Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-na-luật đang ở tại tinh xá Tòng lâm. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ở nơi rừng Khủng bố nơi có nhiều cầm thú, trong núi Thất-thâu-ma-la, thôn Bạt-kỳ. Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật ở một mình chỗ vắng, thiền tịnh tư duy. Tôn giả nghĩ thầm: ‘Có nhất thừa đạo khiến cho chúng sanh được thanh tịnh, lìa ưu bi, khổ, não, được pháp chân như. Đó là bốn Niệm xứ. Những gì là bốn? Niệm xứ quán thân trên thân, niệm xứ quán thọ, tâm, pháp trên pháp. Nếu người nào xa lìa bốn Niệm xứ là xa lìa Thánh pháp. Người nào xa lìa Thánh pháp là xa lìa Thánh đạo. Người nào xa lìa Thánh đạo là xa lìa Pháp giải thoát. Người nào xa lìa Pháp giải thoát là không vượt qua khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Nếu người nào ưa thích bốn Niệm xứ thì cũng tin ưa Thánh pháp. Người nào tin ưa Thánh pháp thì tin ưa Thánh đạo. Người nào tin ưa Thánh đạo là tin ưa pháp cam lộ. Người nào tin ưa pháp cam lộ là thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.’
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên biết được ý nghĩ của Tôn giả A-na-luật, trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay dùng thần lực biến khỏi rừng Khủng bố chỗ nuôi cầm thú trong núi Thất-thâu-ma-la, thôn Bạt-kỳ và hiện ra trước Tôn giả A-na-luật, tại tinh xá Tòng lâm nơi thành Xá-vệ, bảo A-na-luật rằng:
“Phải chăng Thầy ở một mình nơi chỗ vắng, thiền tịnh, tư duy nghĩ rằng: ‘Có đạo nhất thừa khiến cho chúng sanh được thanh tịnh, lìa ưu bi, khổ, não, được chân như. Đó là bốn Niệm xứ. Những gì là bốn? Niệm xứ quán thân trên thân, niệm xứ quán thọ, tâm, pháp trên pháp. Nếu người nào xa lìa bốn Niệm xứ là xa lìa Thánh pháp. Người nào xa lìa Thánh pháp là xa lìa Thánh đạo. Người nào xa lìa Thánh đạo là xa lìa Pháp giải thoát. Người nào xa lìa Pháp giải thoát là không vượt qua khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Nếu người nào ưa thích bốn Niệm xứ thì cũng tin ưa Thánh pháp. Người nào tin ưa Thánh pháp thì tin ưa Thánh đạo. Người nào tin ưa Thánh đạo là tin ưa pháp cam lộ. Người nào tin ưa pháp cam lộ là thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.’
Tôn giả A-na-luật nói với Tôn giả Đại Mục-kiền-liên:
“Đúng vậy! Đúng vậy! Thưa Tôn giả.”
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói Tôn giả A-na-luật:
“Thế nào gọi là tin ưa bốn Niệm xứ?”
“Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo nào đối với niệm xứ quán thân trên thân, tâm duyên thân, an trụ với chánh niệm, điều phục, tĩnh chỉ, an tĩnh, tịch tĩnh, nhất tâm tăng tiến. Cũng vậy, đối với quán niệm xứ thọ, tâm, pháp, mà an trụ với chánh niệm, điều phục, tĩnh chỉ, an tĩnh, tịch tĩnh, nhất tâm tăng tiến. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, đó gọi là Tỳ-kheo tin ưa bốn Niệm xứ.”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bằng tam-muội chánh thọ như vậy, từ cửa tinh xá Tòng lâm nước Xá-vệ, trở về rừng Khủng bố chỗ nuôi cầm thú trong núi Thất-thâu-ma-la nơi thôn Bạt-kỳ.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給
T 0139a17
孤獨園。爾時,尊者阿那律住松林精舍。
T 0139a18
時,尊者大目犍連住跋祇聚落失收摩羅
T 0139a19
山恐怖稠林禽獸之處。
時,尊者阿那律獨
T 0139a20
一靜處,禪思思惟,作是念:「有一乘道,淨
T 0139a21
眾生,離憂、悲、惱、苦,得真如法,所謂四念
T 0139a22
處。何等為四?身身觀念處,受、心、法法觀
T 0139a23
念處。若於四念處遠離者,於賢聖法遠離;
T 0139a24
於賢聖法遠離者,於聖道遠離;聖道遠離
T 0139a25
者,於甘露法遠離;甘露法遠離者,則不
T 0139a26
能脫生、老、病、死、憂、悲、惱、苦。若於四念處信
T 0139a27
樂者,於聖法信樂;聖法信樂者,於聖道
T 0139a28
信樂;聖道信樂者,於甘露法信樂;甘露法
T 0139a29
信樂者,得脫生、老、病、死、憂、悲、惱、苦。」
爾時,尊
T 0139b01
者大目揵連知尊者阿那律心之所念,如力
T 0139b02
士屈伸臂頃,以神通力於跋祇聚落失
T 0139b03
收摩羅山恐怖稠林禽獸之處沒,至舍
T 0139b04
衛城松林精舍尊者阿那律前現,語阿那
T 0139b05
律言:「汝獨一靜處,禪思思惟,作是念:『有
T 0139b06
一乘道,令眾生清淨,離生、老、病、死、憂、悲、惱、
T 0139b07
苦,得真如法,所謂四念處。何等為四?身身
T 0139b08
觀念處,受、心、法法觀念處。若於四念處不
T 0139b09
樂者,於賢聖法不樂;聖法不樂者,於
T 0139b10
聖道不樂;不樂聖道者,於甘露法亦
T 0139b11
不樂;不樂甘露法者,則不能脫生、老、病、
T 0139b12
死、憂、悲、惱、苦。若於四念處信樂者,樂賢聖
T 0139b13
法;樂賢聖法者,樂於聖道;樂聖道者,得
T 0139b14
甘露法;得甘露法者,得脫生、老、病、死、憂、悲、
T 0139b15
惱、苦。』耶?」
尊者阿那律語尊者大目揵連言:
T 0139b16
「如是,如是。尊者!」
大目犍連語尊者阿那律
T 0139b17
言:「云何名為樂四念處?」
尊者大目犍連:「若
T 0139b18
比丘身身觀念處,心緣身正念住調伏、止
T 0139b19
息、寂靜,一心增進。如是,受、心、法念處,正念
T 0139b20
住調伏、止息、寂靜,一心增進,尊者大目犍連,
T 0139b21
是名比丘樂四念處。」
時,尊者大目犍連即如
T 0139b22
其像三昧正受,從舍衛國松林精舍門,還
T 0139b23
至跋祇聚落失收摩羅山恐怖稠林禽獸
T 0139b24
之處。
T 0139b25