Nội dung bài kinh
BJT 1152
“Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, nội tâm khéo được định tĩnh, chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
BJT 1153
Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
BJT 1154
Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, khéo được định tĩnh nội tâm, chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
BJT 1155
Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
BJT 1156
‘Này cái chòi nhỏ có khung sườn là xương, được khâu lại với thịt và gân. Thật ghê tởm những thân xác với mùi khó chịu, nàng còn âu yếm thân thể của người khác.
BJT 1157
Này cái túi chứa phân, này vật được gói lại bằng lớp da, này nữ yêu tinh có (hai) khối u ở ngực, chín dòng chảy ở thân thể của nàng luôn luôn tuôn trào.
BJT 1158
Cơ thể của nàng có chín dòng chảy, tạo ra mùi khó chịu, là vật chướng ngại. Vị tỳ khưu tránh xa nó, giống như tránh xa cục phân, với ước muốn được trong sạch.
BJT 1159
Nếu người ta biết về nàng, giống như ta biết về nàng, họ sẽ tránh né ra xa, như là (tránh xa) bãi chứa phân vào lúc mưa.’
BJT 1160
‘Thưa vị đại anh hùng, thưa ngài Sa-môn, điều ấy là như vậy, giống như ngài đã nói. Và nhiều người chìm đắm ở nơi này, tựa như con bò già (chìm đắm) ở vũng lầy.’
BJT 1161
‘Kẻ nào suy nghĩ để tô màu vàng nghệ hoặc bất cứ màu nào khác ở bầu trời, việc ấy chỉ đem lại phiền muộn.
BJT 1162
Tâm này, tương tự như bầu trời, nội phần khéo được định tĩnh. Này cô nàng có tâm địa xấu xa, chớ công kích, tựa như loài bướm đêm công kích đống lửa.
BJT 1163
Hãy nhìn xem bóng dáng được vẽ màu, nơi hội tụ các vết thương, được dựng lên (bằng ba trăm khúc xương), bệnh hoạn, nhiều suy tư (sái quấy), không có sự tồn tại trường cửu.
BJT 1164
Hãy nhìn xem vóc dáng được vẽ màu, với ngọc ma-ni và với bông tai; là xương được bọc lại bởi da, nó rạng rỡ nhờ những vải vóc.
BJT 1165
Các bàn chân được sơn màu đỏ, khuôn mặt được bôi phấn bột, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1166
Các sợi tóc được làm thành tám lớp, các con mắt được bôi thuốc màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1167
Thân thể hôi thối đã được trang điểm tựa như hộp thuốc bôi đã được vẽ màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1168
Thợ săn đã đặt bẫy mồi, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ bắt thú đang than vãn.
BJT 1169
Cái bẫy mồi của gã thợ săn đã bị đứt lìa, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ săn thú sầu muộn.’
BJT 1170
Khi Sāriputta, vị đã thành tựu nhiều biểu hiện, Niết Bàn, khi ấy đã có sự kinh sợ, khi ấy đã có sự nổi da gà.
BJT 1171
Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.
BJT 1172
Những người nào nhìn thấy năm uẩn là cái khác, không phải là bản ngã, những người ấy thấu triệt điều tinh vi, giống như xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
BJT 1173
Và những người nào nhìn thấy các hành là cái khác, không phải là bản ngã, những người ấy đã thấu triệt điều vi tế, giống như đã xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
BJT 1174
Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục.
BJT 1175
Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở hiện hữu.
BJT 1176
Được khích lệ bởi vị có bản thân đã được tu tập, bởi vị có sự mang thân mạng cuối cùng, bằng ngón chân cái tôi đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu.
BJT 1177
Niết Bàn, sự thoát khỏi tất cả các mối buộc thắt, có thể được chứng đắc; việc này không liên quan sự lơi lỏng, không phải với chút ít sức lực.
BJT 1178
Và vị tỳ khưu trẻ này, con người tối thượng này, mang thân mạng cuối cùng, sau khi chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.
BJT 1179
Các tia sét đã đánh dọc theo khe núi Vebhāra và Paṇḍava, người con trai của bậc không người đối xứng như thế ấy đã đi vào khe núi, tham thiền.
BJT 1180
Bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế, có chỗ ngụ xa vắng, là người thừa tự của đức Phật tối thượng, được đấng Phạm Thiên lễ bái.
BJT 1181
Này Bà-la-môn, hãy đảnh lễ vị Kassapa, bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế, có chỗ ngụ xa vắng, là người thừa tự của đức Phật tối thượng.
BJT 1182
Và người nào có thể trải qua một trăm kiếp sống ở giữa loài người lần này lần khác, tất cả đều là dòng dõi Bà-la-môn, có các sự tốt lành, thành tựu về kinh Vệ Đà.
BJT 1183
Thậm chí nếu có thể là người giảng dạy, vượt qua bờ kia của ba bộ Vệ Đà, việc ấy không giá trị bằng một phần mười sáu của việc đảnh lễ đến vị (Kassapa) ấy.
BJT 1184
Vị ấy, trước bữa ăn, đã chạm đến tám (thiền) giải thoát, thuận chiều và nghịch chiều, sau đó mới đi khất thực.
BJT 1185
Này Bà-la-môn, chớ công kích vị tỳ khưu như thế ấy, chớ đào sâu bản ngã, ngươi hãy khởi tâm tịnh tín ở vị A-la-hán như thế ấy, hãy mau chắp tay đảnh lễ, chớ làm vỡ tan cái đầu của ngươi.
BJT 1186
Bị dẫn đầu bởi sự luân hồi, kẻ này không nhìn thấy Diệu Pháp, gã chạy theo con đường sai trái, con đường cong quẹo dẫn xuống phía dưới.
BJT 1187
Tựa như con dòi bị lấm lem bởi phẩn, bị bám víu vào pháp hữu vi, bị đắm chìm trong lợi lộc và sự tôn vinh, Poṭhila rỗng không ra đi.
BJT 1188
Và hãy nhìn xem vị Sāriputta đang đi đến, có dáng vẻ tốt đẹp, đã được giải thoát ở cả hai phần, nội tâm khéo được định tĩnh.
BJT 1189
Vị không còn mũi tên, có sự ràng buộc đã được cạn kiệt, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, bậc đáng được cúng dường, là thửa ruộng phước vô thượng của loài người.
BJT 1190
Nhiều vị Thiên nhân này, có thần thông, có danh tiếng, tất cả mười ngàn vị Thiên nhân được dẫn đầu bởi đấng Phạm Thiên, đứng, chắp tay lại, đang lễ bái vị Moggallāna.
BJT 1191
‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Các lậu hoặc của ngài đã được cạn kiệt. Thưa ngài, ngài là bậc đáng được cúng dường.’
BJT 1192
Được người và trời tôn vinh, bậc chế ngự Thần Chết đã được hiện khởi, không bị lấm lem bởi pháp hữu vi, tựa như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 1193
Vị tỳ khưu ấy, với năng lực về các loại thần thông, về việc tử và sanh, nhìn thấy chư Thiên vào lúc hợp thời, đối với vị ấy thế gian luôn cả Phạm Thiên giới được nhận biết bằng một ngàn cách trong giây lát.
BJT 1194
Còn vị tỳ khưu đã đi đến bờ kia, nếu là tối thắng y như thế ấy, chính là vị Sāriputta, với tuệ, với giới, và với sự an tịnh.
BJT 1195
Tôi có thể biến hóa ra trăm ngàn koṭi bản thể của mình trong giây lát. Là thiện xảo trong các việc biến hóa, tôi có được năng lực về thần thông.
BJT 1196
Vị dòng dõi Moggallāna, đã đi đến sự toàn hảo về năng lực của định và minh trong Giáo Pháp của bậc không bị vướng mắc, là vị thông minh, có giác quan được định tĩnh, đã cắt đứt sự trói buộc, giống như con voi giật đứt sợi dây rừng thối tha.
BJT 1197
Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 1198
Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia, rời nhà sống không nhà, mục đích ấy của tôi, sự cạn kiệt tất cả các điều ràng buộc, đã được thành tựu.
BJT 1199
Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế nào?
BJT 1200
Đã là trăm cây cọc sắt, tất cả có cảm thọ riêng biệt. Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế này.
BJT 1201
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1202
Các cung điện ngự ở giữa hồ, có sự tồn tại một kiếp, có màu ngọc bích, xinh đẹp, rực rỡ, chói lọi. Nơi ấy, nhiều tiên nữ nhảy múa, có bản thể và màu sắc khác biệt.
BJT 1203
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1204
Đúng vậy, vị này, được khích lệ bởi đức Phật, trong khi hội chúng tỳ khưu đang chứng kiến, đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu bằng ngón chân cái.
BJT 1205
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1206
Được hỗ trợ bởi năng lực của thần thông, vị này đã làm rung động tòa lâu đài Vejayanta bằng ngón chân cái, và đã làm chư Thiên kinh động.
BJT 1207
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1208
Ở tòa lâu đài Vejayanta, vị này hỏi (Thiên Chủ) Sakka rằng: ‘Thưa ngài, có phải ngài cũng biết về các sự giải thoát do sự cạn kiệt của tham ái?’ Được hỏi câu hỏi, (Thiên Chủ) Sakka đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật.
BJT 1209
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1210
Đứng tại cuộc hội họp ở Sudhammā, vị này hỏi đấng (Đại) Phạm Thiên rằng: ‘Thưa ngài, thậm chí hôm nay quan điểm ấy của ngài cũng là quan điểm của ngài đã có trước kia? Ngài có nhìn thấy sự chói lọi ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần không?’
BJT 1211
Được hỏi câu hỏi, Phạm Thiên đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật rằng: ‘Thưa ngài, quan điểm ấy không còn là của tôi, đó là quan điểm của tôi đã có trước kia.
BJT 1212
Tôi nhìn thấy sự chói lọi ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần. Làm thế nào hôm nay tôi đây có thể nói: Tôi là thường hằng, là trường tồn được?’
BJT 1213
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1214
Bằng sự giải thoát, vị này đã sờ vào chóp đỉnh của núi Neru vĩ đại, (luôn cả) khu rừng thuộc về Châu Pubbavideha, và những người đàn ông nằm ở mặt đất (thuộc Châu Uttarakuru).
BJT 1215
Thật vậy, ngọn lửa không nghĩ rằng: ‘Ta thiêu đốt kẻ ngu;’ chỉ có kẻ ngu bị thiêu đốt sau khi công kích ngọn lửa đã được cháy rực.
BJT 1216
Này Ma Vương, tương tự y như thế, sau khi công kích đức Như Lai, ngươi sẽ thiêu đốt bản thân chính mình, tựa như kẻ ngu chạm vào ngọn lửa.
BJT 1217
Sau khi công kích đức Như Lai, Ma Vương đã tạo ra điều vô phước. Này kẻ xấu xa, phải chăng ngươi nghĩ rằng: ‘Việc ác của ta không kết quả?’
BJT 1218
Này Thần Chết, việc ác của ngươi đang làm được tích lũy thời gian lâu dài. Này Ma Vương, ngươi hãy lánh xa đức Phật, ngươi chớ làm khó các vị tỳ khưu.
BJT 1219
Vị tỳ khưu ở khu rừng bhesakalā đã quở trách Ma Vương như thế. Do đó, Dạ-xoa ấy, buồn rầu, đã biến mất ngay tại chỗ ấy.”
Đại đức trưởng lão Mahāmoggallāna đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahāmoggallāna.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Sáu Mươi, vị Moggallāna có đại thần lực là vị trưởng lão độc nhất, các câu kệ ấy là sáu mươi tám.”
Nhóm Sáu Mươi được chấm dứt.