BJT 359Ta nằm ở trong bãi tha ma tựa vào bộ xương người chết. Đám trẻ con nhà quê đã đi đến và đã phô diễn hình thức (khuấy rối) không phải là ít.
BJT 360Các đứa khác mừng rỡ, với tâm trí phấn chấn, mang lại các quà tặng là hương thơm, vòng hoa, và vô số thực phẩm các loại.
BJT 361Ta đều bình đẳng đối với tất cả những ai gây ra khổ đau cho ta cũng như những ai đem lại cho ta an lạc; thương và giận đều không được biết đến.
BJT 362Là thăng bằng giữa an lạc và khổ đau, giữa các danh thơm và những tiếng xấu, ta đều bình đẳng trong mọi trường hợp; điều này là sự toàn hảo về hành xả của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahālomahaṁsa là phần thứ mười lăm.
Dứt sự toàn hảo về hành xả.
BÀI KỆ TÓM TẮT
BJT 363Chuyện Yudhañjaya, chuyện Somanassa, chuyện Ayoghara (ngôi nhà sắt), và chuyện Bhisa, chuyện Soṇa và Nanda, chuyện Mūgapakkha (Temiya), chuyện con khỉ chúa, và chuyện vị (đạo sĩ) tên Sacca.
BJT 364Chuyện chim cút con, và chuyện vua cá, chuyện ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, lại nữa ta đã là Sutasoma, Sāma, và Ekarājā, và đã có sự toàn hảo về hành xả; như thế đã được thuyết giảng bởi vị Đại Ẩn Sĩ.
BJT 365Sau khi kinh nghiệm khổ đau dưới nhiều hình thức và thành công với nhiều thể loại ở lần tái sanh này đến lần tái sanh khác như thế, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 366Sau khi bố thí những gì cần được bố thí, sau khi làm viên mãn giới hạnh không thiếu sót, sau khi đạt đến sự toàn hảo về xuất ly, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 367Sau khi đã vấn hỏi các bậc hiền trí, sau khi đã thể hiện sự tinh tấn tối thượng, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về nhẫn nại, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 368Sau khi đã thực hành sự quyết định vững chắc, sau khi đã hộ trì lời nói chân thật, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về từ ái, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 369Ðối với lợi lộc và không lợi lộc, đối với danh thơm và tiếng xấu, đối với sự kính trọng và chê bai, sau khi đã là bình đẳng trong mọi trường hợp, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 370Sau khi thấy được sự biếng nhác là nguy hiểm và việc khởi sự tinh tấn là an toàn, hãy nỗ lực tinh tấn; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 371Sau khi thấy được sự tranh cãi là nguy hiểm và sự không tranh cãi là an toàn, hãy hợp nhất, thân thiện; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 372Sau khi thấy được sự dễ duôi là nguy hiểm và sự không dễ duôi là an toàn, hãy tu tập đạo lộ tám chi phần; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
Phẩm Yudhañjaya là thứ ba.
Ở đây, trong khi trình bày về phẩm hạnh quá khứ của bản thân, đức Thế Tôn đã thuyết giảng về bản thể của Giáo Pháp có tên là Buddhāpadāniyaṁ.
Hạnh Tạng được đầy đủ.
2, 3. Xem thêm phần Phụ Chú ở trang 333.
BJT 4Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 443.
“Susāne seyyaṁ kappemi,
Chavaṭṭhikaṁ upanidhāyahaṁ;
Gāmaṇḍalā upāgantvā,
Rūpaṁ dassentinappakaṁ.
Apare gandhamālañca,
bhojanaṁ vividhaṁ bahuṁ;
Upāyanānūpanenti,
haṭṭhā saṁviggamānasā.
Ye me dukkhaṁ upaharanti,
ye ca denti sukhaṁ mama;
Sabbesaṁ samako homi,
dayā kopo na vijjati.
Sukhadukkhe tulābhūto,
Yasesu ayasesu ca;
Sabbattha samako homi,
Esā me upekkhāpāramī”ti.
Mahālomahaṁsacariyaṁ pannarasamaṁ.
Yudhañjayavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Yudhañjayo somanasso,
ayogharabhisena ca;
Soṇanando mūgapakkho,
kapirājā saccasavhayo.
Vaṭṭako maccharājā ca,
kaṇhadīpāyano isi;
Sutasomo puna āsiṁ,
sāmo ca ekarājahu;
Upekkhāpāramī āsi,
iti vutthaṁ mahesinā.
Evaṁ bahubbidhaṁ dukkhaṁ,
sampattī ca bahubbidhā;
Bhavābhave anubhavitvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Datvā dātabbakaṁ dānaṁ,
sīlaṁ pūretvā asesato;
Nekkhamme pāramiṁ gantvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Paṇḍite paripucchitvā,
vīriyaṁ katvāna muttamaṁ;
Khantiyā pāramiṁ gantvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Katvā daḷhamadhiṭṭhānaṁ,
saccavācānurakkhiya;
Mettāya pāramiṁ gantvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Lābhālābhe yasāyase,
sammānanāvamānane;
Sabbattha samako hutvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Kosajjaṁ bhayato disvā,
vīriyārambhañca khemato;
Āraddhavīriyā hotha,
esā buddhānusāsanī.
Vivādaṁ bhayato disvā,
avivādañca khemato;
Samaggā sakhilā hotha,
esā buddhānusāsanī.
Pamādaṁ bhayato disvā,
appamādañca khemato;
Bhāvethaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
esā buddhānusāsanī.
Itthaṁ sudaṁ bhagavā attano pubbacariyaṁ sambhāvayamāno buddhāpadāniyaṁ nāma dhammapariyāyaṁ abhāsitthāti.
Cariyāpiṭakaṁ niṭṭhitaṁ.
“I made my bed in a charnel ground,
resting on a skeleton.
Village louts came up
and mocked me in all sorts of ways.
Others brought me
incense and flowers,
and many kinds of cooked food,
all thrilled, their minds elated.
Those who brought me pain,
and those who gave me happiness,
were all the same to me.
I felt no favor or anger.
I became balanced towards pleasure and pain,
fame and disgrace.
I was equal in every case:
this is my perfection of equanimity.”
Having thus experience many kinds of suffering
and many kinds of success,
in various past lives,
I realized supreme awakening.
I gave what could be given,
and fulfilled ethics without reserve.
having won the perfection of renunciation,
I realized supreme awakening.
I inquired of the astute,
and put forth highest effort,
having won the perfection of acceptance,
I realized supreme awakening.
Having made a firm resolve,
and guarded truthful speech,
having won the perfection of love,
I realized supreme awakening.
In gain and loss, fame and disgrace,
respect and contempt,
having become equal in every case,
I realized supreme awakening.
Seeing laziness as fearful,
and energy as a sanctuary,
rouse up energy:
this is the Buddhas instruction!
Seeing dispute as fearful,
and harmony as a sanctuary,
be harmonious and courteous:
this is the Buddhas instruction!
Seeing negligence as fearful,
and diligence as a sanctuary,
develop the eightfold path:
this is the Buddhas instruction!
That is how the Buddha, illustrating his own conduct in past lives, spoke the exposition of the teaching name the “Legends of the Buddha”.
BJT 359Ta nằm ở trong bãi tha ma tựa vào bộ xương người chết. Đám trẻ con nhà quê đã đi đến và đã phô diễn hình thức (khuấy rối) không phải là ít.
BJT 360Các đứa khác mừng rỡ, với tâm trí phấn chấn, mang lại các quà tặng là hương thơm, vòng hoa, và vô số thực phẩm các loại.
BJT 361Ta đều bình đẳng đối với tất cả những ai gây ra khổ đau cho ta cũng như những ai đem lại cho ta an lạc; thương và giận đều không được biết đến.
BJT 362Là thăng bằng giữa an lạc và khổ đau, giữa các danh thơm và những tiếng xấu, ta đều bình đẳng trong mọi trường hợp; điều này là sự toàn hảo về hành xả của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahālomahaṁsa là phần thứ mười lăm.
Dứt sự toàn hảo về hành xả.
BÀI KỆ TÓM TẮT
BJT 363Chuyện Yudhañjaya, chuyện Somanassa, chuyện Ayoghara (ngôi nhà sắt), và chuyện Bhisa, chuyện Soṇa và Nanda, chuyện Mūgapakkha (Temiya), chuyện con khỉ chúa, và chuyện vị (đạo sĩ) tên Sacca.
BJT 364Chuyện chim cút con, và chuyện vua cá, chuyện ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, lại nữa ta đã là Sutasoma, Sāma, và Ekarājā, và đã có sự toàn hảo về hành xả; như thế đã được thuyết giảng bởi vị Đại Ẩn Sĩ.
BJT 365Sau khi kinh nghiệm khổ đau dưới nhiều hình thức và thành công với nhiều thể loại ở lần tái sanh này đến lần tái sanh khác như thế, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 366Sau khi bố thí những gì cần được bố thí, sau khi làm viên mãn giới hạnh không thiếu sót, sau khi đạt đến sự toàn hảo về xuất ly, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 367Sau khi đã vấn hỏi các bậc hiền trí, sau khi đã thể hiện sự tinh tấn tối thượng, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về nhẫn nại, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 368Sau khi đã thực hành sự quyết định vững chắc, sau khi đã hộ trì lời nói chân thật, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về từ ái, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 369Ðối với lợi lộc và không lợi lộc, đối với danh thơm và tiếng xấu, đối với sự kính trọng và chê bai, sau khi đã là bình đẳng trong mọi trường hợp, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 370Sau khi thấy được sự biếng nhác là nguy hiểm và việc khởi sự tinh tấn là an toàn, hãy nỗ lực tinh tấn; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 371Sau khi thấy được sự tranh cãi là nguy hiểm và sự không tranh cãi là an toàn, hãy hợp nhất, thân thiện; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 372Sau khi thấy được sự dễ duôi là nguy hiểm và sự không dễ duôi là an toàn, hãy tu tập đạo lộ tám chi phần; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
Phẩm Yudhañjaya là thứ ba.
Ở đây, trong khi trình bày về phẩm hạnh quá khứ của bản thân, đức Thế Tôn đã thuyết giảng về bản thể của Giáo Pháp có tên là Buddhāpadāniyaṁ.
Hạnh Tạng được đầy đủ.
2, 3. Xem thêm phần Phụ Chú ở trang 333.
BJT 4Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 443.
“Susāne seyyaṁ kappemi,
Chavaṭṭhikaṁ upanidhāyahaṁ;
Gāmaṇḍalā upāgantvā,
Rūpaṁ dassentinappakaṁ.
Apare gandhamālañca,
bhojanaṁ vividhaṁ bahuṁ;
Upāyanānūpanenti,
haṭṭhā saṁviggamānasā.
Ye me dukkhaṁ upaharanti,
ye ca denti sukhaṁ mama;
Sabbesaṁ samako homi,
dayā kopo na vijjati.
Sukhadukkhe tulābhūto,
Yasesu ayasesu ca;
Sabbattha samako homi,
Esā me upekkhāpāramī”ti.
Mahālomahaṁsacariyaṁ pannarasamaṁ.
Yudhañjayavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Yudhañjayo somanasso,
ayogharabhisena ca;
Soṇanando mūgapakkho,
kapirājā saccasavhayo.
Vaṭṭako maccharājā ca,
kaṇhadīpāyano isi;
Sutasomo puna āsiṁ,
sāmo ca ekarājahu;
Upekkhāpāramī āsi,
iti vutthaṁ mahesinā.
Evaṁ bahubbidhaṁ dukkhaṁ,
sampattī ca bahubbidhā;
Bhavābhave anubhavitvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Datvā dātabbakaṁ dānaṁ,
sīlaṁ pūretvā asesato;
Nekkhamme pāramiṁ gantvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Paṇḍite paripucchitvā,
vīriyaṁ katvāna muttamaṁ;
Khantiyā pāramiṁ gantvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Katvā daḷhamadhiṭṭhānaṁ,
saccavācānurakkhiya;
Mettāya pāramiṁ gantvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Lābhālābhe yasāyase,
sammānanāvamānane;
Sabbattha samako hutvā,
patto sambodhimuttamaṁ.
Kosajjaṁ bhayato disvā,
vīriyārambhañca khemato;
Āraddhavīriyā hotha,
esā buddhānusāsanī.
Vivādaṁ bhayato disvā,
avivādañca khemato;
Samaggā sakhilā hotha,
esā buddhānusāsanī.
Pamādaṁ bhayato disvā,
appamādañca khemato;
Bhāvethaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
esā buddhānusāsanī.
Itthaṁ sudaṁ bhagavā attano pubbacariyaṁ sambhāvayamāno buddhāpadāniyaṁ nāma dhammapariyāyaṁ abhāsitthāti.
Cariyāpiṭakaṁ niṭṭhitaṁ.