nên dao động, không luật nghi, không học giới; vì không học giới nên thất niệm, không chánh tri, loạn tâm; vì loạn tâm nên không chánh tư duy, thân cận tà đạo, tâm biếng nhác; vì tâm biếng nhác nên thân kiến, giới thủ, nghi; vì nghi nên không lìa tham, nhuế, si; vì không lìa tham, nhuế, si nên không thể lìa được già, bệnh, chết.
“Nếu dứt được ba pháp này thì mới có thể lìa được già, bệnh, chết. Ba pháp đó là tham, nhuế, si. Ba pháp này dứt rồi mới có thể lìa già, bệnh, chết.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tham, nhuế, si. Ba pháp đó là thân kiến, giới thủ, nghi. Vì dứt được ba pháp này nên có thể lìa được tham, sân, si.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa thân kiến, giới thủ, nghi. Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận tà đạo, khởi tâm biếng nhác. Vì dứt ba pháp này nên lìa thân kiến, giới thủ, nghi.
“Lại vì dứt ba pháp nên có lìa không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không chánh tri, loạn tâm. Vì dứt ba pháp này nên lìa được không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.
“Lại vì dứt được ba pháp này nên lìa được thất niệm, tâm không chánh tri, loạn tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật nghi, phạm giới. Vì dứt ba pháp này nên lìa được thất niệm, tâm không chánh tri, loạn tâm.
“Lại vì dứt ba pháp nên lìa được dao động, chẳng luật nghi, phạm giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy, biếng nhác. Vì dứt được ba pháp này nên lìa được dao động, không luật nghi, phạm giới.
“Lại vì dứt được ba pháp nên lìa được chẳng tin, khó dạy, biếng nhác. Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh, không ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Vì dứt ba pháp này nên có thể lìa được không tin, khó dạy, biếng nhác.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tâm không muốn thấy bậc Thánh, không ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Ba pháp đó là không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu. Vì dứt được ba pháp này nên lìa sự không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm điều dở của người.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa chẳng cung kính, nói năng ngang ngược, tập theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không quí, buông lung. Vì sao? Vì do tàm quí nên không buông lung. Vì không buông lung nên tâm cung kính, nói năng hòa nhã, làm thiện tri thức. Vì là thiện tri thức nên ưa thấy Hiền thánh, ưa nghe Chánh pháp, chẳng tìm điều dở của người. Vì chẳng ưa tìm điều dở của người nên sanh lòng tin, nói năng hòa nhã và tinh tấn. Vì tinh tấn nên không dao động, an trú trong luật nghi, học giới. Nhờ học giới nên không thất niệm, an trú chánh tri, chẳng loạn tâm. Nhờ không loạn tâm nên chánh tư duy, gần gũi chánh đạo, tâm không biếng nhác. Nhờ tâm không biếng nhác nên không chấp trước thân kiến, không chấp trước giới thủ, vượt khỏi nghi hoặc. Nhờ chẳng nghi nên chẳng khởi tham, nhuế, si. Nhờ lìa tham, nhuế, si nên có thể dứt già, bệnh, chết.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住王舍城迦蘭陀竹
T 0095c18
園。
爾時,世尊告諸比丘:「有三法,世間所不
T 0095c19
愛、不念、不可意。何等為三?謂老、病、死。世間若
T 0095c20
無此三法不可愛、不可念、不可意者,如來、應、
T 0095c21
等正覺不出於世間,世間亦不知有如來、
T 0095c22
應、等正覺知見,說正法、律。以世間有老、病、
T 0095c23
死三法不可愛、不可念、不可意故,是故如來、
T 0095c24
應、等正覺出於世間,世間知有如來、應、等
T 0095c25
正覺所知、所見,說正法、律。
「以三法不斷故,
T 0095c26
不堪能離老、病、死。何等為三?謂貪、恚、癡,復
T 0095c27
有三法不斷故,不堪能離貪、恚、癡。何等為
T 0095c28
三?謂身見、戒取、疑,復有三法不斷故,不堪
T 0095c29
能離身見、戒取、疑。何等為三?謂不正思惟、
T 0096a01
習近邪道,及懈怠心,復有三法不斷故,不
T 0096a02
堪能離不正思惟、習近邪道及懈怠心。何等
T 0096a03
為三?謂失念、不正知、亂心,復有三法不斷
T 0096a04
故,不堪能離失念、不正知、亂心。何等為三?
T 0096a05
謂掉、不律儀、不學戒,復有三法不斷故,不
T 0096a06
堪能離掉、不律儀、不學戒。何等為三?謂不
T 0096a07
信、難教、懈怠,復有三法不斷故,不堪能
T 0096a08
離不信、難教、嬾墮。何等為三?謂不欲見聖、
T 0096a09
不欲聞法、常求人短,復有三法不斷故,
T 0096a10
不堪能離不欲見聖、不欲聞法、常求人短。
T 0096a11
何等為三?謂不恭敬、戾語、習惡知識,復有三
T 0096a12
法不斷故,不堪能離不恭敬、戾語、習惡知
T 0096a13
識。何等為三?謂無慚、無愧、放逸,此三法不斷
T 0096a14
故,不堪能離不恭敬、戾語、習惡知識。
「所以
T 0096a15
者何?以無慚、無愧故放逸,放逸故不恭敬,
T 0096a16
不恭敬故習惡知識,習惡知識故不欲見
T 0096a17
聖、不欲聞法、常求人短,求人短故不信、
T 0096a18
難教、戾語、嬾墮,嬾墮故掉、不律儀、不學戒,不
T 0096a19
學戒故失念、不正知、亂心,亂心故不正思惟、
T 0096a20
習近邪道、懈怠心,懈怠心故身見、戒取、疑,疑
T 0096a21
故不離貪、恚、癡,不離貪、恚、癡故不堪能
T 0096a22
離老、病、死。
「斷三法故,堪能離老、病、死。云
T 0096a23
何三?謂貪、恚、癡,此三法斷已,堪能離老、病、
T 0096a24
死,復三法斷故,堪能離貪、恚、癡。云何三?謂
T 0096a25
身見、戒取、疑,此三法斷故,堪能離貪、恚、癡,
T 0096a26
復三法斷故,堪能離身見、戒取、疑。云何為
T 0096a27
三?謂不正思惟、習近邪道、起懈怠心,此三
T 0096a28
法斷故,堪能離身見、戒取、疑,復三法斷故,
T 0096a29
堪能離不正思惟、習近邪道及懈怠心。云何
T 0096b01
為三?謂失念心、不正知、亂心,此三法斷故,
T 0096b02
堪能離不正思惟、習近邪道及心懈怠,復三
T 0096b03
法斷故,堪能離失念心、不正知、亂心。何等
T 0096b04
為三?謂掉、不律儀、犯戒,此三法斷故,堪
T 0096b05
能離失念心、不正知、亂心,復有三法斷故,
T 0096b06
堪能離掉、不律儀、犯戒。云何三?謂不信、難
T 0096b07
教、嬾墮,此三法斷故,堪能離掉、不律儀、犯
T 0096b08
戒,復有三法斷故,堪能離不信、難教、嬾墮。
T 0096b09
云何為三?謂不欲見聖、不樂聞法、好求
T 0096b10
人短,此三法斷故,堪能離不信、難教、嬾墮,
T 0096b11
復三法斷故,堪能離不欲見聖、不欲聞法、好
T 0096b12
求人短。云何為三?謂不恭敬、戾語、習惡知
T 0096b13
識,此三法斷故,離不欲見聖、不欲聞法、好
T 0096b14
求人短,復有三法斷故,堪能離不恭敬、戾
T 0096b15
語、習惡知識。云何三?謂無慚、無愧、放逸。
「所以
T 0096b16
者何?以慚愧故不放逸,不放逸故恭敬順
T 0096b17
語、為善知識,為善知識故樂見賢聖、樂聞
T 0096b18
正法、不求人短,不求人短故生信、順語、精
T 0096b19
進,精進故不掉、住律儀、學戒,學戒故不失念、
T 0096b20
正知、住不亂心,不亂心故正思惟、習近正道、
T 0096b21
心不懈怠,心不懈怠故不著身見、不著
T 0096b22
戒取、度疑惑,不疑故不起貪、恚、癡,離貪、恚、
T 0096b23
癡故堪能斷老、病、死。」
佛說此經已,諸比丘
T 0096b24
聞佛所說,歡喜奉行。
T 0096b25