Nội dung bài kinh
Kinh kế này cũng nói như trên, nhưng có một vài sai biệt:
“Thánh đệ tử như vậy có bốn thứ phước đức thấm nhuần, thiện pháp thấm nhuần; nếu đem công đức ra để so sánh, nhiếp thọ, thì không thể so sánh là được bao nhiêu phước quả, bao nhiêu quả, bao nhiêu phước quả đã tích tập. Nhưng chúng được kể là rất nhiều phước lợi, điều đó được cho là sự tích tụ phước đức lớn. Thí như hợp lưu của năm con sông: Hằng hà, Da-bồ-na, Tát-la-do, Y-la-bạt-đề, Ma-hê; nước hiệp lưu các con sông này dù có dùng trăm bình, ngàn bình, trăm ngàn vạn bình cũng không thể nào đong lường được, vì nước này quá nhiều, điều đó được cho là sự hợp tụ các dòng nước lớn. Cũng vậy Thánh đệ tử đã thành tựu bốn thứ công đức thấm nhuần, nên không thể đo lường được phước đức của họ là nhiều hay ít, vì sự nhiều phước của họ được hiểu là do sự tích tụ nhiều thứ công đức lớn. Cho nên các Tỳ-kheo phải học như vầy: ‘Ta sẽ thành bất hoại tịnh đối với Phật, bất hoại tịnh đối với Pháp, Tăng và thành tựu Thánh giới.”
Sau đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Biển lớn nhiều tốt lành,
Sạch mình, sạch vật khác;
Sâu rộng mà lặng trôi,
Gồm đầy trăm dòng nước.
Tất cả các sông rạch,
Đều quy về biển lớn;
Nơi các loài nương sống.
Thân này cũng như vậy,
Tu công đức thí, giới;
Nơi trăm phước quy về.
Nội dung bài kinh
次經亦如上說。差別者:「如是聖弟子
T 0215a15
四種福德潤澤,善法潤澤,攝受稱量功德,
T 0215a16
不可稱量爾所果福、爾所果、爾所福果集,
T 0215a17
然彼得眾多福利,是大功德聚數。譬如五河
T 0215a18
合流,謂恒河、耶菩那、薩羅由、伊羅跋
T 0215a19
提、摩醯,於彼諸水無能度量百瓶、千瓶、百
T 0215a20
千萬瓶者,然彼水多,是大水聚數。如是聖弟
T 0215a21
子成就四功德潤澤者,無能度量其福多
T 0215a22
少,然彼多福,是大功德聚數。是故,諸比丘!
T 0215a23
當作是學:『我當成就於佛不壞淨,於法、
T 0215a24
僧不壞淨,聖戒成就。』」
爾時,世尊即說偈言:
T 0215a25
「眾吉之巨海, 自淨能淨彼,
T 0215a26
汪洋而平流, 實諸百川長,
T 0215a27
一切諸江河, 群生之所依,
T 0215a28
悉歸於大海, 此身亦復然,
T 0215a29
施戒修功德, 百福流所歸。」
T 0215b01