“Đức vua nhìn các vị tỳ khưu sống ở rừng đã được gắn bó với các hạnh từ khước, rồi nhìn lại những người tại gia đã trú ở quả vị Bất Lai.
Sau khi quan sát cả hai hạng ấy, có nỗi nghi hoặc lớn đã khởi lên: ‘Nếu người tại gia có thể giác ngộ Giáo Pháp, thì pháp từ khước là không có kết quả.
Vậy ta nên hỏi vị thuyết giảng hạng nhất, được thông thạo về Tam Tạng, có sự nghiền nát học thuyết của các diễn giả khác, vị ấy sẽ tiêu diệt nỗi nghi ngờ của ta.”
BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, có người tại gia nào, sống ở nhà, trong khi sinh sống có sự thọ hưởng các dục, có việc nằm chen chúc với vợ và con, trong khi hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, trong khi đeo tràng hoa, vật thơm, và vật thoa, trong khi ưng thuận vàng và bạc, buộc búi tóc có trang điểm ngọc ma-ni, ngọc trai, và vàng, mà người ấy đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, không?”
“Tâu đại vương, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba bốn năm trăm, không phải một ngàn, không phải một trăm koṭi, không phải một ngàn koṭi, không phải một trăm ngàn koṭi. Tâu đại vương, hãy bỏ qua sự lãnh hội của mười, của hai mươi, của một trăm, của một ngàn (người tại gia), tôi có thể cho đại vương câu trả lời bằng phương thức nào?”
“Chính ngài hãy nói về điều ấy.”
“Tâu đại vương, như thế thì tôi sẽ nói với đại vương về một trăm, hay một ngàn, hay một trăm ngàn, hay một koṭi, hay một trăm koṭi, hay một ngàn koṭi, hay một trăm ngàn koṭi. Bất cứ lời giảng nào về Phật Pháp gồm chín thể loại được liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý về hạnh từ khước, tất cả các lời giảng ấy sẽ tập trung lại ở đây.
Tâu đại vương, giống như nước đã được đổ mưa ở các phần đất lõm xuống hoặc nhô lên, bằng phẳng hoặc gồ ghề, đất liền hay không phải đất liền, sau khi rơi xuống từng giọt ở khắp nơi rồi từ đó tập trung lại ở đại dương biển cả. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi có người tiếp nhận thì bất cứ lời giảng nào về Phật Pháp gồm chín thể loại được liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý về hạnh từ khước, tất cả các lời giảng ấy sẽ tập trung lại ở đây.
Tâu đại vương, việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của tôi sẽ tập trung lại ở đây, nhờ vậy ý nghĩa ấy sẽ khéo được phân tích, được thêm thắt, được đầy đủ, được gom chung lại.
Tâu đại vương, giống như vị thầy ghi chép thiện xảo, đã được chỉ dẫn, trong khi ghi lại bài viết thì hoàn thiện bài viết với việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của bản thân, như vậy bài viết ấy sẽ được hoàn thành, được đầy đủ, không thiếu sót. Tương tợ y như thế, việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của tôi sẽ tập trung lại ở đây, nhờ vậy ý nghĩa ấy sẽ khéo được phân tích, được thêm thắt, được đầy đủ, được gom chung lại.
BJT 2Tâu đại vương, ở thành Sāvatthi, có khoảng năm koṭi (năm mươi triệu) Thánh đệ tử là các cận sự nam và cận sự nữ của đức Thế Tôn, (trong số đó) ba trăm năm mươi bảy ngàn người đã được thiết lập vào quả vị Bất Lai, tất cả những vị ấy đều là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia.
Thêm nữa, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc (thị hiện) song thông ở gốc cội cây gaṇḍamba, có hai mươi koṭi (200.000.000) sinh mạng đã lãnh hội. Thêm nữa, vào lúc (thuyết giảng) Mahārāhulovāda, Kinh Mahāmaṅgala, bài giảng về tâm bình lặng, Kinh Parābhava, Kinh Purābheda, Kinh Kalahavivāda, Kinh Cūḷabyūha, Kinh Mahābyūha, Kinh Tuvaṭaka, Kinh Sāriputta, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên với số lượng vượt trội phương thức tính đếm.
Ở thành Rājagaha, ba trăm năm mươi ngàn Thánh đệ tử của đức Thế Tôn là các cận sự nam và cận sự nữ. Thêm nữa, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc chế ngự con long tượng Dhanapāla có chín mươi koṭi (900.000.000) sinh mạng đã lãnh hội; ở cuộc hội họp về mục đích tối hậu ở điện thờ Pāsāṇaka có mười bốn koṭi (140.000.000) sinh mạng đã lãnh hội; thêm nữa ở hang động Indasāla có tám mươi koṭi (800.000.000) chư Thiên đã lãnh hội; thêm nữa ở thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai, vào lúc thuyết giảng Giáo Pháp lần đầu tiên, có mười tám koṭi (180.000.000) Đại Phạm Thiên và vô số chư Thiên đã lãnh hội; thêm nữa ở cõi trời Đạo Lợi, tại tảng đá Paṇḍukambala (ngai vàng của đức Trời Đế Thích) vào lúc thuyết giảng về Vi Diệu Pháp, có tám mươi koṭi (800.000.000) chư Thiên đã lãnh hội; vào lúc từ cõi trời trở lại trần gian tại cổng thành Saṅkassa, vào lúc (thị hiện) thần thông mở ra cho thấy thế gian, có ba mươi koṭi (300.000.000) nhân loại và chư Thiên được tịnh tín đã lãnh hội.
Thêm nữa, ở thành Kapilavatthu của dòng họ Sakya, tại tu viện Nigrodha, lúc thuyết giảng về dòng dõi chư Phật và lúc thuyết giảng về Kinh Mahāsamaya, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên với số lượng vượt trội phương thức tính đếm. Thêm nữa, ở cuộc gặp gỡ với người làm tràng hoa Sumana, ở cuộc gặp gỡ với Garahadinna, ở cuộc gặp gỡ với nhà triệu phú Ānanda, ở cuộc gặp gỡ với đạo sĩ lõa thể Jambuka, ở cuộc gặp gỡ với Thiên tử Maṇḍuka, ở cuộc gặp gỡ với Thiên tử Maṭṭakuṇḍali, ở cuộc gặp gỡ với Sulasā hoa khôi thành phố, ở cuộc gặp gỡ với Sirimā hoa khôi thành phố, ở cuộc gặp gỡ với người con gái thợ dệt, ở cuộc gặp gỡ với Cūlasubhaddā, ở cuộc gặp gỡ về việc xem xét chỗ hỏa táng của người Bà-la-môn xứ Sāketa, ở cuộc gặp gỡ tại Sunāparanta, ở cuộc gặp gỡ về câu hỏi của Thiên Chủ Sakka, ở cuộc gặp gỡ về (bài Kinh) Tirokuḍḍa, ở cuộc gặp gỡ về Ratanasutta (Kinh Châu Báu), mỗi một lần đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn sinh mạng.
BJT 3Tâu đại vương, trong thời gian mà đức Thế Tôn đã ngự ở thế gian, thì trong thời gian ấy, tại mỗi một nơi nào ở trong ba phạm vi thuộc mười sáu xứ sở lớn mà đức Thế Tôn đã trú ngụ, thì ở tại mỗi một nơi ấy hầu hết đều có hai, ba, bốn, năm trăm, một ngàn, một trăm ngàn chư Thiên và nhân loại đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, những vị nào là chư Thiên, những vị ấy cũng chính là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia. Tâu đại vương, những người này, và luôn cả nhiều trăm ngàn koṭi (nhiều tỷ) chư Thiên khác nữa đều là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, nếu những người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, thế thì các pháp từ khước phục vụ mục đích gì? Vì lý do ấy, các pháp từ khước là việc làm không thuộc về bổn phận. Thưa ngài Nāgasena, nếu các cơn bệnh được lắng dịu không cần chú thuật và dược thảo, thì cần gì với việc làm yếu đuối cơ thể bởi sự nôn mửa và xổ ruột, v.v… ? Nếu sự trấn áp kẻ thù nghịch là bằng các nắm tay, thì cần gì với gươm, giáo, tên, cung, nỏ, đùi cui, chày vồ? Nếu có được việc leo lên cây sau khi bám vào chạng cây, khúc cong, lỗ hổng, mầm gai, dây leo, cành cây, thì cần gì với việc tìm kiếm cái thang dài và chắc chắn? Nếu có sự điều hòa tứ đại với việc nằm ở nền đất, thì cần gì với việc tầm cầu giường nằm to lớn khổng lồ rực rỡ, có sự xúc chạm thoải mái? Nếu mỗi một mình có khả năng vượt qua bãi sa mạc có sự nguy hiểm, có sự sợ hãi, không bằng phẳng, thì cần gì với đoàn xe to lớn khổng lồ đã được chuẩn bị, đã được vũ trang? Nếu có khả năng vượt qua sông hồ bằng cánh tay, thì cần gì với việc tìm kiếm cây cầu và thuyền bè vững chắc? Nếu có thể làm ra thức ăn thức mặc bằng vật sở hữu của bản thân, thì cần gì với việc hầu hạ, việc nói lời thương mến, và việc lăng xăng chạy phía trước phía sau những kẻ khác? Nếu nước được lấy ở hồ thiên nhiên, thì cần gì với việc đào giếng nước, ao, hồ? Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu những người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, thì cần gì với việc thọ trì cao quý về hạnh từ khước?”
BJT 5“Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của các pháp từ khước là các đức tính đúng theo bản thể; do những đức tính này, các pháp từ khước được chư Phật ước ao, mong mỏi. Hai mươi tám đức tính nào? Tâu đại vương, ở đây pháp từ khước là sự nuôi mạng trong sạch, có quả an lạc, không có tội lỗi, không gây đau khổ cho người khác, không sợ hãi, không tự hành hạ mình, thuần túy liên quan đến sự tiến triển, không đưa đến hư hoại, không giả dối, là sự bảo vệ, sự ban cho điều đã được mong mỏi, sự huấn luyện cho tất cả chúng sanh, có sự thu thúc là lợi ích, là sự đúng đắn, không bị lệ thuộc, được thoát ra khỏi, là sự diệt tận luyến ái, diệt tận sân, diệt tận si, dứt bỏ ngã mạn, cắt đứt suy nghĩ xấu xa, vượt khỏi sự nghi hoặc, tiêu diệt sự lười biếng, dứt bỏ sự không ưa thích, sự chịu đựng, không so sánh được, không đo lường được, đưa đến sự diệt tận tất cả khổ đau. Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của các pháp từ khước là các đức tính đúng theo bản thể; do những đức tính này, các pháp từ khước được chư Phật ước ao, mong mỏi.
Tâu đại vương, những người nào thực hiện đúng đắn các hạnh từ khước, những người ấy là những người đi đến hội hợp với mười tám đức tính. Với mười tám đức tính nào? Cách cư xử của những vị ấy khéo được thanh tịnh, sự thực hành khéo được đầy đủ, thân khẩu khéo được hộ trì, sự hành xử của ý khéo được thanh tịnh, sự tinh tấn khéo được nắm giữ, sợ hãi được lắng xuống, tùy ngã kiến được xa lìa, sự căm hận được đình chỉ, tâm từ được thiết lập, vật thực được nhận biết rõ rệt, được kính trọng đối với tất cả chúng sanh, biết vừa đủ về vật thực, gắn liền với sự tỉnh thức, không cần chỗ ngụ, nơi nào có sự thoải mái thì trú ngụ ở nơi ấy, có sự nhờm gớm về điều ác, có sự thích thú nơi thanh vắng, thường xuyên không xao lãng. Tâu đại vương, những người nào thực hiện đúng đắn các hạnh từ khước, những người ấy là những người đi đến hội hợp với mười tám đức tính.
BJT 6Tâu đại vương, mười hạng người này là xứng đáng với hạnh từ khước. Mười hạng nào? Là người có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự sáng suốt, không lường gạt, có khả năng đối với mục đích, không tham, ưa thích sự học tập, có sự thọ trì kiên cố, không có nhiều sự than phiền, có sự an trú tâm từ. Tâu đại vương, mười hạng người này là xứng đáng với hạnh từ khước.
BJT 7Tâu đại vương, những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn.
Tâu đại vương, giống như người cung thủ thiện xảo, trước tiên hết bắt những người học trò noi gương tập luyện ở phòng huấn luyện về việc phân loại cây cung, việc nâng lên và nắm giữ cây cung, việc kìm chặt nắm tay, việc cong lại ngón tay, việc đặt để bàn chân, việc nắm lấy mũi tên, việc đặt vào, việc kéo căng ra, việc giữ chặt, việc nhắm vào mục tiêu, việc buông ra, về việc xuyên thủng mục tiêu là hình nhân bằng cỏ, bãi phân thú vật, đống cỏ, đống rơm, đống đất sét, tấm ván, sau khi hoàn thành về thuật bắn cung trong sự hiện diện của đức vua thì được nhận lãnh ân huệ về ngựa thuần chủng, xe kéo, voi, ngựa chiến, tài sản, thóc lúa, vàng khối, vàng ròng, tôi trai, tớ gái, vợ, làng mạc.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ngay ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, không có sự luyện tập trước đây về các hạnh từ khước thì không có được sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán chỉ trong một kiếp sống, hơn nữa với sự tinh tấn tột bực, với sự thực hành tột bực, với người thầy có hình thức như thế, với người bạn tốt lành thì có được sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán.
BJT 8Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc phẫu thuật sau khi đã làm hài lòng người thầy với tài sản hoặc bằng việc thực hành phận sự, sau khi đã noi theo học tập công việc cầm cây dao, việc cắt, việc rạch, việc xuyên thủng, việc rút ra cây tên, việc rửa vết thương, việc làm khô, việc bôi thuốc, việc áp dụng dầu thơm cho việc nôn mửa và việc xổ ruột, khi đã thực hành việc học tập về các kiến thức, đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành tay nghề, thì đi thăm những người bệnh nhằm việc chữa trị.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ngay ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
Tâu đại vương, giống như không có sự rưới nước thì không có sự mọc lên của hạt giống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
Tâu đại vương, hoặc là giống như không có việc đi đến cảnh giới tốt đẹp đối với những người đã không làm các việc thiện, đã không làm các việc tốt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
BJT 9Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, thì hạnh từ khước ví như trái đất theo ý nghĩa nơi nâng đỡ.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như nước theo ý nghĩa rửa sạch tất cả bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như ngọn lửa theo ý nghĩa thiêu đốt tất cả cánh rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như gió theo ý nghĩa thổi đi tất cả bợn nhơ bụi bặm về phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thuốc giải độc theo ý nghĩa làm lắng dịu tất cả tật bệnh về phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thuốc bất tử theo ý nghĩa tiêu diệt tất cả chất độc phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thửa ruộng theo ý nghĩa làm mọc lên tất cả mùa màng về Sa-môn hạnh.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như ngọc như ý theo ý nghĩa ban cho ân huệ về mọi sự thành tựu đã được mong mỏi, ước ao.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chiếc thuyền theo ý nghĩa đi đến bờ bên kia của đại dương luân hồi.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chốn nương nhờ cho người bị sợ hãi theo ý nghĩa việc làm an ủi cho những người sợ hãi sự già và sự chết.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người mẹ theo ý nghĩa người hỗ trợ cho những người bị áp bức bởi phiền não khổ đau.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người cha theo ý nghĩa người sanh ra tất cả Sa-môn hạnh cho những người có ước muốn tăng trưởng thiện pháp.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người bạn theo ý nghĩa không lường gạt trong việc tầm cầu tất cả Sa-môn hạnh.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như loài sen theo ý nghĩa không bị lấm lem bởi mọi phiền não ô nhiễm.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như bốn loại hương thơm cao quý theo ý nghĩa xua đuổi mùi thối của phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như núi chúa cao quý theo ý nghĩa không bị lay động bởi các ngọn gió của tám pháp thế gian.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như không trung theo ý nghĩa bao la, tỏa ra, rộng, lớn đối với việc bám víu ở mọi nơi đã được tách rời.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như dòng sông theo ý nghĩa chuyển tải các bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người dẫn đường giỏi theo ý nghĩa thoát ra khỏi sa mạc của sự sanh và vùng rậm rạp của khu rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người hướng dẫn đoàn xe vĩ đại theo ý nghĩa đạt đến thành phố Niết Bàn cao quý và ưu tú, không sợ hãi, an toàn, và không còn tất cả các sự sợ hãi.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như tấm gương được chùi kỹ lưỡng không vết nhơ theo ý nghĩa nhìn thấy bản thể thật của các hành.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như tấm mộc che theo ý nghĩa ngăn chặn tất cả các cây gậy, mũi tên, gươm đao phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chiếc lọng che theo ý nghĩa ngăn chặn cơn mưa phiền não và sức đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như mặt trăng theo ý nghĩa được ước muốn, được mong cầu.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như mặt trời theo ý nghĩa tiêu diệt sự tăm tối của bóng tối si mê.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như biển cả theo ý nghĩa nâng cao các viên ngọc quý giá về đức hạnh Sa-môn và theo ý nghĩa không đo lường được, không thể tính toán, không thể ước lượng.
BJT 10Tâu đại vương, như vậy hạnh từ khước đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh là có nhiều sự giúp đỡ, xua đi mọi sự khó chịu và bực bội, xua đi sự không thích thú, xua đi nỗi sợ hãi, xua đi sự hiện hữu, xua đi sự cứng nhắc (của tâm), xua đi ô nhiễm, xua đi sầu muộn, xua đi khổ đau, xua đi ái luyến, xua đi sân hận, xua đi si mê, xua đi ngã mạn, xua đi tà kiến, xua đi tất cả các pháp bất thiện, đem lại danh tiếng, đem lại lợi ích, đem lại an lạc, tạo sự thoải mái, tạo sự vui vẻ, tạo sự an toàn đối với các trói buộc, không có tội lỗi, có quả thành tựu dễ chịu và an lạc, là khối đức hạnh, là đống đức hạnh, có đức hạnh vô lường, vô lượng, cao quý, ưu tú, tối thắng.
Tâu đại vương, giống như loài người nhờ cậy vật thực vì muốn sự nâng đỡ, nhờ cậy thuốc men vì muốn sự lợi ích, nhờ cậy bạn bè vì muốn sự giúp đỡ, nhờ cậy chiếc thuyền vì muốn sự vượt qua, nhờ cậy mùi thơm của tràng hoa vì muốn mùi thơm tốt, nhờ cậy chỗ ẩn náu đối với sự sợ hãi vì muốn sự không còn sợ hãi, nhờ cậy trái đất vì muốn chỗ nâng đỡ, nhờ cậy người thầy vì muốn nghề nghiệp, nhờ cậy đức vua vì muốn danh vọng, nhờ cậy ngọc báu ma-ni vì muốn sự ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các bậc Thánh nhờ cậy hạnh từ khước vì muốn sự ban phát tất cả đức hạnh của vị Sa-môn.
BJT 11Tâu đại vương, hoặc là giống như nước nhằm việc tăng trưởng của hạt giống, lửa nhằm việc thiêu đốt, thực phẩm nhằm mang lại sức mạnh, dây leo vì sự trói buộc, dao vì việc cắt đứt, nước uống nhằm việc xua đuổi cơn khát, của chôn giấu nhằm sự an tâm, chiếc thuyền nhằm việc đạt đến bờ, thuốc men nhằm làm lắng dịu cơn bệnh, xe cộ nhằm việc đi lại được an lạc, chỗ ẩn náu đối với sự sợ hãi nhằm xua đi nỗi sợ hãi, đức vua nhằm mục đích bảo vệ, tấm mộc che nhằm ngăn chặn roi vọt, đất cục, gậy gộc, mũi tên, gươm đao, thầy giáo nhằm việc chỉ dạy, người mẹ nhằm việc nuôi dưỡng, tấm gương nhằm việc nhìn xem, đồ trang sức vì sắc đẹp, vải vóc nhằm việc che đậy, cái thang nhằm việc leo lên, cái cân nhằm loại bỏ, chú thuật để đọc lẩm nhẩm, vũ khí nhằm ngăn chặn sự hăm dọa, ngọn đèn nhằm tiêu diệt bóng tối, gió nhằm dập tắt sự nóng nực, nghề nghiệp nhằm thành tựu sự sinh sống, thuốc giải độc nhằm bảo vệ mạng sống, hầm mỏ nhằm sản xuất châu ngọc, châu ngọc nhằm để trang điểm, mệnh lệnh nhằm việc không vượt qua, uy quyền nhằm vận hành mệnh lệnh.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế hạnh từ khước nhằm việc tăng trưởng hạt giống Sa-môn, nhằm việc thiêu đốt bợn nhơ phiền não, nhằm mang lại năng lực của thần thông, nhằm buộc chặt sự thu thúc ở niệm, nhằm cắt đứt sự phân vân và nghi ngờ, nhằm xua đuổi sự khát khao về tham ái, nhằm tạo ra sự an tâm trong việc lãnh hội, nhằm thoát ra khỏi bốn dòng nước lũ, nhằm lắng dịu cơn bệnh phiền não, nhằm đạt được an lạc Niết Bàn, nhằm xua đi nỗi sợ hãi về sanh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não, nhằm bảo vệ các đức hạnh của Sa-môn, nhằm ngăn chặn sự không ưa thích và các suy nghĩ xấu xa, nhằm chỉ dạy toàn thể mục đích của đời sống Sa-môn, nhằm nuôi dưỡng tất cả các đức hạnh của đời sống Sa-môn, nhằm việc xem xét về chỉ tịnh, minh sát, Đạo, Quả, và Niết Bàn, nhằm tạo ra vẻ đẹp lớn lao vĩ đại đã được tán dương, khen ngợi bởi toàn thể thế gian, nhằm đóng lại tất cả đọa xứ, nhằm leo lên đỉnh chóp núi đá của mục đích đời sống Sa-môn, nhằm loại bỏ tâm cong, quẹo, sai trái, nhằm làm cho việc học tập tốt đẹp về các pháp nên thân cận và không nên thân cận, nhằm hăm dọa kẻ thù là mũi tên phiền não, nhằm tiêu diệt bóng tối vô minh, nhằm dập tắt sự đốt nóng và sự nóng nực của ngọn lửa gồm ba loại, nhằm thành tựu sự chứng đạt sự an tịnh tinh vi và tế nhị, nhằm bảo vệ đức hạnh của toàn bộ đời sống Sa-môn, nhằm sản xuất châu ngọc quý giá là các chi phần đưa đến giác ngộ, nhằm để trang điểm người hành giả, nhằm việc không vượt qua sự an lạc của trạng thái an tịnh không tội lỗi, khôn khéo, tế nhị, nhằm vận hành uy lực của Thánh pháp ở toàn bộ đời sống Sa-môn. Tâu đại vương, như vậy mỗi một hạnh từ khước là nhằm đưa đến sự chứng đạt các đức hạnh này. Tâu đại vương, như vậy ‘hạnh từ khước là không thể so sánh, không thể đo lường, không sánh bằng được, không vật tương đương, không vật đối chiếu, không vật trội hơn, là vô thượng, hàng đầu, đặc biệt, vượt trội, trải dài, bao la, tỏa ra, vươn rộng, quan trọng, nghiêm trọng, vĩ đại.’
BJT 12Tâu đại vương, cá nhân nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, gian xảo, tham lam, quan tâm đến bao tử, mong muốn lợi lộc, mong muốn danh vọng, mong muốn tiếng tăm, không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp mà thọ trì hạnh từ khước, kẻ ấy gánh chịu hai lần hình phạt, gánh chịu sự phá hại tất cả các đức hạnh, trong thời hiện tại nhận lấy sự khinh bỉ, khinh miệt, chê trách, chế nhạo, giễu cợt, sự không thọ hưởng chung, sự xua đuổi, sự tống khứ, sự đưa đẩy, sự trục xuất, thậm chí ở thời vị lai kẻ ấy, trong nhiều trăm ngàn koṭi (nhiều tỷ) năm, bị nung nấu quay tròn lẫn lộn với bọt nước ở bề mặt, ở hướng trên, ở hướng dưới, ở hướng ngang, trong quầng lưới lửa nóng bỏng, sôi sục, cháy nóng, cháy rực ở đại địa ngục vô gián rộng một trăm do-tuần, sau khi được thoát ra khỏi nơi ấy, thì có cơ thể và tứ chi gầy ốm, thô kệch, đen đủi, cái đầu bị sưng, phồng lên, có lỗ thủng với vô số muỗi bám, bị đói, bị khát, có hình thể dáng vóc không đồng đều, khủng khiếp, có lỗ tai bị tơi tả, có tròng con mắt mở ra nhắm lại, có cơ thể bị thương tích, cơ thể bị thối rữa, toàn bộ thân thể lúc nhúc giòi bọ, có ngọn lửa đang đốt cháy đang phát cháy ở bên trong, tợ như đang đốt cháy ở đầu ngọn gió, không sự bảo vệ, không sự nương nhờ, đang than vãn tiếng khóc tỉ tê, nức nở, bi thương, sau khi trở thành hạng ngạ quỷ to lớn có hình dáng Sa-môn luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát, đi lang thang ở trái đất, có giọng kêu gào thảm thiết.
Tâu đại vương, giống như người nào đó không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, có dòng dõi xấu xa mà phong vương với lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ, kẻ ấy nhận chịu việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, (nhúng vào) hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm, gánh chịu việc làm của nghiệp theo nhiều cách. Vì lý do gì? Kẻ không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, có dòng dõi xấu xa, đã đặt bản thân vào địa vị vương quyền to lớn, đã thủ tiêu ranh giới. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cá nhân nào có ước muốn xấu xa … (như trên) … ở trái đất, có giọng kêu gào thảm thiết.
BJT 13Tâu đại vương, tuy nhiên cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu, thích đáng, xứng đáng, phù hợp, ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách ly, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tánh cương quyết, không gian trá, không xảo quyệt, không quan tâm đến bao tử, không mong muốn lợi lộc, không mong muốn danh vọng, không mong muốn tiếng tăm, có đức tin, xuất gia vì đức tin, mong muốn thoát khỏi già chết, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ hiểu được Giáo Pháp’ rồi thọ trì hạnh từ khước, vị ấy xứng đáng sự cúng dường gấp hai lần, đối với chư Thiên và loài người là vị được yêu mến, được ưa thích, được ước muốn, được mong cầu, như là bông hoa của các loài hoa nhài trâu, nhài Ả-rập, v.v… đối với người đã được tắm đã được thoa dầu, như là thức ăn hảo hạng đối với người bị thèm ăn, như là nước uống mát sạch thơm tho đối với người bị khát, như là dược thảo cao quý đối với người bị nhiễm độc, như là cỗ xe ngựa thuần chủng cao quý tối thượng đối với người mong muốn đi nhanh, như là ngọc quý ma-ni như ý đối với người có ước muốn về mục đích, như là chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ đối với người có ước muốn được phong vương, như là sự chứng đắc vô thượng của quả vị A-la-hán đối với người có ước muốn về Giáo Pháp. Đối với vị ấy, bốn sự thiết lập niệm nhờ vào sự tu tập đi đến tròn đủ; bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám chi phần nhờ vào sự tu tập đi đến tròn đủ, chứng đắc chỉ tịnh và minh sát, hoàn thiện sự thực hành của sự chứng đắc; bốn quả báu của đời sống Sa-môn, bốn tuệ phân tích, ba Minh, sáu Thắng Trí, và toàn bộ pháp Sa-môn, tất cả là thuộc về vị ấy. Vị ấy được phong vương với chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
Tâu đại vương, giống như đối với vị vua dòng Sát-đế-lỵ, sanh ra ở nơi quý phái, có dòng dõi gia tộc, đã được phong vương với lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ, thì có các thị dân, dân chúng, nhân công, binh lính thuộc vương quốc phục tùng, và ba mươi tám toán tùy tùng của đức vua, các kịch sĩ và vũ công, những người tiên đoán điềm lành, những người nói lời chúc tụng, các Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả các nhóm người ngoại đạo tìm đến; bất cứ việc gì ở trái đất như là bến tàu, hầm mỏ châu báu, thành phố, trạm thuế, các người khác xứ, việc xử chặt, việc xử chém, việc chỉ thị dân chúng, vị vua ấy trở thành người chủ ở tất cả các nơi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu … (như trên) … được phong vương với chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
BJT 14Tâu đại vương, đây là mười ba pháp từ khước, được làm trong sạch với các pháp này, (vị tỳ khưu) tiến vào đại dương Niết Bàn, tiêu khiển trò tiêu khiển của Giáo Pháp có nhiều loại, rồi tiến đến tám sự chứng đạt của sắc giới và vô sắc giới, đạt được nhiều loại thần thông, Thiên nhĩ giới, nhận biết tâm của người khác, nhớ lại các kiếp sống quá khứ, Thiên nhãn, và sự diệt tận tất cả các lậu hoặc. Mười ba pháp nào? Pháp của vị chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, pháp của vị chỉ sử dụng ba y, pháp của vị chuyên đi khất thực, pháp của vị đi khất thực tuần tự theo từng nhà, pháp của vị chỉ một chỗ ngồi (khi thọ thực), pháp của vị thọ thực trong bình bát, pháp của vị không ăn vật thực dâng sau, pháp của vị ngụ ở rừng, pháp của vị ngụ ở gốc cây, pháp của vị ở ngoài trời, pháp của vị ngụ ở mộ địa, pháp của vị ngụ chỗ ở theo chỉ định, pháp của vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm). Tâu đại vương, với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như người thuyền trưởng, có tài sản, đã thực hiện tốt đẹp phần thuế ở bến tàu, thì tiến vào đại dương rồi đi đến các xứ Vaṅga, Takkola, Cīna, Sovīra, Suraṭṭha, Alasanda, Kolapaṭṭa, Suvaṇṇabhūmi, luôn cả bất cứ chỗ nào khác là nơi lai vãng của tàu bè. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như người nông dân trước tiên dời đi các khuyết điểm của thửa ruộng như là cỏ, cành khô, đá sỏi, rồi cày xới, gieo hạt, đưa nước vào đúng đắn, bảo vệ, giữ gìn, rồi với việc giặt hái đập giũ mà trở thành người có nhiều thóc lúa, những người nào không có tài sản, khốn khổ, nghèo khó, người lâm cảnh bất hạnh là thuộc về người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo … (như trên) … toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Sát-đế-lỵ đã được làm lễ phong vương ở đầu, đã được sanh ra ở nơi quý phái, có dòng dõi gia tộc, là người chúa tể trong việc xử chặt, xử chém, chỉ thị dân chúng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn, và toàn bộ đại địa cầu là thuộc về vị ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) trở thành vị chúa tể ở Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn; và toàn bộ các đức hạnh của đời sống Sa-môn là thuộc về vị ấy.
BJT 15Tâu đại vương, chẳng phải trưởng lão Upasena, con trai của Vaṅganta, với sự thực hành đầy đủ các hạnh giảm thiểu và từ khước, sau khi không chấp hành quy định của hội chúng ở Sāvatthi, đã cùng tập thể của mình đi đến gặp đấng Điều Ngự Trượng Phu đang thiền tịnh, đã đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của đức Thế Tôn, rồi đã ngồi xuống một bên. Và đức Thế Tôn sau khi nhìn thấy tập thể đã khéo được huấn luyện ấy, thì mừng rỡ, phấn chấn, vui mừng, phấn khởi, sau khi trao đổi chuyện trò với tập thể, rồi với giọng nói của Phạm Thiên không bị lẫn lộn, đã nói điều này:
‘Này Upasena, tập thể này quả là có niềm tin đối với ngươi. Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể thế nào?’ Được đấng Toàn Tri, bậc Mười Lực, vị Trời vượt trội các vị Trời hỏi, vị ấy bằng năng lực về đức hạnh của tự thân đúng theo sự thật, cũng đã nói với đức Thế Tôn điều này:—Bạch ngài, người nào đi đến và cầu xin con sự xuất gia, hoặc pháp nương nhờ, thì con nói với người ấy như vầy: ‘Này đạo hữu, ta là vị hành pháp ngụ ở rừng, hành pháp chuyên đi khất thực, hành pháp chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hành pháp chỉ sử dụng ba y. Nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ngụ ở rừng, hành pháp chuyên đi khất thực, hành pháp chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hành pháp chỉ sử dụng ba y, như thế thì ta sẽ cho ngươi xuất gia, sẽ ban cho pháp nương nhờ.’ Thưa ngài, nếu người ấy sau khi đã đồng ý với con, vui vẻ, hứng thú, như vậy thì con cho người ấy xuất gia, con ban cho pháp nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn tập thể như thế.’ Tâu đại vương, cũng như thế, người thọ trì đức hạnh cao quý của các pháp từ khước là vị chúa tể ở Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như hoa sen, có nguồn gốc, sanh trưởng, mọc lên trong sạch cho đến lúc trưởng thành, là trơn láng, mềm mại, đáng ham thích, có mùi thơm tốt, được yêu mến, được mong cầu, được ca tụng, không bị lấm lem bởi nước và bùn, được tô điểm bởi những cánh hoa nhỏ, tua nhị, quả sen, được lai vãng bởi bầy ong, được phát triển ở nước mát lạnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) các vị đệ tử của bậc Thánh được đầy đủ với ba mươi đức tính cao quý. Với ba mươi đức tính cao quý nào?
Là có tâm từ trìu mến, mềm mỏng, dịu dàng; là có phiền não được tiêu diệt, được phá hủy, được tiêu hoại; là có sự ngã mạn và sự kiêu ngạo được phá hủy, được diệt trừ; là có đức tin không dao động, vững chãi, được củng cố, không có phân vân; là nhận được sự chứng đạt trọn vẹn, được thỏa mãn, được mừng rỡ, đáng ham thích, tịch tịnh, an lạc; là được thấm nhuần bởi hương thơm cao quý, ưu tú, vô song, tinh khiết của giới; là đối tượng yêu quý, ưa thích của chư Thiên và nhân loại; được các bậc Lậu Tận, các Thánh nhân, và các nhân vật cao quý mong mỏi; được đảnh lễ, cúng dường đối với chư Thiên và nhân loại; được tán dương, ca ngợi, khen ngợi, ca tụng của những con người khôn ngoan, thông minh, sáng suốt; không bị lấm lem bởi thế gian ở đời này hay ở đời khác; có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi về chút ít tội lỗi ở thế gian; có sự hoàn thành mục đích cao quý về Đạo và Quả của những người có sự mong muốn các thành tựu lớn lao và cao quý; có phần về vật dụng lớn lao, hảo hạng đã được (thí chủ) thỉnh cầu; có sự nằm nghỉ ở nơi không nhà; có sự an trú quý cao ở trạng thái gắn bó với thiền; có nền móng của mạng lưới phiền não đã được tháo gỡ; sự che lấp về cảnh giới tái sanh đã được phá vỡ, đập bể, co rút lại, chặt đứt; có pháp bền vững; chỗ ngụ được phù hợp; có sự thọ hưởng không bị chê trách; được thoát khỏi cảnh giới tái sanh; đã vượt lên trên tất cả hoài nghi; đã gắn bó vào sự giải thoát; đã nhìn thấy Giáo Pháp; đã đi đến chốn nương nhờ vững chắc, không dao động, đối với sự kinh sợ; có khuynh hướng ngủ ngầm đã được trừ tuyệt; đã đạt đến sự cạn kiệt tất cả lậu hoặc; có nhiều sự chứng đạt và an trú về sự tịch tịnh và sự an lạc; có đầy đủ tất cả đức tính của vị Sa-môn. Vị ấy được đầy đủ với ba mươi đức tính cao quý này.
Tâu đại vương, chẳng phải vị trưởng lão Sāriputta là con người cao cả ở mười ngàn thế giới, trừ ra đấng Thập Lực, bậc thầy của thế gian? Ngay cả vị ấy, trong vô lượng vô số kiếp sống, có thiện căn đã được tích lũy, có dòng dõi gia tộc Bà-la-môn, sau khi từ bỏ sự hứng thú về dục lạc làm thích ý và tài sản quý giá nhiều trăm con số đếm, sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, sau khi đã rèn luyện thân, khẩu, ý với mười ba hạnh từ khước này, giờ đây hôm nay được hội đủ các đức hạnh vô biên, đã được sanh làm người tiếp tục chuyển vận Bánh Xe Pháp của đức Thế Tôn Gotama. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở đoạn Dấu Ấn Cao Quý, pháp Một Chi thuộc Tăng Chi Bộ rằng:
‘Này các tỳ khưu, ta không nhìn thấy một cá nhân nào khác là người tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận bởi đức Như Lai như là Sāriputta. Này các tỳ khưu, Sāriputta tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận bởi đức Như Lai.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Bất cứ lời dạy nào của đức Phật gồm chín thể loại, các hành động nào vượt trên thế gian, và các sự chứng đạt vĩ đại cao quý nào của các sự chứng đắc ở thế gian, mọi điều ấy đều đi đến sự hội tụ ở mười ba hạnh từ khước.”
Câu hỏi về pháp từ khước là thứ nhì.
Phẩm Suy Luận được đầy đủ.
“Passatāraññake bhikkhū,
ajjhogāḷhe dhute guṇe;
Puna passati gihī rājā,
anāgāmiphale ṭhite.
Ubhopi te viloketvā,
uppajji saṁsayo mahā;
Bujjheyya ce gihī dhamme,
dhutaṅgaṁ nipphalaṁ siyā.
Paravādivādamathanaṁ,
nipuṇaṁ piṭakattaye;
Handa pucche kathiseṭṭhaṁ,
so me kaṅkhaṁ vinessatī”ti.
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, atthi koci gihī agāriko kāmabhogī puttadārasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārayanto jātarūparajataṁ sādiyanto maṇimuttākañcanavicittamoḷibaddho yena santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikatan”ti?
“Na, mahārāja, ekaññeva sataṁ na dve satāni na tīṇi cattāri pañca satāni na sahassaṁ na satasahassaṁ na koṭisataṁ na koṭisahassaṁ na koṭisatasahassaṁ, tiṭṭhatu, mahārāja, dasannaṁ vīsatiyā satassa sahassassa abhisamayo, katamena te pariyāyena anuyogaṁ dammī”ti.
“Tvamevetaṁ brūhī”ti.
“Tena hi te, mahārāja, kathayissāmi satena vā sahassena vā satasahassena vā koṭiyā vā koṭisatena vā koṭisahassena vā koṭisatasahassena vā, yā kāci navaṅge buddhavacane sallekhitācārappaṭipattidhutavaraṅgaguṇanissitā kathā, tā sabbā idha samosarissanti.
Yathā, mahārāja, ninnunnatasamavisamathalāthaladesabhāge abhivuṭṭhaṁ udakaṁ, sabbaṁ taṁ tato vinigaḷitvā mahodadhiṁ sāgaraṁ samosarati;
evameva kho, mahārāja, sampādake sati yā kāci navaṅge buddhavacane sallekhitācārappaṭipattidhutaṅgaguṇadharanissitā kathā, tā sabbā idha samosarissanti.
Mayhampettha, mahārāja, paribyattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanaṁ samosarissati, teneso attho suvibhatto vicitto paripuṇṇo parisuddho samānīto bhavissati.
Yathā, mahārāja, kusalo lekhācariyo anusiṭṭho lekhaṁ osārento attano byattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanena lekhaṁ paripūreti, evaṁ sā lekhā samattā paripuṇṇā anūnikā bhavissati.
Evameva mayhampettha paribyattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanaṁ samosarissati, teneso attho suvibhatto vicitto paripuṇṇo parisuddho samānīto bhavissati.
Nagare, mahārāja, sāvatthiyā pañcakoṭimattā ariyasāvakā bhagavato upāsakaupāsikāyo sattapaṇṇāsasahassāni tīṇi ca satasahassāni anāgāmiphale patiṭṭhitā, te sabbepi gihīyeva, na pabbajitā.
Puna tattheva kaṇḍambamūle yamakapāṭihāriye vīsati pāṇakoṭiyo abhisamiṁsu, puna cūḷarāhulovāde, mahāmaṅgalasuttante, samacittapariyāye, parābhavasuttante, purābhedasuttante, kalahavivādasuttante, cūḷabyūhasuttante, mahābyūhasuttante, tuvaṭakasuttante, sāriputtasuttante gaṇanapathamatītānaṁ devatānaṁ dhammābhisamayo ahosi.
Nagare rājagahe paññāsasahassāni tīṇi ca satasahassāni ariyasāvakā bhagavato upāsakaupāsikāyo, puna tattheva dhanapālahatthināgadamane navuti pāṇakoṭiyo, pārāyanasamāgame pāsāṇakacetiye cuddasa pāṇakoṭiyo, puna indasālaguhāyaṁ asīti devatākoṭiyo, puna bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye paṭhame dhammadesane aṭṭhārasa brahmakoṭiyo aparimāṇā ca devatāyo, puna tāvatiṁsabhavane paṇḍukambalasilāyaṁ abhidhammadesanāya asīti devatākoṭiyo, devorohaṇe saṅkassanagaradvāre lokavivaraṇapāṭihāriye pasannānaṁ naramarūnaṁ tiṁsa koṭiyo abhisamiṁsu.
Puna sakkesu kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme buddhavaṁsadesanāya mahāsamayasuttantadesanāya ca gaṇanapathamatītānaṁ devatānaṁ dhammābhisamayo ahosi.
Puna sumanamālākārasamāgame, garahadinnasamāgame, ānandaseṭṭhisamāgame, jambukājīvakasamāgame, maṇḍukadevaputtasamāgame, maṭṭhakuṇḍalidevaputtasamāgame, sulasānagarasobhinisamāgame, sirimānagarasobhinisamāgame, pesakāradhītusamāgame, cūḷasubhaddāsamāgame, sāketabrāhmaṇassa āḷāhanadassanasamāgame, sūnāparantakasamāgame, sakkapañhasamāgame, tirokuṭṭasamāgame, ratanasuttasamāgame paccekaṁ caturāsītiyā pāṇasahassānaṁ dhammābhisamayo ahosi, yāvatā, mahārāja, bhagavā loke aṭṭhāsi, tāva tīsu maṇḍalesu soḷasasu mahājanapadesu yattha yattha bhagavā vihāsi, tattha tattha yebhuyyena dve tayo cattāro pañca sataṁ sahassaṁ satasahassaṁ devā ca manussā ca santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikariṁsu.
Ye te, mahārāja, devā gihīyeva, na te pabbajitā, etāni ceva, mahārāja, aññāni ca anekāni devatākoṭisatasahassāni gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikariṁsū”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, atha imāni dhutaṅgāni kimatthaṁ sādhenti, tena kāraṇena dhutaṅgāni akiccakarāni honti.
Yadi, bhante nāgasena, vinā mantosadhehi byādhayo vūpasamanti, kiṁ vamanavirecanādinā sarīradubbalakaraṇena?
Yadi muṭṭhīhi paṭisattuniggaho bhavati, kiṁ asisattisaradhanukodaṇḍalaguḷamuggarehi?
Yadi gaṇṭhikuṭilasusirakaṇṭalatāsākhā ālambitvā rukkhamabhirūhanaṁ bhavati, kiṁ dīghadaḷhanisseṇipariyesanena?
Yadi thaṇḍilaseyyāya dhātusamatā bhavati, kiṁ sukhasamphassamahatimahāsirisayanapariyesanena?
Yadi ekako sāsaṅkasappaṭibhayavisamakantārataraṇasamattho bhavati, kiṁ sannaddhasajjamahatimahāsatthapariyesanena?
Yadi nadisaraṁ bāhunā tarituṁ samattho bhavati, kiṁ dhuvasetunāvāpariyesanena?
Yadi sakasantakena ghāsacchādanaṁ kātuṁ pahoti, kiṁ parūpasevanapiyasamullāpapacchāpuredhāvanena?
Yadi akhātataḷāke udakaṁ labhati, kiṁ udapānataḷākapokkharaṇikhaṇanena?
Evameva kho, bhante nāgasena, yadi gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, kiṁ dhutaguṇavarasamādiyanenā”ti?
“Aṭṭhavīsati kho panime, mahārāja, dhutaṅgaguṇā yathābhuccaguṇā, yehi guṇehi dhutaṅgāni sabbabuddhānaṁ pihayitāni patthitāni.
Katame aṭṭhavīsati?
Idha, mahārāja, dhutaṅgaṁ suddhājīvaṁ sukhaphalaṁ anavajjaṁ na paradukkhāpanaṁ abhayaṁ asampīḷanaṁ ekantavaḍḍhikaṁ aparihāniyaṁ amāyaṁ ārakkhā patthitadadaṁ sabbasattadamanaṁ saṁvarahitaṁ patirūpaṁ anissitaṁ vippamuttaṁ rāgakkhayaṁ dosakkhayaṁ mohakkhayaṁ mānappahānaṁ kuvitakkacchedanaṁ kaṅkhāvitaraṇaṁ kosajjaviddhaṁsanaṁ aratippahānaṁ khamanaṁ atulaṁ appamāṇaṁ sabbadukkhakkhayagamanaṁ, ime kho, mahārāja, aṭṭhavīsati dhutaṅgaguṇā yathābhuccaguṇā yehi guṇehi dhutaṅgāni sabbabuddhānaṁ pihayitāni patthitāni.
Ye kho te, mahārāja, dhutaguṇe sammā upasevanti, te aṭṭhārasahi guṇehi samupetā bhavanti.
Katamehi aṭṭhārasahi?
Ācāro tesaṁ suvisuddho hoti, paṭipadā supūritā hoti, kāyikaṁ vācasikaṁ surakkhitaṁ hoti, manosamācāro suvisuddho hoti, vīriyaṁ supaggahitaṁ hoti, bhayaṁ vūpasammati, attānudiṭṭhibyapagatā hoti, āghāto uparato hoti, mettā upaṭṭhitā hoti, āhāro pariññāto hoti, sabbasattānaṁ garukato hoti, bhojane mattaññū hoti, jāgariyamanuyutto hoti, aniketo hoti, yattha phāsu tattha vihārī hoti, pāpajegucchī hoti, vivekārāmo hoti, satataṁ appamatto hoti, ye te, mahārāja, dhutaguṇe sammā upasevanti, te imehi aṭṭhārasahi guṇehi samupetā bhavanti.
Dasa ime, mahārāja, puggalā dhutaguṇārahā.
Katame dasa?
Saddho hoti hirimā dhitimā akuho atthavasī alolo sikkhākāmo daḷhasamādāno anujjhānabahulo mettāvihārī, ime kho, mahārāja, dasa puggalā dhutaguṇārahā.
Ye te, mahārāja, gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, sabbe te purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattha cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihīyeva santā santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti.
Yathā, mahārāja, kusalo issāso antevāsike paṭhamaṁ tāva upāsanasālāyaṁ cāpabhedacāpāropanaggahaṇamuṭṭhippaṭipīḷanaaṅgulivināmanapādaṭhapanasaraggahaṇasannahanaākaḍḍhanasandhāraṇalakkhaniyamanakhipane tiṇapurisakachakaṇatiṇapalālamattikāpuñjaphalakalakkhavedhe anusikkhāpetvā rañño santike upāsanaṁ ārādhayitvā ājaññarathagajaturaṅgadhanadhaññahiraññasuvaṇṇadāsidāsabhariyagāmavaraṁ labhati;
evameva kho, mahārāja, ye te gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, te sabbe purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattheva cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihīyeva santā santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti.
Na, mahārāja, dhutaguṇesu pubbāsevanaṁ vinā ekissāyeva jātiyā arahattaṁ sacchikiriyā hoti, uttamena pana vīriyena uttamāya paṭipattiyā tathārūpena ācariyena kalyāṇamittena arahattaṁ sacchikiriyā hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, bhisakko sallakatto ācariyaṁ dhanena vā vattappaṭipattiyā vā ārādhetvā satthaggahaṇachedanalekhanavedhanasalluddharaṇavaṇadhovanasosanabhesajjānulimpanavamanavirecanānuvāsanakiriyamanusikkhitvā vijjāsu katasikkho katūpāsano katahattho āture upasaṅkamati tikicchāya;
evameva kho, mahārāja, ye te gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, te sabbe purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattheva cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihīyeva santā santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, na, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṁ dhammābhisamayo hoti.
Yathā, mahārāja, udakassa asecanena bījānaṁ avirūhanaṁ hoti;
evameva kho, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṁ dhammābhisamayo na hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, akatakusalānaṁ akatakalyāṇānaṁ sugatigamanaṁ na hoti;
evameva kho, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṁ dhammābhisamayo na hoti.
Pathavisamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ patiṭṭhānaṭṭhena.
Āposamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesamaladhovanaṭṭhena.
Tejosamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesavanajjhāpanaṭṭhena.
Vāyosamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesamalarajopavāhanaṭṭhena.
Agadasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesabyādhivūpasamanaṭṭhena.
Amatasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesavisanāsanaṭṭhena.
Khettasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbasāmaññaguṇasassavirūhanaṭṭhena.
Manoharasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ patthiticchitasabbasampattivaradadaṭṭhena.
Nāvāsamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ saṁsāramahaṇṇavapāragamanaṭṭhena.
Bhīruttāṇasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ jarāmaraṇabhītānaṁ assāsakaraṇaṭṭhena.
Mātusamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesadukkhappaṭipīḷitānaṁ anuggāhakaṭṭhena.
Pitusamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kusalavaḍḍhikāmānaṁ sabbasāmaññaguṇajanakaṭṭhena.
Mittasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbasāmaññaguṇapariyesanaavisaṁvādakaṭṭhena.
Padumasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesamalehi anupalittaṭṭhena.
Catujjātiyavaragandhasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesaduggandhapaṭivinodanaṭṭhena.
Girirājavarasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ aṭṭhalokadhammavātehi akampiyaṭṭhena.
Ākāsasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbattha gahaṇāpagatauruvisaṭavitthatamahantaṭṭhena.
Nadīsamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesamalapavāhanaṭṭhena.
Sudesakasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ jātikantārakilesavanagahananittharaṇaṭṭhena.
Mahāsatthavāhasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbabhayasuññakhemaabhayavarapavaranibbānanagarasampāpanaṭṭhena.
Sumajjitavimalādāsasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ saṅkhārānaṁ sabhāvadassanaṭṭhena.
Phalakasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesalaguḷasarasattipaṭibāhanaṭṭhena.
Chattasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesavassatividhaggisantāpātapapaṭibāhanaṭṭhena.
Candasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ pihayitapatthitaṭṭhena.
Sūriyasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ mohatamatimiranāsanaṭṭhena.
Sāgarasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ anekavidhasāmaññaguṇavararatanuṭṭhānaṭṭhena, aparimitaasaṅkhyeyyaappameyyaṭṭhena ca.
Evaṁ kho, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ bahūpakāraṁ sabbadarathapariḷāhanudaṁ aratinudaṁ bhayanudaṁ bhavanudaṁ khīlanudaṁ malanudaṁ sokanudaṁ dukkhanudaṁ rāganudaṁ dosanudaṁ mohanudaṁ mānanudaṁ diṭṭhinudaṁ sabbākusaladhammanudaṁ yasāvahaṁ hitāvahaṁ sukhāvahaṁ phāsukaraṁ pītikaraṁ yogakkhemakaraṁ anavajjaṁ iṭṭhasukhavipākaṁ guṇarāsiguṇapuñjaaparimitaasaṅkhyeyyaappameyyaguṇaṁ varaṁ pavaraṁ aggaṁ.
Yathā, mahārāja, manussā upatthambhavasena bhojanaṁ upasevanti, hitavasena bhesajjaṁ upasevanti, upakāravasena mittaṁ upasevanti, tāraṇavasena nāvaṁ upasevanti, sugandhavasena mālāgandhaṁ upasevanti, abhayavasena bhīruttāṇaṁ upasevanti, patiṭṭhāvasena pathaviṁ upasevanti, sippavasena ācariyaṁ upasevanti, yasavasena rājānaṁ upasevanti, kāmadadavasena maṇiratanaṁ upasevanti;
evameva kho, mahārāja, sabbasāmaññaguṇadadavasena ariyā dhutaguṇaṁ upasevanti.
Yathā vā pana, mahārāja, udakaṁ bījavirūhanāya, aggi jhāpanāya, āhāro balāharaṇāya, latā bandhanāya, satthaṁ chedanāya, pānīyaṁ pipāsāvinayanāya, nidhi assāsakaraṇāya, nāvā tīrasampāpanāya, bhesajjaṁ byādhivūpasamanāya, yānaṁ sukhagamanāya, bhīruttāṇaṁ bhayavinodanāya, rājā ārakkhatthāya, phalakaṁ daṇḍaleḍḍulaguḷasarasattipaṭibāhanāya, ācariyo anusāsanāya, mātā posanāya, ādāso olokanāya, alaṅkāro sobhanāya, vatthaṁ paṭicchādanāya, nisseṇī ārohanāya, tulā visamavikkhepanāya, mantaṁ parijappanāya, āvudhaṁ tajjanīyapaṭibāhanāya, padīpo andhakāravidhamanāya, vāto pariḷāhanibbāpanāya, sippaṁ vuttinipphādanāya, agadaṁ jīvitarakkhaṇāya, ākaro ratanuppādanāya, ratanaṁ alaṅkarāya, āṇā anatikkamanāya, issariyaṁ vasavattanāya;
evameva kho, mahārāja, dhutaguṇaṁ sāmaññabījavirūhanāya, kilesamalajhāpanāya, iddhibalāharaṇāya, satisaṁvaranibandhanāya, vimativicikicchāsamucchedanāya, taṇhāpipāsāvinayanāya, abhisamayaassāsakaraṇāya, caturoghanittharaṇāya, kilesabyādhivūpasamāya, nibbānasukhappaṭilābhāya, jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsabhayavinodanāya, sāmaññaguṇaparirakkhaṇāya, aratikuvitakkapaṭibāhanāya, sakalasāmaññatthānusāsanāya, sabbasāmaññaguṇaposanāya, samathavipassanāmaggaphalanibbānadassanāya, sakalalokathutathomitamahatimahāsobhanakaraṇāya, sabbāpāyapidahanāya, sāmaññatthaselasikharamuddhani abhirūhanāya, vaṅkakuṭilavisamacittavikkhepanāya, sevitabbāsevitabbadhamme sādhusajjhāyakaraṇāya, sabbakilesapaṭisattutajjanāya, avijjandhakāravidhamanāya, tividhaggisantāpapariḷāhanibbāpanāya, saṇhasukhumasantasamāpattinipphādanāya, sakalasāmaññaguṇaparirakkhaṇāya, bojjhaṅgavararatanuppādanāya, yogijanālaṅkaraṇāya, anavajjanipuṇasukhumasantisukhamanatikkamanāya, sakalasāmaññaariyadhammavasavattanāya.
Iti, mahārāja, imesaṁ guṇānaṁ adhigamāya yadidaṁ ekamekaṁ dhutaguṇaṁ, evaṁ, mahārāja, atuliyaṁ dhutaguṇaṁ appameyyaṁ asamaṁ appaṭisamaṁ appaṭibhāgaṁ appaṭiseṭṭhaṁ uttaraṁ seṭṭhaṁ visiṭṭhaṁ adhikaṁ āyataṁ puthulaṁ visaṭaṁ vitthataṁ garukaṁ bhāriyaṁ mahantaṁ.
Yo kho, mahārāja, puggalo pāpiccho icchāpakato kuhako luddho odariko lābhakāmo yasakāmo kittikāmo ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo dhutaṅgaṁ samādiyati, so diguṇaṁ daṇḍamāpajjati, sabbaguṇaghātamāpajjati, diṭṭhadhammikaṁ hīḷanaṁ khīḷanaṁ garahanaṁ uppaṇḍanaṁ khipanaṁ asambhogaṁ nissāraṇaṁ nicchubhanaṁ pavāhanaṁ pabbājanaṁ paṭilabhati, samparāyepi satayojanike avīcimahāniraye uṇhakaṭhitatattasantattaaccijālāmālake anekavassakoṭisatasahassāni uddhamadho tiriyaṁ pheṇuddehakaṁ samparivattakaṁ paccati, tato muccitvā kisapharusakāḷaṅgapaccaṅgo sūnuddhumātasusiruttamaṅgo chāto pipāsito visamabhīmarūpavaṇṇo bhaggakaṇṇasoto ummīlitanimīlitanettanayano arugattapakkagatto pulavākiṇṇasabbakāyo vātamukhe jalamāno viya aggikkhandho anto jalamāno pajjalamāno atāṇo asaraṇo āruṇṇaruṇṇakāruññaravaṁ paridevamāno nijjhāmataṇhiko samaṇamahāpeto hutvā āhiṇḍamāno mahiyā aṭṭassaraṁ karoti.
Yathā, mahārāja, koci ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo hīno kujātiko khattiyābhisekena abhisiñcati, so labhati hatthacchedaṁ pādacchedaṁ hatthapādacchedaṁ kaṇṇacchedaṁ nāsacchedaṁ kaṇṇanāsacchedaṁ bilaṅgathālikaṁ saṅkhamuṇḍikaṁ rāhumukhaṁ jotimālikaṁ hatthapajjotikaṁ erakavattikaṁ cīrakavāsikaṁ eṇeyyakaṁ baḷisamaṁsikaṁ kahāpaṇakaṁ khārāpatacchikaṁ palighaparivattikaṁ palālapīṭhakaṁ tattena telena osiñcanaṁ sunakhehi khādāpanaṁ jīvasūlāropanaṁ asinā sīsacchedaṁ anekavihitampi kammakāraṇaṁ anubhavati.
Kiṁ kāraṇā?
Ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo hīno kujātiko mahante issariye ṭhāne attānaṁ ṭhapesi, velaṁ ghātesi.
Evameva kho, mahārāja, yo koci puggalo pāpiccho …pe…
mahiyā aṭṭassaraṁ karoti.
Yo pana, mahārāja, puggalo yutto patto anucchaviko araho patirūpo appiccho santuṭṭho pavivitto asaṁsaṭṭho āraddhavīriyo pahitatto asaṭho amāyo anodariko alābhakāmo ayasakāmo akittikāmo saddho saddhāpabbajito jarāmaraṇā muccitukāmo ‘sāsanaṁ paggaṇhissāmī’ti dhutaṅgaṁ samādiyati, so diguṇaṁ pūjaṁ arahati devānañca piyo hoti manāpo pihayito patthito, jātisumanamallikādīnaṁ viya pupphaṁ nahātānulittassa, jighacchitassa viya paṇītabhojanaṁ, pipāsitassa viya sītalavimalasurabhipānīyaṁ, visagatassa viya osadhavaraṁ, sīghagamanakāmassa viya ājaññarathavaruttamaṁ, atthakāmassa viya manoharamaṇiratanaṁ, abhisiñcitukāmassa viya paṇḍaravimalasetacchattaṁ, dhammakāmassa viya arahattaphalādhigamamanuttaraṁ.
Tassa cattāro satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati, samathavipassanā adhigacchati, adhigamappaṭipatti pariṇamati, cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidā tisso vijjā chaḷabhiññā kevalo ca samaṇadhammo sabbe tassādheyyā honti, vimuttipaṇḍaravimalasetacchattena abhisiñcati.
Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa abhijātakulakulīnassa khattiyābhisekena abhisittassa paricaranti saraṭṭhanegamajānapadabhaṭabalā aṭṭhattiṁsā ca rājaparisā naṭanaccakā mukhamaṅgalikā sotthivācakā samaṇabrāhmaṇasabbapāsaṇḍagaṇā abhigacchanti, yaṁ kiñci pathaviyā paṭṭanaratanākaranagarasuṅkaṭṭhānaverajjakachejjabhejjajanamanusāsanaṁ sabbattha sāmiko bhavati;
evameva kho, mahārāja, yo koci puggalo yutto patto …pe…
vimuttipaṇḍaravimalasetacchattena abhisiñcati.
Terasimāni, mahārāja, dhutaṅgāni, yehi suddhikato nibbānamahāsamuddaṁ pavisitvā bahuvidhaṁ dhammakīḷamabhikīḷati, rūpārūpaaṭṭhasamāpattiyo vaḷañjeti, iddhividhaṁ dibbasotadhātuṁ paracittavijānanaṁ pubbenivāsānussatiṁ dibbacakkhuṁ sabbāsavakkhayañca pāpuṇāti.
Katame terasa?
Paṁsukūlikaṅgaṁ tecīvarikaṅgaṁ piṇḍapātikaṅgaṁ sapadānacārikaṅgaṁ ekāsanikaṅgaṁ pattapiṇḍikaṅgaṁ khalupacchābhattikaṅgaṁ āraññikaṅgaṁ rukkhamūlikaṅgaṁ abbhokāsikaṅgaṁ sosānikaṅgaṁ yathāsanthatikaṅgaṁ nesajjikaṅgaṁ, imehi kho, mahārāja, terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi kevalaṁ sāmaññaṁ paṭilabhati, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā, mahārāja, sadhano nāviko paṭṭane suṭṭhu katasuṅko mahāsamuddaṁ pavisitvā vaṅgaṁ takkolaṁ cīnaṁ sovīraṁ suraṭṭhaṁ alasandaṁ kolapaṭṭanaṁ suvaṇṇabhūmiṁ gacchati aññampi yaṁ kiñci nāvāsañcaraṇaṁ;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi kevalaṁ sāmaññaṁ paṭilabhati, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā, mahārāja, kassako paṭhamaṁ khettadosaṁ tiṇakaṭṭhapāsāṇaṁ apanetvā kasitvā vapitvā sammā udakaṁ pavesetvā rakkhitvā gopetvā lavanamaddanena bahudhaññako hoti, tassādheyyā bhavanti ye keci adhanā kapaṇā daliddā duggatajanā;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi …pe…
kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā vā pana, mahārāja, khattiyo muddhāvasitto abhijātakulīno chejjabhejjajanamanusāsane issaro hoti vasavattī sāmiko icchākaraṇo, kevalā ca mahāpathavī tassādheyyā hoti;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi jinasāsanavare issaro hoti vasavattī sāmiko icchākaraṇo, kevalā ca samaṇaguṇā tassādheyyā honti.
Nanu, mahārāja, thero upaseno vaṅgantaputto sallekhadhutaguṇe paripūrakāritāya anādiyitvā sāvatthiyā saṅghassa katikaṁ sapariso naradammasārathiṁ paṭisallānagataṁ upasaṅkamitvā bhagavato pāde sirasā vanditvā ekamantaṁ nisīdi, bhagavā ca taṁ suvinītaṁ parisaṁ oloketvā haṭṭhatuṭṭho pamudito udaggo parisāya saddhiṁ sallāpaṁ sallapitvā asambhinnena brahmassarena etadavoca—
‘pāsādikā kho pana tyāyaṁ, upasena, parisā, kathaṁ tvaṁ, upasena, parisaṁ vinesī’ti.
Sopi sabbaññunā dasabalena devātidevena puṭṭho yathābhūtasabhāvaguṇavasena bhagavantaṁ etadavoca—
‘Yo koci maṁ, bhante, upasaṅkamitvā pabbajjaṁ vā nissayaṁ vā yācati, tamahaṁ evaṁ vadāmi “ahaṁ kho, āvuso, āraññiko piṇḍapātiko paṁsukūliko tecīvariko.
Sace tvampi āraññiko bhavissasi piṇḍapātiko paṁsukūliko tecīvariko, evāhaṁ taṁ pabbājessāmi nissayaṁ dassāmī”ti, sace so me, bhante, paṭissuṇitvā nandati oramati, evāhaṁ taṁ pabbājemi nissayaṁ demi, sace na nandati na oramati, na taṁ pabbājemi, na nissayaṁ demi, evāhaṁ, bhante, parisaṁ vinemī’ti.
Evaṁ kho, mahārāja, dhutaguṇavarasamādiṇṇo jinasāsanavare issaro hoti.
Vasavattī sāmiko icchākaraṇo, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā, mahārāja, padumaṁ abhivuddhaparisuddhaudiccajātippabhavaṁ siniddhaṁ mudu lobhanīyaṁ sugandhaṁ piyaṁ patthitaṁ pasatthaṁ jalakaddamamanupalittaṁ aṇupattakesarakaṇṇikābhimaṇḍitaṁ bhamaragaṇasevitaṁ sītalasalilasaṁvaddhaṁ;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi ariyasāvako tiṁsaguṇavarehi samupeto hoti.
Katamehi tiṁsaguṇavarehi?
Siniddhamudumaddavamettacitto hoti, ghātitahatavihatakileso hoti, hatanihatamānadabbo hoti, acaladaḷhaniviṭṭhanibbematikasaddho hoti, paripuṇṇapīṇitapahaṭṭhalobhanīyasantasukhasamāpattilābhī hoti, sīlavarapavaraasamasucigandhaparibhāvito hoti, devamanussānaṁ piyo hoti manāpo, khīṇāsavaariyavarapuggalapatthito, devamanussānaṁ vanditapūjito, budhavibudhapaṇḍitajanānaṁ thutathavitathomitapasattho, idha vā huraṁ vā lokena anupalitto, appathokavajjepi bhayadassāvī, vipulavarasampattikāmānaṁ maggaphalavaratthasādhano, āyācitavipulapaṇītapaccayabhāgī, aniketasayano, jhānajjhositatappavaravihārī, vijaṭitakilesajālavatthu, bhinnabhaggasaṅkuṭitasañchinnagatinīvaraṇo, akuppadhammo, abhinītavāso, anavajjabhogī, gativimutto, uttiṇṇasabbavicikiccho, vimuttijjhositattho, diṭṭhadhammo, acaladaḷhabhīruttāṇamupagato, samucchinnānusayo, sabbāsavakkhayaṁ patto, santasukhasamāpattivihārabahulo, sabbasamaṇaguṇasamupeto, imehi tiṁsaguṇavarehi samupeto hoti.
Nanu, mahārāja, thero sāriputto dasasahassilokadhātuyā aggapuriso ṭhapetvā dasabalaṁ lokācariyaṁ, sopi aparimitamasaṅkhyeyyakappe samācitakusalamūlo brāhmaṇakulakulīno manāpikaṁ kāmaratiṁ anekasatasaṅkhaṁ dhanavarañca ohāya jinasāsane pabbajitvā imehi terasahi dhutaguṇehi kāyavacīcittaṁ damayitvā ajjetarahi anantaguṇasamannāgato gotamassa bhagavato sāsanavare dhammacakkamanuppavattako jāto.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena ekaṅguttaranikāyavaralañchake—
‘Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekapuggalampi samanupassāmi, yo evaṁ tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavatteti, yathayidaṁ, bhikkhave, sāriputto, sāriputto, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattetī’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, yaṁ kiñci navaṅgaṁ buddhavacanaṁ, yā ca lokuttarā kiriyā, yā ca loke adhigamavipulavarasampattiyo, sabbaṁ taṁ terasasu dhutaguṇesu samodhānopagatan”ti.
Dhutaṅgapañho dutiyo.
Anumānavaggo catuttho.
Can laymen attain Nibbāna?
PTS vp Pali 348 PTS cs 1 The king saw Bhikkhus in the forest, lone
And far away from men, keeping hard vows.
And then he saw too householders, at home,
Eating the sweet fruits of the Noble Path.
Considering both of these, deep doubts he felt.
’If laymen also realise the Truth
Then surely vowing vows must be in vain.
Come! let me ask that best of teachers, wise
In the threefold basket of the Buddha’s words,
Skilled to o’erthrow the arguments of the foe.
He will be able to resolve my doubts!’
PTS cs 2 Now Milinda the king went up to the place where Nāgasena was, and bowed down before him, and took his seat on one side. And when so seated, he said to Nāgasena: ‘Venerable Nāgasena, is there any layman living at home, enjoying the pleasures of sense, occupying a dwelling encumbered with wife and children, enjoying the use of sandal wood from Benares, and of garlands, perfumes, and ointments, accepting gold and silver, with an embroidered head-dress on, set with diamonds and pearls and gold-is there any such who has seen face to face the calm, the supreme good, Nirvāṇa
‘Not one hundred only, O king, nor two nor PTS vp En 245 three nor five nor six hundred, not a thousand only, nor a hundred thousand, nor ten millions, nor ten thousand millions, not even only a billion laymen (have seen Nirvāṇa)—not to speak of twenty or thirty or a hundred or a thousand who have attained to clear understanding (of the four Truths). By PTS vp En 246 what kind of exposition shall I lay before you evidence showing that I know this ?’
‘Do you yourself tell me.’
PTS cs 3 ‘Then, O king, I will explain it. All those passages in the ninefold word of the Buddha that deal with holiness of life, PTS vp Pali 349 and attainment of the path, and the divisions of the excellent habit of living under vows, shall be brought to bear in this connection. Just, O king, as water which has rained down upon a country district, with both low-lying and high places, level land and undulations, dry ground and wet, will-all of it-flow off thence and meet together in the ocean of great waters; so will all those passages meet together, and be brought into connection, here. And a manifestation of reasons out of my experience and knowledge shall be also brought to bear. Thus will this matter be thoroughly analysed, its beauty will be brought out, it will be exhausted, brought home PTS vp En 247 to rest. It will be, O king, as when an able writing-master, on exhibiting, by request, his skill in writing, will supplement the written signs by an explanation of reasons out of his experience and knowledge, and thus that writing of his becomes finished, perfect, without defect. So will I also bring to bear a manifestation of reasons out of my experience and knowledge; and thus shall this matter be thoroughly analysed, its beauty shall be brought out, it shall be exhausted, set at rest.
PTS cs 4 ‘In the city of Sāvatthi, O king, about fifty millions of the disciples of the Blessed One, devout men and devout women, were walking in the paths, and out of those three hundred and fifty-seven thousand were established in the fruit of the third path. And all of them were laity, not members of the Order. And there too, at the foot of the Gaṇḍamba tree, when the double miracle took place, two hundred millions of living beings penetrated to an understanding (of the four Truths). And again on the delivery of the Rāhulovāda discourse, and of the Mahā Mangala discourse, and of the Samacitta exposition, and of the PTS vp En 248 Parābhava discourse, and of the Purābheda discourse, and of the Kalaha-vivāda discourse, and of the cūla-vyūha discourse, and of the Mahā-vyūha discourse, and of the Tuwaṭaka discourse, and of the Sāriputta discourse, an innumerable number of celestial beings penetrated to knowledge (of the four Truths). In the city of Rājagaha three hundred and fifty thousand devout laymen and devout laywomen, disciples of the Blessed One, were walking in the Paths. And there again at the taming of Dhanapāla the great elephant nine hundred million living beings, and again at the meeting at the Pāsāṇika cetiya on the occasion of the Pārāyana discourse one hundred and forty million living beings, and again at the Indasāla cave eight hundred millions of gods, and again at Benares PTS vp Pali 350 in the deer park Isipatana at the first preaching of the Dhamma one hundred and eighty million Brahmā gods and innumerable others, and again in the heaven of the Thirty-Three at the preaching of the Abhidhamma on the Paṇḍu Kambala Rock eight hundred millions of the gods, and on the descent from the world of the gods at the gate of the city of Saṅkassa, at the miracle of the manifestation to the world, PTS vp En 249 three hundred millions of believing men and deities penetrated to a knowledge (of the four Truths). And again at Kapila-vatthu among the Sakyas, at the preaching of the Buddhavaṁsa in the Nigrodha Arāma, and again at the preaching of the Mahā Samaya Suttanta, gods in numbers that cannot be counted penetrated to a knowledge of the Dhamma. And again at the assemblies on the occasions of Sumana the garland maker, and of Garahadinna, and of Ānanda the rich man, and of Gambuka the naked ascetic, and of Maṇḍūka the god, and of Matta-kuṇḍali the god, and of Sulasā the courtesan, and of Sirimā the courtesan, and of the weaver’s daughter, and of Subhaddā, and of the spectacle of the cremation of the Brahman of Sāketa, and of the Sūnāparantas, and of the problem put by Sakka, and of the Tirokudda Sutta, and of the Ratana Sutta —at each of these eighty-four thousand penetrated to a knowledge of the Dhamma. So long, O king, as the Blessed One remained in the world, so long wheresoever in the three great divisions PTS vp En 250 (of India) or in the sixteen principal countries (in them) he stayed, there, as a usual thing, two, three, four, or five hundred, or a thousand, or a hundred thousand, both gods and men, saw face to face the calm, the supreme good, Nirvāṇa. And all of those who were gods, O king, were laymen. They had not entered the Order. So these and many other billions of gods, O king—even while they were yet laymen, living at home, enjoying the pleasures of sense—saw face to face (realised in themselves) the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa.’
PTS cs 5 ‘If so, venerable Nāgasena—if laymen, living at home and enjoying the pleasures of sense, can see Nirvāṇa—what purpose then do these extra vows serve? That being so, rather must PTS vp Pali 351 The vows be workers of mischief. For, Nāgasena, if diseases would abate without medicine, what would be the advantage of weakening the body by emetics, by purges, and other like remedies?—if one’s enemies could be subdued with one’s fists only, where would be the need of swords and spears, of javelins and bows and cross-bows, of maces and of clubs?—if trees could be climbed by clambering up them with the aid of the knots and of the crooked and hollow places in them, of the thorny excrescences and creepers and branches growing on them, what would be the need of going in quest of ladders long and strong?—if sleeping on the bare ground gave PTS vp En 251 ease to the limbs, why should one seek after fine large beds, soft to the touch?—if one could cross the desert alone, inaccessible though it be, and full of danger and fear, why need one wait for a grand caravan, well armed and well equipped?—if a man were able by his own arms to cross a flowing river, what need he care for firm dykes or boats?—if he could provide board and lodging for himself out of his own property, why should he trouble to do service to others, to flatter with sweet words, to run to and fro?—when he can get water from a natural pool, why should he dig wells and tanks and artificial ponds? And just so, venerable Nāgasena, if laymen, living at home and enjoying the pleasures of sense, can realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa, what is the need of taking upon oneself these vows?’
The twenty-eight advantages of the vows
PTS cs 6 ‘There are, O king, these twenty-eight good qualities in the vows, virtues really inherent in them; and on account of these all the Buddhas alike have longed for them and held them dear. And what are the twenty-eight? the keeping of the vows, O king, implies a mode of livelihood without evil, it has a blissful calm as its fruit, it avoids blame, it works no harm to others, it is free from danger, it brings no trouble on others, it is certain to bring with it growth in goodness, it wastes not away, it deludes not, it is in itself a protection, it works the satisfaction of desires and the taming of all beings, it is good for self-control, PTS vp En 252 it is appropriate, (he who keeps the vows) is self-dependent, is emancipated, the keeping of them is the destruction of lust; and of malice, and of dullness; it is the putting away of pride, the cutting off of evil thoughts, the removal of doubts, the suppression of sloth, the putting away of discontent; it is long-suffering, its merit is beyond weight, and its virtue beyond measure, and it is the path that leads to the end of every grief. These, O king, are the twenty-eight good qualities in the vows; PTS vp Pali 352 and it is on account of these that all the Buddhas alike have longed for them and held them dear.
The eighteen good qualities that come from keeping them
PTS cs 7 ‘And whosoever, O king, thoroughly carry out the vows, they become completely endowed with eighteen good qualities. What are these eighteen? Their walk is pure, their path is accomplished, well guarded are they in deed and word, altogether pure are they in manners and in mind, their zeal flags not, all their fears are allayed, all delusions (as to the permanence and as to the degree) of their individuality have been put away, anger has died away while love (to all beings) has arisen in their hearts, in taking nourishment they eat it with the three right views regarding food, they are honoured of PTS vp En 253 all men, they are temperate in eating, they are full of watchfulness, they need no home, wheresoever is a pleasant spot there do they dwell, they loathe to do ill, they take delight in solitude, they are in earnest always. These, O king, are the good qualities with which they who carry out the vows are completely endowed.
PTS cs 8 ‘And these ten, O king, are the individuals worthy of those advantages inherent in the vows—the man full of faith, ashamed to do wrong, full of courage, void of hypocrisy, master of himself, not unstable, desirous to learn, glad to undertake the task that is hard, not easy to take offence, of a loving heart. These, O king, are the ten individuals worthy of those advantages inherent in the vows.
PTS cs 9 ‘And all they, O king, who as laymen, living at home and in the enjoyment of the pleasures of sense, realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa—all they had in former births accomplished their training, laid the foundation, in the practice of the thirteen vows, had purified their walk and conduct by means of them; and so now, even as laymen, living at home and in the enjoyment of the pleasures of sense, do they realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa. Just, O king, as a clever archer first in regular succession teaches his pupils at the training ground the different kinds of bows, the manner of holding the bow up, and of keeping it in a firm grasp, and of bending the fingers, and of planting the feet, and of taking up the arrow, and of placing it on PTS vp En 254 The string, and of drawing it back, and of restraining it, and of aiming at the mark, and thus of hitting a man of straw, or targets made of the Khaṇaka plant, or of grass, or of straw, or of masses of clay, or of shields —and after that, introducing them to the service of the king, he gains the reward of high-bred chargers and chariots and elephants and horses and money and corn and red gold and slave girls and slaves and wives and lands. PTS vp Pali 353 Just so, O king, all they who as laymen, living at home in the enjoyment of the pleasures of sense, realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa—all they had in former births accomplished their training, laid the foundation, in the practice of the thirteen vows, had purified their walk and conduct by means of them; and so now, even as laymen, and living at home in the enjoyment of the pleasures of sense, do they realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa.
No Arahatship without having kept them
PTS cs 10 ‘And there is no realisation of Arahatship, O king, in one single life, without a previous keeping of the vows. Only on the utmost zeal and the most devoted practice of righteousness, and with the aid of a suitable teacher, is the realisation of Arahatship attained. just, O king, as a doctor or surgeon first procures for himself a teacher, either by the payment of a fee or by the performance of service, and then PTS vp En 255 thoroughly trains himself in holding the lancet, in cutting, marking, or piercing with it, in extracting darts, in cleansing wounds, in causing them to dry up, in the application of ointments, in the administration of emetics and purges and oily enemas, and only when he has thus gone through training, served his apprenticeship, made himself skilful, does he visit the sick to heal them. Just so, O king, all they who as laymen, living at home in the enjoyment of the pleasures of sense, realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa—all they had in former births accomplished their training, laid the foundation, in the practice of the thirteen vows, had purified their walk and conduct by means of them; and so now, even as laymen, and living at home in the enjoyment of the pleasures of sense, do they realise in themselves the condition of Peace, the Supreme Good, Nirvāṇa.
PTS cs 11 ‘And there is no perception of the truth to those who are not purified by the virtues that depend on the keeping of the vows. just as without water no seed will grow, so can there be no perception of the truth to those not purified by the practice of the vows. just as there is no rebirth in bliss to those who have done no meritorious actions, no beautiful deeds, so is there no perception of the truth for those not purified by the practice of the vows.
Similes
PTS cs 12 ‘Like the broad earth, O king, is the character resulting from the keeping of the vows, to serve as a basis to those who desire to be pure. Like water is it, O king, to wash away the stain of all things PTS vp En 256 evil in those who desire to be pure. Like the fire is it, O king, to burn out the lust of all evil in those who desire to be pure PTS vp Pali 354 . Like the wind is it, O king, to carry away the dust of all evil in those desiring to be pure. Like medicine is it, O king, to allay the disease of evil in those desiring to be pure. Like ambrosia is it, O king, to act as an antidote to the poison of evil in those desiring to be pure. Like arable land is it, O king, on which to grow the crop of ‘all the virtues of renunciation to those desiring to be pure. Like a wishing-gem is it, O king; for conferring all the high attainments they long and crave for upon those who desire to be pure. Like a boat is it, O king, for carrying to the further shore of the mighty ocean of transmigration all those who desire to be pure. Like a place of refuge is it, O king, where those who desire to be pure can be safe from the fear of old age and death. Like a mother is it, O king, to comfort those who desire to be pure when afflicted with the sorrows of sin. Like a father is it, O king, to raise up in those who desire to be pure and to increase in goodness all the good qualities of those who have renounced the world. Like a friend is it, O king, in not disappointing those who desire to be pure in their search after the good qualities of those who have renounced the world. Like a lotus flower, O king, is it, in not being tarnished by the stain of evil. Like costly perfume (of saffron and of jasmine and the Turkish incense and the Greek) PTS vp En 257 is it, O king, for counteracting the bad odour of evil for those who desire to be pure. Like a lofty mountain range is it, O king, for protecting those who desire to be pure from the onslaught of the winds of the eight conditions to which men are subject in this world (gain and loss, and fame and dishonour, and praise and blame, and happiness and woe). Like the space of heaven is it, O king, in the freedom from all obstruction, in the magnitude, in the great expanse and breadth it gives to those who desire to be pure. Like a stream is it, O king, in washing away for those who desire to be pure the stain of all evil. Like a guide is it, O king, in bringing safe out of the desert of rebirths, out of the jungle of lusts and sins, those who desire to be pure. Like a mighty caravan is it, O king, for bringing those who desire to be pure safe into that most blessed city of Nirvāṇa, peaceful and calm, where no fear dwells, PTS vp Pali 355 Like a well-polished spotless mirror is it, O king, for showing to those who desire to be pure the true nature of the constituent elements of all beings. Like a shield is it, O king, for warding off from those who desire to be pure the clubs and the arrows and the swords of evil dispositions. Like a sunshade is it, O king, for warding off from those who desire to be pure the scorching heat of the threefold fire. Like PTS vp En 258 The moon is it, O king, as being longed and hoped for by those who desire to be pure. Like the sun is it, O king, as dispelling the blackness of the darkness of ignorance for those who desire to be pure. Like the ocean is it, O king, as causing to arise in those desiring to be pure the costly treasures of the virtues of those who have renounced the world, and by reason too of its immensity, of its being beyond measure and beyond count,
PTS cs 13 ‘Thus is it, O king, of great service to those desiring to be pure, a remover of all sorrow and lamentation, an antidote to discontent; it puts an end to fear, and individuality, and imperviousness of mind; to evil, and to grief, and to pain, and to lust, and to malice, and to dullness, and to pride, and to heresy, and to all wrong dispositions; it brings with it honour and advantage and bliss; it fills them with ease and with love and with peace of mind; it is free from blame; it has happiness here as its fruit; it is a mine and treasure of goodness that is beyond measure and beyond count, costly above all things, and precious.
PTS cs 14 ‘Just, O king, as men for nourishment seek after food, for health medicine, for assistance a friend, for crossing water a boat, for pleasant odours a perfume, for security a place of refuge, for support the earth, for instruction a teacher, for honours a king, and for whatever they desire a wishing-gem—just so, O king, do the Arahats seek after the virtues of the keeping of the vows for the attainment of all the advantages of renunciation of the world.
PTS cs 15 ‘And what water is for the growth of seeds, PTS vp Pali 356 what fire is for burning, what food is for giving strength, what a creeper is for tying things up, what PTS vp En 259 a sword is for cutting, what water is for allaying thirst, what a treasure is for giving confidence, what a boat is for crossing to the further shore, what medicine is for allaying disease, what a carriage is for journeying at ease, what a place of refuge is for appeasing fear, what a king is for protection, what a shield is for warding off the blows of sticks and stakes, of clubs, of arrows, and of darts, what a teacher is for instruction, what a mother is for nourishing, what a mirror is for seeing, what a jewel is for ornament, what a dress is for clothing, what a ladder is for mounting up, what a pair of scales is for comparison, what a charm is for repetition, what a weapon is for warding off scorn, what a lamp is for dissipating darkness, what a breeze is for allaying fever, what knowledge of an art is for the accomplishment of business, what medicinal drugs are for the preservation of life, what a mine is for the production of jewels, what a gem is for ornament, what a command is for preventing transgression, what sovranty is for dominion—all that, O king, is the character-that-comes-of-keeping-the-vows for the good growth of the seed of renunciation, for the burning out of the stains of evil, for giving the strength of Iddhi, for tying up one’s self in self-control and presence of mind, for the complete cutting off of doubt and mistrust, for allaying the thirst of craving, for giving confidence as to perception of the truth, for crossing to the further shore of the fourfold stream (of sensuality, individuality, delusion, and ignorance), for allaying the disease of evil dispositions, PTS vp En 260 for attaining to the bliss of Nirvāṇa, for appeasing the fears that arise from birth, old age, decay and death, grief, pain, lamentation, woe, and despair, for being protected in the possession of the advantages of renunciation, for warding off discontent and evil thoughts, for instruction in all the good involved in the life of those who have renounced the world, for nourishment therein, for explaining to men quietude and insight, and the path and the fruits thereof and Nirvāṇa, for bestowing upon men a costly ornament high in the praise and admiration of the world, for closing the doors of all evil states, for mounting up to the peaks of the mountain heights of renunciation, for distinguishing crooked and cunning and evil intentions in others, for the proper recitation of those qualities which ought to be practised and those which ought not, for warding off as one’s enemies all evil dispositions, for dissipating the darkness of ignorance, for allaying the fever arising from the scorching of the threefold fire, for the accomplishment of the attainment of the Condition of Peace—so gentle and so subtle—for the protection of the virtues of the life of a recluse, for the production of the precious jewels of the sevenfold wisdom—self-possession, investigation of the truth, energy, joy, calm contemplation, and serenity—for the adornment of the recluses, for the prevention of any transgression against that blameless, abstruse, delicate bliss PTS vp Pali 357 that comes of peace, for dominion over all the qualities that recluses and Arahats affect. Thus, O king, is it that keeping the vows is one and the same thing as attaining to all these qualities. And the advantage thereof, O king, cannot be weighed, neither measured; it has no equal, no rival, no PTS vp En 261 superior, great is it and glorious, extensive and abundant, deep and broad, and large and wide, full of weight and worth and might.
He who, being unworthy, takes the vows
PTS cs 16 ‘And whosoever, O king, having evil cravings in his heart, being hypocritical, greedy, a slave to his stomach, seeking after material gain or worldly fame and glory, unfit (for the outward signs of Arahatship), not having reached the attainments, whose conduct is inconsistent (with membership in the Order), unworthy of it, inappropriate to it—whosoever being such shall take upon himself the vows, he shall incur a twofold punishment, suffering the loss of the good that may be in him. For in this world he shall receive disgrace, and scorn, and blame, and ridicule, and suspension, and excommunication, and expulsion, and he shall be outcast, rejected, dismissed; and in his next life he shall suffer torment in the great Avīci purgatory that is a hundred leagues in depth, and covered, as with a garland, with hot and scorching, fierce and fiery blazing flames; therein shall he rise and fall for myriads of years, upwards and downwards and across—a foam-bubble, as it were, cast up and thrown from side to side in a boiling sea. And, when released from thence, then as a mighty Preta (ghost), in the outward form of a monk, but with PTS vp En 262 body and limbs lean and rugged and dark, with head swollen, bloated, and full of holes, hungry and thirsty, odd and dreadful in colour and form, his ears all torn, and his eyes ever winking, his limbs a mass of mortifying sores, his whole body the prey of maggots, his stomach all scorching and hot like a fiery furnace blazing in the breeze, yet with a mouth no larger than a needle so that his thirst can never cease, with no place of refuge to fly to, no protector to help him, groaning and weeping and crying out for mercy, shall he wander wailing o’er the earth!
PTS cs 17 ‘Just, O king, as whosoever, being unfit for royalty, without having properly attained to it, being inappropriate to it, unworthy of it, unsuitable for it, a low-born man and base in lineage, should receive the consecration of a king, he would suffer mutilation, having his hands or his feet, or his hands and feet cut off, or his ears or his nose, or his ears and nose cut off, PTS vp Pali 358 or he would be tortured, being subjected to the Gruel Pot, or to the Chank Crown, or to the Rāhu’s Mouth, or to the Fire Garland, or to the Hand Torch, or to the Snake Strips, or to the Bark Dress, or to the Spotted Antelope, or to the Flesh Hooks, or to the Pennies, or to the Brine Slits, or to the Bar Turn, or to the Straw Seat, or he would be anointed with boiling oil, or be eaten by dogs, or be impaled alive, or be beheaded, or be subjected to punishments of various kinds. And why? Because he being unfit for it, without having properly attained to it, being inappropriate to it, unworthy of it, unsuitable for it, a low-born man PTS vp En 263 and base in lineage, he had placed himself in the seat of sovranty, and thus transgressed beyond his right limits. Just so, O king, whosoever having evil cravings in his heart, being hypocritical, greedy, a slave to his stomach, seeking after material gain or worldly fame and glory, unfit (for the outward signs of Arahatship), not having reached the attainments, whose conduct is inconsistent (with membership in the Order), unworthy of it, inappropriate to it—whosoever being such shall take upon himself the vows, he shall incur a twofold punishment, suffering the loss of the good that may be in him. For in this world he shall receive disgrace, and scorn, and blame, and ridicule, and suspension, and excommunication, and expulsion, and he shall be outcast, rejected, dismissed; and in his next life he shall suffer torment in the great Avīci purgatory that is a hundred leagues in depth, and covered, as with a garland, with hot and scorching, fierce and fiery blazing flames; therein shall he rise and fall for myriads of years, upwards and downwards and across—a foam-bubble, as it were, cast up and thrown from side to side in a boiling sea. And, when released from thence, then as a mighty Preta (ghost), in the outward form of a monk, but with body and limbs lean and rugged and dark, with head swollen, bloated, and full of holes, hungry and thirsty, odd and dreadful in colour and form, his cars all torn, and his eyes ever winking, his limbs a mass of mortifying sores, his whole body the prey of maggots, his stomach all scorching and hot like a fiery furnace blazing in the breeze, yet with a mouth no larger than a needle so that his thirst can never cease, with no place of refuge to fly PTS vp En 264 to, no protector to help him, groaning and weeping and crying out for mercy, shall he wander wailing o’er the earth!
He who, being worthy, takes the vows
PTS cs 18 ‘But whosoever, O king, is fit, who has reached the attainments, whose conduct is consistent with membership in the Order, who is worthy of it, appropriate to it, who desires little and is content, given to seclusion, not fond of society, alert in zeal, resolute of heart, without guile, without deceit, not a slave to his stomach, seeking neither material gain nor worldly fame or glory, full of faith, who has entered the Order from belief (in the doctrine, and not from worldly motives), and is full of desire for release from old age and death—whosoever being such shall take upon himself the vows with the idea of upholding the faith, he is deserving of twofold honour. For he is near and dear to, loved and longed for by both gods and men, dear as rare jasmine flowers to the man bathed and anointed, as sweet food to the hungry, as cool, clear, fragrant water to the thirsty, as a healing drug to a poisoned man, as a costly chariot drawn by high-bred steeds to the hurrying traveller, as a wishing-gem to the greedy for gain, as the pure white sunshade of sovranty to one ambitious for a throne, as the blessed attainment of the fruits of Arahatship to the seeker after holiness. It is he who attains to the fullest mastery over the four Earnest Meditations, the fourfold Great Struggle, the four Roads to Saintship, the five Organs of the moral sense, the five moral Powers, the seven forms of Wisdom, and the Noble Eightfold Path, quietude and insight reign in his heart, attainment PTS vp En 265 through study becomes easy to him, and the four fruits of the life of a recluse, PTS vp Pali 359 The four kinds of Discrimination, the threefold Knowledge, the sixfold higher Wisdom, in a word, the whole religion of the recluses becomes his very own, an anointed king is he, and over him is borne the pure white sunshade of emancipation!
PTS cs 19 ‘Just, O king, as all the citizens and country folk in the land, the soldiers and the peons (royal messengers), wait in service upon a Kshatriya king, born to the purple, and on both sides of lineage high, when he has been consecrated with the inauguration ceremonies of the Kshatriyas ; the thirty-eight divisions of the royal retinue, and the dancing men, and acrobats, and the soothsayers, PTS vp En 266 and the heralds, and Samaṇas and Brahmans, and the followers of every sect, frequent his court, and he becomes the lord of every seaport, and treasure-mine, and town, and custom-house —giving instructions as to the fate of every foreigner and criminal —just so, O king, whoever is fit, who has reached the attainments, whose conduct is consistent with membership in the Order, who is worthy of it, appropriate to it, who desires little and is content, given to seclusion, not fond of society, alert in zeal, resolute of heart, without guile, without deceit, not a slave to his stomach, seeking neither material gain nor worldly fame or glory, full of faith, who has entered the Order from belief (in the doctrine, and not from worldly motives), and is full of desire for release from old age and PTS vp En 267 death—whosoever being such shall take upon himself the vows with the idea of upholding the faith, he is deserving of twofold honour. For he is near and dear to, loved and longed for by both gods and men, dear as rare jasmine flowers to the man bathed and anointed, as sweet food to the hungry, as cool, clear, fragrant water to the thirsty, as a healing drug to a poisoned man, as a costly chariot drawn by high-bred steeds to the hurrying traveller, as a wishing-gem to the greedy for gain, as the pure white sunshade of sovranty to one ambitious for a throne, as the blessed attainment of the fruits of Arahatship to the seeker after holiness. It is he who attains to the fullest mastery over the four Earnest Meditations, the fourfold Great Struggle, the four Roads to Saintship, the five Organs of the moral sense, the five moral Powers, the seven forms of Wisdom, and the Noble Eightfold Path, quietude and insight reign in his heart, attainment through study becomes easy to him, and the four fruits of the life of a recluse, the four kinds of Discrimination, the threefold Knowledge, the sixfold higher Wisdom, in a word, the whole religion of the recluses becomes his very own, an anointed king is he, and over him is borne the pure white sunshade of emancipation!
PTS cs 20 ‘Such, O king, are the thirteen vows purified by which a man shall bathe in the mighty waters of Nirvāṇa, and there indulge himself, as one sporting in the waves, with the manifold delights of religion, he shall addict himself to the eight modes of transcendental ecstacy, he shall acquire the powers of Iddhi, distant sounds, human and divine, shall greet his ear, he shall divine the thoughts of others, he PTS vp En 268 shall be able to call to mind his own previous births, and to watch the rise and fall from birth to birth of others, and he shall perceive the real nature and the origin of, he shall perceive the means of escape from sorrow, and from lust, individuality, delusion, and ignorance, the stains of life!
Details of the thirteen extra vows
‘And what are these thirteen? Wearing raiment made up of pieces taken from a dust-heap—Wearing three robes, and three robes only—Living on food received by begging—Begging straight on from house to house—Eating only once a day, at one sitting—Eating from one vessel only—Refusing food in excess of the regulations—Dwelling in the woods—Dwelling at the root of a tree-Dwelling in the open air—Dwelling in or near a cemetery—Not altering the mat or bed when it has once been spread out to sleep on—and sleeping in a sitting posture. It is he, O king, who, in former births, has undertaken and practised, followed and carried out, observed, framed his conduct according to, and fulfilled these thirteen vows, who acquires all the results of the life of a recluse, and all its ecstacy of peace and bliss becomes his very own. PTS vp En 269
PTS cs 21 ‘Just, O king, as a shipowner who has become wealthy by constantly levying freight in some seaport town, will be able to traverse the high seas, and go to Vanga, or Takkola, or China, or Sovīra, or Surat, or Alexandria, or the Koromandel coast, or Further India, or any other place where ships do congregate—just so, O king, PTS vp Pali 360 it is he who in former births has undertaken and practised, followed and carried out, observed, framed his conduct according to, and fulfilled these thirteen vows, who acquires all the results of the life of a recluse, and all its ecstacy of peace and bliss becomes his very own.
PTS cs 22 ‘And just, O king, as a husbandman will first remove the defects in the soil-weeds, and thorns, and stones-arid then by ploughing, and sowing, PTS vp En 270 and irrigating, and fencing, and watching, and reaping, and grinding, will become the owner of much flour, and so the lord of whosoever are poor and needy, reduced to beggary and misery—just so, O king, it is he who in former births has undertaken and practised, followed and carried out, observed, framed his conduct according to, and fulfilled these thirteen vows, who acquires all the results of the life of a recluse, and all its ecstacy of peace and bliss becomes his very own.
PTS cs 23 ‘And again, O king, just as an anointed monarch is master over the treatment of outlaws, is an independent ruler and lord, and does whatsoever he desires, and all the broad earth is subject to him—just so, O king, is he who has undertaken, practised, and fulfilled in former births these vows, master, ruler, and lord in the religion of the Conquerors, and all the virtues of the Samanas are his.
The example of Upasena
PTS cs 24 ‘And was not Upasena, the Elder, he of the sons of the Vangantas, from his having thoroughly practised all the purifying merits of the vows, able to neglect the agreement arrived at by the members of the Order resident at Sāvatthi, and to visit with his attendant brethren the Subduer of men, then retired into solitude, and when he had bowed down before him, to take his scat respectfully aside? And when the Blessed One saw how well trained his retinue was, then, delighted and glad and exalted in heart, he greeted them with courteous words, and said in his unbroken beautiful voice:
Most pleasant, Upasena, is the deportment of PTS vp En 271 These brethren waiting upon you. How have you managed thus to train your followers?”
‘And he, when so questioned by the omniscient Buddha, the god over all gods, spake thus to the Blessed One as to the real reason for the goodness of their nature: “Whosoever, Lord, may come to me to ask for admission to the Order or to become my disciple, to him do I say PTS vp Pali 361 : ‘I, Sir, am a frequenter of the woods, who gain my food by begging, and wear but this robe pieced together from cast-off rags. If you will be the same, I can admit you to the Order and make you my disciple.’ Then, if he agree thereto with joy, and abase himself, I thereupon admit him to the Order and to the company of my pupils. But if not, then neither do I admit him to the one nor to the other. Thus is it, Lord, that I train them.” And thus is it, O king, that he who has taken upon himself the vows becomes master, ruler, and lord in the religion of the Conquerors; and all its ecstacy of peace and bliss becomes his very own.
The thirty graces of the true recluse
PTS cs 25 ‘Just, O king, as a lotus flower of glorious, pure, and high descent and origin is glossy, soft, desirable, sweet-smelling, longed for, loved, and praised, untarnished by the water or the mud, graced with tiny petals and filaments and pericarps, the resort of many bees, a child of the clear cold PTS vp En 272 stream—just so is that disciple of the Noble Ones who in former births has undertaken and practised, followed and carried out, observed and framed his conduct according to, and fulfilled these thirteen vows, endowed with the thirty graces. And what are the thirty? His heart is full of affectionate, soft, and tender love, evil is killed, destroyed, cast out from within him, pride and self-righteousness are put an end to and cast down, stable and strong and established and undeviating is his faith, he enters into the enjoyment of the heart’s refreshment, the highly praised and desirable peace and bliss of the ecstacies of contemplation fully felt, he exhales the most excellent and unequalled sweet savour of righteousness of life, near is he and dear to gods and men alike, exalted by the best of beings the Arahat Noble Ones themselves, gods and men delight to honour him, the enlightened, wise, and learned approve, esteem, appreciate, and praise him, untarnished is he by the love either of this world or the next, he sees the danger in the smallest tiniest offence, rich is he in the best of wealth—the wealth that is the fruit of the Path, the wealth of those who are seeking the highest of the attainments—he is partaker of the best of the four requisites of a recluse that may be obtained by asking, he lives without a home addicted to that best austerity that is dependent on the meditation of the Ghānas, PTS vp Pali 362 he has unravelled the whole net of evil, he has broken and burst through, doubled up and utterly destroyed both the possibility of rebirth in any of the five future states, and the five obstacles to the PTS vp En 273 higher life in this one (lust, malice, sloth, pride, and doubt), unalterable in character, excellent in conduct, transgressing none of the rules as to the four requisites of a recluse, he is set free from rebirths, he has passed beyond all perplexity, his mind is set upon complete emancipation, he has seen the truth, the sure and stedfast place of refuge from all fear has he gained, the seven evil inclinations (to lust, and malice, and heresy, and doubt, and pride, and desire for future life, and ignorance) are rooted out in him, he has reached the end of the Great Evils (lust, individuality, delusion, and ignorance), he abounds in the peace and the bliss of the ecstacies of contemplation, he is endowed with all the virtues a recluse should have. These, O king, are the thirty graces he is adorned withal.
The example of Sāriputta
PTS cs 26 ‘And was not Sāriputta, the Elder, O king, the best man in the whole ten thousand world systems, the Teacher of the world himself alone excepted? And he who through endless ages had heaped up merit, and had been reborn in a Brahman family, relinquished all the delights of the pleasures of sense, and gave up boundless wealth, to enter the Order according to the teaching of the Conqueror, and having restrained his actions, words, and thoughts by these thirteen vows, became in this life of such exalted virtue that he was the one who, after the Master, set rolling on the royal chariot-wheel PTS vp En 274 of the kingdom of righteousness in the religion of Gotama, the Blessed One. So that this was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in that most excellent collection, the Aṅguttara Nikāya:
“I know, O brethren, of no other man who in succession to me sets rolling on the glorious chariot-wheel of the kingdom of righteousness so well as Sāriputta. Sāriputta, O brethren, sets rolling that wheel the best of all.”’
‘Most excellent, Nāgasena! the whole ninefold word of the Buddha, the most exalted conduct, the highest and best of the attainments to be gained in the world—all these are wrapped up together in the virtues that result from the keeping of the vows.’
Here ends the Ninth Chapter
Here ends the Solving of Puzzles.
“Đức vua nhìn các vị tỳ khưu sống ở rừng đã được gắn bó với các hạnh từ khước, rồi nhìn lại những người tại gia đã trú ở quả vị Bất Lai.
Sau khi quan sát cả hai hạng ấy, có nỗi nghi hoặc lớn đã khởi lên: ‘Nếu người tại gia có thể giác ngộ Giáo Pháp, thì pháp từ khước là không có kết quả.
Vậy ta nên hỏi vị thuyết giảng hạng nhất, được thông thạo về Tam Tạng, có sự nghiền nát học thuyết của các diễn giả khác, vị ấy sẽ tiêu diệt nỗi nghi ngờ của ta.”
BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, có người tại gia nào, sống ở nhà, trong khi sinh sống có sự thọ hưởng các dục, có việc nằm chen chúc với vợ và con, trong khi hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, trong khi đeo tràng hoa, vật thơm, và vật thoa, trong khi ưng thuận vàng và bạc, buộc búi tóc có trang điểm ngọc ma-ni, ngọc trai, và vàng, mà người ấy đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, không?”
“Tâu đại vương, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba bốn năm trăm, không phải một ngàn, không phải một trăm koṭi, không phải một ngàn koṭi, không phải một trăm ngàn koṭi. Tâu đại vương, hãy bỏ qua sự lãnh hội của mười, của hai mươi, của một trăm, của một ngàn (người tại gia), tôi có thể cho đại vương câu trả lời bằng phương thức nào?”
“Chính ngài hãy nói về điều ấy.”
“Tâu đại vương, như thế thì tôi sẽ nói với đại vương về một trăm, hay một ngàn, hay một trăm ngàn, hay một koṭi, hay một trăm koṭi, hay một ngàn koṭi, hay một trăm ngàn koṭi. Bất cứ lời giảng nào về Phật Pháp gồm chín thể loại được liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý về hạnh từ khước, tất cả các lời giảng ấy sẽ tập trung lại ở đây.
Tâu đại vương, giống như nước đã được đổ mưa ở các phần đất lõm xuống hoặc nhô lên, bằng phẳng hoặc gồ ghề, đất liền hay không phải đất liền, sau khi rơi xuống từng giọt ở khắp nơi rồi từ đó tập trung lại ở đại dương biển cả. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi có người tiếp nhận thì bất cứ lời giảng nào về Phật Pháp gồm chín thể loại được liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý về hạnh từ khước, tất cả các lời giảng ấy sẽ tập trung lại ở đây.
Tâu đại vương, việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của tôi sẽ tập trung lại ở đây, nhờ vậy ý nghĩa ấy sẽ khéo được phân tích, được thêm thắt, được đầy đủ, được gom chung lại.
Tâu đại vương, giống như vị thầy ghi chép thiện xảo, đã được chỉ dẫn, trong khi ghi lại bài viết thì hoàn thiện bài viết với việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của bản thân, như vậy bài viết ấy sẽ được hoàn thành, được đầy đủ, không thiếu sót. Tương tợ y như thế, việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của tôi sẽ tập trung lại ở đây, nhờ vậy ý nghĩa ấy sẽ khéo được phân tích, được thêm thắt, được đầy đủ, được gom chung lại.
BJT 2Tâu đại vương, ở thành Sāvatthi, có khoảng năm koṭi (năm mươi triệu) Thánh đệ tử là các cận sự nam và cận sự nữ của đức Thế Tôn, (trong số đó) ba trăm năm mươi bảy ngàn người đã được thiết lập vào quả vị Bất Lai, tất cả những vị ấy đều là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia.
Thêm nữa, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc (thị hiện) song thông ở gốc cội cây gaṇḍamba, có hai mươi koṭi (200.000.000) sinh mạng đã lãnh hội. Thêm nữa, vào lúc (thuyết giảng) Mahārāhulovāda, Kinh Mahāmaṅgala, bài giảng về tâm bình lặng, Kinh Parābhava, Kinh Purābheda, Kinh Kalahavivāda, Kinh Cūḷabyūha, Kinh Mahābyūha, Kinh Tuvaṭaka, Kinh Sāriputta, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên với số lượng vượt trội phương thức tính đếm.
Ở thành Rājagaha, ba trăm năm mươi ngàn Thánh đệ tử của đức Thế Tôn là các cận sự nam và cận sự nữ. Thêm nữa, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc chế ngự con long tượng Dhanapāla có chín mươi koṭi (900.000.000) sinh mạng đã lãnh hội; ở cuộc hội họp về mục đích tối hậu ở điện thờ Pāsāṇaka có mười bốn koṭi (140.000.000) sinh mạng đã lãnh hội; thêm nữa ở hang động Indasāla có tám mươi koṭi (800.000.000) chư Thiên đã lãnh hội; thêm nữa ở thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai, vào lúc thuyết giảng Giáo Pháp lần đầu tiên, có mười tám koṭi (180.000.000) Đại Phạm Thiên và vô số chư Thiên đã lãnh hội; thêm nữa ở cõi trời Đạo Lợi, tại tảng đá Paṇḍukambala (ngai vàng của đức Trời Đế Thích) vào lúc thuyết giảng về Vi Diệu Pháp, có tám mươi koṭi (800.000.000) chư Thiên đã lãnh hội; vào lúc từ cõi trời trở lại trần gian tại cổng thành Saṅkassa, vào lúc (thị hiện) thần thông mở ra cho thấy thế gian, có ba mươi koṭi (300.000.000) nhân loại và chư Thiên được tịnh tín đã lãnh hội.
Thêm nữa, ở thành Kapilavatthu của dòng họ Sakya, tại tu viện Nigrodha, lúc thuyết giảng về dòng dõi chư Phật và lúc thuyết giảng về Kinh Mahāsamaya, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên với số lượng vượt trội phương thức tính đếm. Thêm nữa, ở cuộc gặp gỡ với người làm tràng hoa Sumana, ở cuộc gặp gỡ với Garahadinna, ở cuộc gặp gỡ với nhà triệu phú Ānanda, ở cuộc gặp gỡ với đạo sĩ lõa thể Jambuka, ở cuộc gặp gỡ với Thiên tử Maṇḍuka, ở cuộc gặp gỡ với Thiên tử Maṭṭakuṇḍali, ở cuộc gặp gỡ với Sulasā hoa khôi thành phố, ở cuộc gặp gỡ với Sirimā hoa khôi thành phố, ở cuộc gặp gỡ với người con gái thợ dệt, ở cuộc gặp gỡ với Cūlasubhaddā, ở cuộc gặp gỡ về việc xem xét chỗ hỏa táng của người Bà-la-môn xứ Sāketa, ở cuộc gặp gỡ tại Sunāparanta, ở cuộc gặp gỡ về câu hỏi của Thiên Chủ Sakka, ở cuộc gặp gỡ về (bài Kinh) Tirokuḍḍa, ở cuộc gặp gỡ về Ratanasutta (Kinh Châu Báu), mỗi một lần đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn sinh mạng.
BJT 3Tâu đại vương, trong thời gian mà đức Thế Tôn đã ngự ở thế gian, thì trong thời gian ấy, tại mỗi một nơi nào ở trong ba phạm vi thuộc mười sáu xứ sở lớn mà đức Thế Tôn đã trú ngụ, thì ở tại mỗi một nơi ấy hầu hết đều có hai, ba, bốn, năm trăm, một ngàn, một trăm ngàn chư Thiên và nhân loại đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, những vị nào là chư Thiên, những vị ấy cũng chính là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia. Tâu đại vương, những người này, và luôn cả nhiều trăm ngàn koṭi (nhiều tỷ) chư Thiên khác nữa đều là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, nếu những người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, thế thì các pháp từ khước phục vụ mục đích gì? Vì lý do ấy, các pháp từ khước là việc làm không thuộc về bổn phận. Thưa ngài Nāgasena, nếu các cơn bệnh được lắng dịu không cần chú thuật và dược thảo, thì cần gì với việc làm yếu đuối cơ thể bởi sự nôn mửa và xổ ruột, v.v… ? Nếu sự trấn áp kẻ thù nghịch là bằng các nắm tay, thì cần gì với gươm, giáo, tên, cung, nỏ, đùi cui, chày vồ? Nếu có được việc leo lên cây sau khi bám vào chạng cây, khúc cong, lỗ hổng, mầm gai, dây leo, cành cây, thì cần gì với việc tìm kiếm cái thang dài và chắc chắn? Nếu có sự điều hòa tứ đại với việc nằm ở nền đất, thì cần gì với việc tầm cầu giường nằm to lớn khổng lồ rực rỡ, có sự xúc chạm thoải mái? Nếu mỗi một mình có khả năng vượt qua bãi sa mạc có sự nguy hiểm, có sự sợ hãi, không bằng phẳng, thì cần gì với đoàn xe to lớn khổng lồ đã được chuẩn bị, đã được vũ trang? Nếu có khả năng vượt qua sông hồ bằng cánh tay, thì cần gì với việc tìm kiếm cây cầu và thuyền bè vững chắc? Nếu có thể làm ra thức ăn thức mặc bằng vật sở hữu của bản thân, thì cần gì với việc hầu hạ, việc nói lời thương mến, và việc lăng xăng chạy phía trước phía sau những kẻ khác? Nếu nước được lấy ở hồ thiên nhiên, thì cần gì với việc đào giếng nước, ao, hồ? Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu những người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, thì cần gì với việc thọ trì cao quý về hạnh từ khước?”
BJT 5“Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của các pháp từ khước là các đức tính đúng theo bản thể; do những đức tính này, các pháp từ khước được chư Phật ước ao, mong mỏi. Hai mươi tám đức tính nào? Tâu đại vương, ở đây pháp từ khước là sự nuôi mạng trong sạch, có quả an lạc, không có tội lỗi, không gây đau khổ cho người khác, không sợ hãi, không tự hành hạ mình, thuần túy liên quan đến sự tiến triển, không đưa đến hư hoại, không giả dối, là sự bảo vệ, sự ban cho điều đã được mong mỏi, sự huấn luyện cho tất cả chúng sanh, có sự thu thúc là lợi ích, là sự đúng đắn, không bị lệ thuộc, được thoát ra khỏi, là sự diệt tận luyến ái, diệt tận sân, diệt tận si, dứt bỏ ngã mạn, cắt đứt suy nghĩ xấu xa, vượt khỏi sự nghi hoặc, tiêu diệt sự lười biếng, dứt bỏ sự không ưa thích, sự chịu đựng, không so sánh được, không đo lường được, đưa đến sự diệt tận tất cả khổ đau. Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của các pháp từ khước là các đức tính đúng theo bản thể; do những đức tính này, các pháp từ khước được chư Phật ước ao, mong mỏi.
Tâu đại vương, những người nào thực hiện đúng đắn các hạnh từ khước, những người ấy là những người đi đến hội hợp với mười tám đức tính. Với mười tám đức tính nào? Cách cư xử của những vị ấy khéo được thanh tịnh, sự thực hành khéo được đầy đủ, thân khẩu khéo được hộ trì, sự hành xử của ý khéo được thanh tịnh, sự tinh tấn khéo được nắm giữ, sợ hãi được lắng xuống, tùy ngã kiến được xa lìa, sự căm hận được đình chỉ, tâm từ được thiết lập, vật thực được nhận biết rõ rệt, được kính trọng đối với tất cả chúng sanh, biết vừa đủ về vật thực, gắn liền với sự tỉnh thức, không cần chỗ ngụ, nơi nào có sự thoải mái thì trú ngụ ở nơi ấy, có sự nhờm gớm về điều ác, có sự thích thú nơi thanh vắng, thường xuyên không xao lãng. Tâu đại vương, những người nào thực hiện đúng đắn các hạnh từ khước, những người ấy là những người đi đến hội hợp với mười tám đức tính.
BJT 6Tâu đại vương, mười hạng người này là xứng đáng với hạnh từ khước. Mười hạng nào? Là người có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự sáng suốt, không lường gạt, có khả năng đối với mục đích, không tham, ưa thích sự học tập, có sự thọ trì kiên cố, không có nhiều sự than phiền, có sự an trú tâm từ. Tâu đại vương, mười hạng người này là xứng đáng với hạnh từ khước.
BJT 7Tâu đại vương, những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn.
Tâu đại vương, giống như người cung thủ thiện xảo, trước tiên hết bắt những người học trò noi gương tập luyện ở phòng huấn luyện về việc phân loại cây cung, việc nâng lên và nắm giữ cây cung, việc kìm chặt nắm tay, việc cong lại ngón tay, việc đặt để bàn chân, việc nắm lấy mũi tên, việc đặt vào, việc kéo căng ra, việc giữ chặt, việc nhắm vào mục tiêu, việc buông ra, về việc xuyên thủng mục tiêu là hình nhân bằng cỏ, bãi phân thú vật, đống cỏ, đống rơm, đống đất sét, tấm ván, sau khi hoàn thành về thuật bắn cung trong sự hiện diện của đức vua thì được nhận lãnh ân huệ về ngựa thuần chủng, xe kéo, voi, ngựa chiến, tài sản, thóc lúa, vàng khối, vàng ròng, tôi trai, tớ gái, vợ, làng mạc.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ngay ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, không có sự luyện tập trước đây về các hạnh từ khước thì không có được sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán chỉ trong một kiếp sống, hơn nữa với sự tinh tấn tột bực, với sự thực hành tột bực, với người thầy có hình thức như thế, với người bạn tốt lành thì có được sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán.
BJT 8Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc phẫu thuật sau khi đã làm hài lòng người thầy với tài sản hoặc bằng việc thực hành phận sự, sau khi đã noi theo học tập công việc cầm cây dao, việc cắt, việc rạch, việc xuyên thủng, việc rút ra cây tên, việc rửa vết thương, việc làm khô, việc bôi thuốc, việc áp dụng dầu thơm cho việc nôn mửa và việc xổ ruột, khi đã thực hành việc học tập về các kiến thức, đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành tay nghề, thì đi thăm những người bệnh nhằm việc chữa trị.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ngay ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
Tâu đại vương, giống như không có sự rưới nước thì không có sự mọc lên của hạt giống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
Tâu đại vương, hoặc là giống như không có việc đi đến cảnh giới tốt đẹp đối với những người đã không làm các việc thiện, đã không làm các việc tốt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
BJT 9Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, thì hạnh từ khước ví như trái đất theo ý nghĩa nơi nâng đỡ.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như nước theo ý nghĩa rửa sạch tất cả bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như ngọn lửa theo ý nghĩa thiêu đốt tất cả cánh rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như gió theo ý nghĩa thổi đi tất cả bợn nhơ bụi bặm về phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thuốc giải độc theo ý nghĩa làm lắng dịu tất cả tật bệnh về phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thuốc bất tử theo ý nghĩa tiêu diệt tất cả chất độc phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thửa ruộng theo ý nghĩa làm mọc lên tất cả mùa màng về Sa-môn hạnh.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như ngọc như ý theo ý nghĩa ban cho ân huệ về mọi sự thành tựu đã được mong mỏi, ước ao.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chiếc thuyền theo ý nghĩa đi đến bờ bên kia của đại dương luân hồi.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chốn nương nhờ cho người bị sợ hãi theo ý nghĩa việc làm an ủi cho những người sợ hãi sự già và sự chết.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người mẹ theo ý nghĩa người hỗ trợ cho những người bị áp bức bởi phiền não khổ đau.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người cha theo ý nghĩa người sanh ra tất cả Sa-môn hạnh cho những người có ước muốn tăng trưởng thiện pháp.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người bạn theo ý nghĩa không lường gạt trong việc tầm cầu tất cả Sa-môn hạnh.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như loài sen theo ý nghĩa không bị lấm lem bởi mọi phiền não ô nhiễm.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như bốn loại hương thơm cao quý theo ý nghĩa xua đuổi mùi thối của phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như núi chúa cao quý theo ý nghĩa không bị lay động bởi các ngọn gió của tám pháp thế gian.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như không trung theo ý nghĩa bao la, tỏa ra, rộng, lớn đối với việc bám víu ở mọi nơi đã được tách rời.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như dòng sông theo ý nghĩa chuyển tải các bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người dẫn đường giỏi theo ý nghĩa thoát ra khỏi sa mạc của sự sanh và vùng rậm rạp của khu rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người hướng dẫn đoàn xe vĩ đại theo ý nghĩa đạt đến thành phố Niết Bàn cao quý và ưu tú, không sợ hãi, an toàn, và không còn tất cả các sự sợ hãi.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như tấm gương được chùi kỹ lưỡng không vết nhơ theo ý nghĩa nhìn thấy bản thể thật của các hành.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như tấm mộc che theo ý nghĩa ngăn chặn tất cả các cây gậy, mũi tên, gươm đao phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chiếc lọng che theo ý nghĩa ngăn chặn cơn mưa phiền não và sức đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như mặt trăng theo ý nghĩa được ước muốn, được mong cầu.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như mặt trời theo ý nghĩa tiêu diệt sự tăm tối của bóng tối si mê.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như biển cả theo ý nghĩa nâng cao các viên ngọc quý giá về đức hạnh Sa-môn và theo ý nghĩa không đo lường được, không thể tính toán, không thể ước lượng.
BJT 10Tâu đại vương, như vậy hạnh từ khước đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh là có nhiều sự giúp đỡ, xua đi mọi sự khó chịu và bực bội, xua đi sự không thích thú, xua đi nỗi sợ hãi, xua đi sự hiện hữu, xua đi sự cứng nhắc (của tâm), xua đi ô nhiễm, xua đi sầu muộn, xua đi khổ đau, xua đi ái luyến, xua đi sân hận, xua đi si mê, xua đi ngã mạn, xua đi tà kiến, xua đi tất cả các pháp bất thiện, đem lại danh tiếng, đem lại lợi ích, đem lại an lạc, tạo sự thoải mái, tạo sự vui vẻ, tạo sự an toàn đối với các trói buộc, không có tội lỗi, có quả thành tựu dễ chịu và an lạc, là khối đức hạnh, là đống đức hạnh, có đức hạnh vô lường, vô lượng, cao quý, ưu tú, tối thắng.
Tâu đại vương, giống như loài người nhờ cậy vật thực vì muốn sự nâng đỡ, nhờ cậy thuốc men vì muốn sự lợi ích, nhờ cậy bạn bè vì muốn sự giúp đỡ, nhờ cậy chiếc thuyền vì muốn sự vượt qua, nhờ cậy mùi thơm của tràng hoa vì muốn mùi thơm tốt, nhờ cậy chỗ ẩn náu đối với sự sợ hãi vì muốn sự không còn sợ hãi, nhờ cậy trái đất vì muốn chỗ nâng đỡ, nhờ cậy người thầy vì muốn nghề nghiệp, nhờ cậy đức vua vì muốn danh vọng, nhờ cậy ngọc báu ma-ni vì muốn sự ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các bậc Thánh nhờ cậy hạnh từ khước vì muốn sự ban phát tất cả đức hạnh của vị Sa-môn.
BJT 11Tâu đại vương, hoặc là giống như nước nhằm việc tăng trưởng của hạt giống, lửa nhằm việc thiêu đốt, thực phẩm nhằm mang lại sức mạnh, dây leo vì sự trói buộc, dao vì việc cắt đứt, nước uống nhằm việc xua đuổi cơn khát, của chôn giấu nhằm sự an tâm, chiếc thuyền nhằm việc đạt đến bờ, thuốc men nhằm làm lắng dịu cơn bệnh, xe cộ nhằm việc đi lại được an lạc, chỗ ẩn náu đối với sự sợ hãi nhằm xua đi nỗi sợ hãi, đức vua nhằm mục đích bảo vệ, tấm mộc che nhằm ngăn chặn roi vọt, đất cục, gậy gộc, mũi tên, gươm đao, thầy giáo nhằm việc chỉ dạy, người mẹ nhằm việc nuôi dưỡng, tấm gương nhằm việc nhìn xem, đồ trang sức vì sắc đẹp, vải vóc nhằm việc che đậy, cái thang nhằm việc leo lên, cái cân nhằm loại bỏ, chú thuật để đọc lẩm nhẩm, vũ khí nhằm ngăn chặn sự hăm dọa, ngọn đèn nhằm tiêu diệt bóng tối, gió nhằm dập tắt sự nóng nực, nghề nghiệp nhằm thành tựu sự sinh sống, thuốc giải độc nhằm bảo vệ mạng sống, hầm mỏ nhằm sản xuất châu ngọc, châu ngọc nhằm để trang điểm, mệnh lệnh nhằm việc không vượt qua, uy quyền nhằm vận hành mệnh lệnh.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế hạnh từ khước nhằm việc tăng trưởng hạt giống Sa-môn, nhằm việc thiêu đốt bợn nhơ phiền não, nhằm mang lại năng lực của thần thông, nhằm buộc chặt sự thu thúc ở niệm, nhằm cắt đứt sự phân vân và nghi ngờ, nhằm xua đuổi sự khát khao về tham ái, nhằm tạo ra sự an tâm trong việc lãnh hội, nhằm thoát ra khỏi bốn dòng nước lũ, nhằm lắng dịu cơn bệnh phiền não, nhằm đạt được an lạc Niết Bàn, nhằm xua đi nỗi sợ hãi về sanh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não, nhằm bảo vệ các đức hạnh của Sa-môn, nhằm ngăn chặn sự không ưa thích và các suy nghĩ xấu xa, nhằm chỉ dạy toàn thể mục đích của đời sống Sa-môn, nhằm nuôi dưỡng tất cả các đức hạnh của đời sống Sa-môn, nhằm việc xem xét về chỉ tịnh, minh sát, Đạo, Quả, và Niết Bàn, nhằm tạo ra vẻ đẹp lớn lao vĩ đại đã được tán dương, khen ngợi bởi toàn thể thế gian, nhằm đóng lại tất cả đọa xứ, nhằm leo lên đỉnh chóp núi đá của mục đích đời sống Sa-môn, nhằm loại bỏ tâm cong, quẹo, sai trái, nhằm làm cho việc học tập tốt đẹp về các pháp nên thân cận và không nên thân cận, nhằm hăm dọa kẻ thù là mũi tên phiền não, nhằm tiêu diệt bóng tối vô minh, nhằm dập tắt sự đốt nóng và sự nóng nực của ngọn lửa gồm ba loại, nhằm thành tựu sự chứng đạt sự an tịnh tinh vi và tế nhị, nhằm bảo vệ đức hạnh của toàn bộ đời sống Sa-môn, nhằm sản xuất châu ngọc quý giá là các chi phần đưa đến giác ngộ, nhằm để trang điểm người hành giả, nhằm việc không vượt qua sự an lạc của trạng thái an tịnh không tội lỗi, khôn khéo, tế nhị, nhằm vận hành uy lực của Thánh pháp ở toàn bộ đời sống Sa-môn. Tâu đại vương, như vậy mỗi một hạnh từ khước là nhằm đưa đến sự chứng đạt các đức hạnh này. Tâu đại vương, như vậy ‘hạnh từ khước là không thể so sánh, không thể đo lường, không sánh bằng được, không vật tương đương, không vật đối chiếu, không vật trội hơn, là vô thượng, hàng đầu, đặc biệt, vượt trội, trải dài, bao la, tỏa ra, vươn rộng, quan trọng, nghiêm trọng, vĩ đại.’
BJT 12Tâu đại vương, cá nhân nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, gian xảo, tham lam, quan tâm đến bao tử, mong muốn lợi lộc, mong muốn danh vọng, mong muốn tiếng tăm, không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp mà thọ trì hạnh từ khước, kẻ ấy gánh chịu hai lần hình phạt, gánh chịu sự phá hại tất cả các đức hạnh, trong thời hiện tại nhận lấy sự khinh bỉ, khinh miệt, chê trách, chế nhạo, giễu cợt, sự không thọ hưởng chung, sự xua đuổi, sự tống khứ, sự đưa đẩy, sự trục xuất, thậm chí ở thời vị lai kẻ ấy, trong nhiều trăm ngàn koṭi (nhiều tỷ) năm, bị nung nấu quay tròn lẫn lộn với bọt nước ở bề mặt, ở hướng trên, ở hướng dưới, ở hướng ngang, trong quầng lưới lửa nóng bỏng, sôi sục, cháy nóng, cháy rực ở đại địa ngục vô gián rộng một trăm do-tuần, sau khi được thoát ra khỏi nơi ấy, thì có cơ thể và tứ chi gầy ốm, thô kệch, đen đủi, cái đầu bị sưng, phồng lên, có lỗ thủng với vô số muỗi bám, bị đói, bị khát, có hình thể dáng vóc không đồng đều, khủng khiếp, có lỗ tai bị tơi tả, có tròng con mắt mở ra nhắm lại, có cơ thể bị thương tích, cơ thể bị thối rữa, toàn bộ thân thể lúc nhúc giòi bọ, có ngọn lửa đang đốt cháy đang phát cháy ở bên trong, tợ như đang đốt cháy ở đầu ngọn gió, không sự bảo vệ, không sự nương nhờ, đang than vãn tiếng khóc tỉ tê, nức nở, bi thương, sau khi trở thành hạng ngạ quỷ to lớn có hình dáng Sa-môn luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát, đi lang thang ở trái đất, có giọng kêu gào thảm thiết.
Tâu đại vương, giống như người nào đó không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, có dòng dõi xấu xa mà phong vương với lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ, kẻ ấy nhận chịu việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, (nhúng vào) hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm, gánh chịu việc làm của nghiệp theo nhiều cách. Vì lý do gì? Kẻ không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, có dòng dõi xấu xa, đã đặt bản thân vào địa vị vương quyền to lớn, đã thủ tiêu ranh giới. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cá nhân nào có ước muốn xấu xa … (như trên) … ở trái đất, có giọng kêu gào thảm thiết.
BJT 13Tâu đại vương, tuy nhiên cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu, thích đáng, xứng đáng, phù hợp, ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách ly, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tánh cương quyết, không gian trá, không xảo quyệt, không quan tâm đến bao tử, không mong muốn lợi lộc, không mong muốn danh vọng, không mong muốn tiếng tăm, có đức tin, xuất gia vì đức tin, mong muốn thoát khỏi già chết, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ hiểu được Giáo Pháp’ rồi thọ trì hạnh từ khước, vị ấy xứng đáng sự cúng dường gấp hai lần, đối với chư Thiên và loài người là vị được yêu mến, được ưa thích, được ước muốn, được mong cầu, như là bông hoa của các loài hoa nhài trâu, nhài Ả-rập, v.v… đối với người đã được tắm đã được thoa dầu, như là thức ăn hảo hạng đối với người bị thèm ăn, như là nước uống mát sạch thơm tho đối với người bị khát, như là dược thảo cao quý đối với người bị nhiễm độc, như là cỗ xe ngựa thuần chủng cao quý tối thượng đối với người mong muốn đi nhanh, như là ngọc quý ma-ni như ý đối với người có ước muốn về mục đích, như là chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ đối với người có ước muốn được phong vương, như là sự chứng đắc vô thượng của quả vị A-la-hán đối với người có ước muốn về Giáo Pháp. Đối với vị ấy, bốn sự thiết lập niệm nhờ vào sự tu tập đi đến tròn đủ; bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám chi phần nhờ vào sự tu tập đi đến tròn đủ, chứng đắc chỉ tịnh và minh sát, hoàn thiện sự thực hành của sự chứng đắc; bốn quả báu của đời sống Sa-môn, bốn tuệ phân tích, ba Minh, sáu Thắng Trí, và toàn bộ pháp Sa-môn, tất cả là thuộc về vị ấy. Vị ấy được phong vương với chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
Tâu đại vương, giống như đối với vị vua dòng Sát-đế-lỵ, sanh ra ở nơi quý phái, có dòng dõi gia tộc, đã được phong vương với lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ, thì có các thị dân, dân chúng, nhân công, binh lính thuộc vương quốc phục tùng, và ba mươi tám toán tùy tùng của đức vua, các kịch sĩ và vũ công, những người tiên đoán điềm lành, những người nói lời chúc tụng, các Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả các nhóm người ngoại đạo tìm đến; bất cứ việc gì ở trái đất như là bến tàu, hầm mỏ châu báu, thành phố, trạm thuế, các người khác xứ, việc xử chặt, việc xử chém, việc chỉ thị dân chúng, vị vua ấy trở thành người chủ ở tất cả các nơi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu … (như trên) … được phong vương với chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
BJT 14Tâu đại vương, đây là mười ba pháp từ khước, được làm trong sạch với các pháp này, (vị tỳ khưu) tiến vào đại dương Niết Bàn, tiêu khiển trò tiêu khiển của Giáo Pháp có nhiều loại, rồi tiến đến tám sự chứng đạt của sắc giới và vô sắc giới, đạt được nhiều loại thần thông, Thiên nhĩ giới, nhận biết tâm của người khác, nhớ lại các kiếp sống quá khứ, Thiên nhãn, và sự diệt tận tất cả các lậu hoặc. Mười ba pháp nào? Pháp của vị chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, pháp của vị chỉ sử dụng ba y, pháp của vị chuyên đi khất thực, pháp của vị đi khất thực tuần tự theo từng nhà, pháp của vị chỉ một chỗ ngồi (khi thọ thực), pháp của vị thọ thực trong bình bát, pháp của vị không ăn vật thực dâng sau, pháp của vị ngụ ở rừng, pháp của vị ngụ ở gốc cây, pháp của vị ở ngoài trời, pháp của vị ngụ ở mộ địa, pháp của vị ngụ chỗ ở theo chỉ định, pháp của vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm). Tâu đại vương, với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như người thuyền trưởng, có tài sản, đã thực hiện tốt đẹp phần thuế ở bến tàu, thì tiến vào đại dương rồi đi đến các xứ Vaṅga, Takkola, Cīna, Sovīra, Suraṭṭha, Alasanda, Kolapaṭṭa, Suvaṇṇabhūmi, luôn cả bất cứ chỗ nào khác là nơi lai vãng của tàu bè. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như người nông dân trước tiên dời đi các khuyết điểm của thửa ruộng như là cỏ, cành khô, đá sỏi, rồi cày xới, gieo hạt, đưa nước vào đúng đắn, bảo vệ, giữ gìn, rồi với việc giặt hái đập giũ mà trở thành người có nhiều thóc lúa, những người nào không có tài sản, khốn khổ, nghèo khó, người lâm cảnh bất hạnh là thuộc về người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo … (như trên) … toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Sát-đế-lỵ đã được làm lễ phong vương ở đầu, đã được sanh ra ở nơi quý phái, có dòng dõi gia tộc, là người chúa tể trong việc xử chặt, xử chém, chỉ thị dân chúng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn, và toàn bộ đại địa cầu là thuộc về vị ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) trở thành vị chúa tể ở Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn; và toàn bộ các đức hạnh của đời sống Sa-môn là thuộc về vị ấy.
BJT 15Tâu đại vương, chẳng phải trưởng lão Upasena, con trai của Vaṅganta, với sự thực hành đầy đủ các hạnh giảm thiểu và từ khước, sau khi không chấp hành quy định của hội chúng ở Sāvatthi, đã cùng tập thể của mình đi đến gặp đấng Điều Ngự Trượng Phu đang thiền tịnh, đã đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của đức Thế Tôn, rồi đã ngồi xuống một bên. Và đức Thế Tôn sau khi nhìn thấy tập thể đã khéo được huấn luyện ấy, thì mừng rỡ, phấn chấn, vui mừng, phấn khởi, sau khi trao đổi chuyện trò với tập thể, rồi với giọng nói của Phạm Thiên không bị lẫn lộn, đã nói điều này:
‘Này Upasena, tập thể này quả là có niềm tin đối với ngươi. Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể thế nào?’ Được đấng Toàn Tri, bậc Mười Lực, vị Trời vượt trội các vị Trời hỏi, vị ấy bằng năng lực về đức hạnh của tự thân đúng theo sự thật, cũng đã nói với đức Thế Tôn điều này:—Bạch ngài, người nào đi đến và cầu xin con sự xuất gia, hoặc pháp nương nhờ, thì con nói với người ấy như vầy: ‘Này đạo hữu, ta là vị hành pháp ngụ ở rừng, hành pháp chuyên đi khất thực, hành pháp chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hành pháp chỉ sử dụng ba y. Nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ngụ ở rừng, hành pháp chuyên đi khất thực, hành pháp chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hành pháp chỉ sử dụng ba y, như thế thì ta sẽ cho ngươi xuất gia, sẽ ban cho pháp nương nhờ.’ Thưa ngài, nếu người ấy sau khi đã đồng ý với con, vui vẻ, hứng thú, như vậy thì con cho người ấy xuất gia, con ban cho pháp nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn tập thể như thế.’ Tâu đại vương, cũng như thế, người thọ trì đức hạnh cao quý của các pháp từ khước là vị chúa tể ở Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như hoa sen, có nguồn gốc, sanh trưởng, mọc lên trong sạch cho đến lúc trưởng thành, là trơn láng, mềm mại, đáng ham thích, có mùi thơm tốt, được yêu mến, được mong cầu, được ca tụng, không bị lấm lem bởi nước và bùn, được tô điểm bởi những cánh hoa nhỏ, tua nhị, quả sen, được lai vãng bởi bầy ong, được phát triển ở nước mát lạnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) các vị đệ tử của bậc Thánh được đầy đủ với ba mươi đức tính cao quý. Với ba mươi đức tính cao quý nào?
Là có tâm từ trìu mến, mềm mỏng, dịu dàng; là có phiền não được tiêu diệt, được phá hủy, được tiêu hoại; là có sự ngã mạn và sự kiêu ngạo được phá hủy, được diệt trừ; là có đức tin không dao động, vững chãi, được củng cố, không có phân vân; là nhận được sự chứng đạt trọn vẹn, được thỏa mãn, được mừng rỡ, đáng ham thích, tịch tịnh, an lạc; là được thấm nhuần bởi hương thơm cao quý, ưu tú, vô song, tinh khiết của giới; là đối tượng yêu quý, ưa thích của chư Thiên và nhân loại; được các bậc Lậu Tận, các Thánh nhân, và các nhân vật cao quý mong mỏi; được đảnh lễ, cúng dường đối với chư Thiên và nhân loại; được tán dương, ca ngợi, khen ngợi, ca tụng của những con người khôn ngoan, thông minh, sáng suốt; không bị lấm lem bởi thế gian ở đời này hay ở đời khác; có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi về chút ít tội lỗi ở thế gian; có sự hoàn thành mục đích cao quý về Đạo và Quả của những người có sự mong muốn các thành tựu lớn lao và cao quý; có phần về vật dụng lớn lao, hảo hạng đã được (thí chủ) thỉnh cầu; có sự nằm nghỉ ở nơi không nhà; có sự an trú quý cao ở trạng thái gắn bó với thiền; có nền móng của mạng lưới phiền não đã được tháo gỡ; sự che lấp về cảnh giới tái sanh đã được phá vỡ, đập bể, co rút lại, chặt đứt; có pháp bền vững; chỗ ngụ được phù hợp; có sự thọ hưởng không bị chê trách; được thoát khỏi cảnh giới tái sanh; đã vượt lên trên tất cả hoài nghi; đã gắn bó vào sự giải thoát; đã nhìn thấy Giáo Pháp; đã đi đến chốn nương nhờ vững chắc, không dao động, đối với sự kinh sợ; có khuynh hướng ngủ ngầm đã được trừ tuyệt; đã đạt đến sự cạn kiệt tất cả lậu hoặc; có nhiều sự chứng đạt và an trú về sự tịch tịnh và sự an lạc; có đầy đủ tất cả đức tính của vị Sa-môn. Vị ấy được đầy đủ với ba mươi đức tính cao quý này.
Tâu đại vương, chẳng phải vị trưởng lão Sāriputta là con người cao cả ở mười ngàn thế giới, trừ ra đấng Thập Lực, bậc thầy của thế gian? Ngay cả vị ấy, trong vô lượng vô số kiếp sống, có thiện căn đã được tích lũy, có dòng dõi gia tộc Bà-la-môn, sau khi từ bỏ sự hứng thú về dục lạc làm thích ý và tài sản quý giá nhiều trăm con số đếm, sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, sau khi đã rèn luyện thân, khẩu, ý với mười ba hạnh từ khước này, giờ đây hôm nay được hội đủ các đức hạnh vô biên, đã được sanh làm người tiếp tục chuyển vận Bánh Xe Pháp của đức Thế Tôn Gotama. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở đoạn Dấu Ấn Cao Quý, pháp Một Chi thuộc Tăng Chi Bộ rằng:
‘Này các tỳ khưu, ta không nhìn thấy một cá nhân nào khác là người tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận bởi đức Như Lai như là Sāriputta. Này các tỳ khưu, Sāriputta tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận bởi đức Như Lai.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Bất cứ lời dạy nào của đức Phật gồm chín thể loại, các hành động nào vượt trên thế gian, và các sự chứng đạt vĩ đại cao quý nào của các sự chứng đắc ở thế gian, mọi điều ấy đều đi đến sự hội tụ ở mười ba hạnh từ khước.”
Câu hỏi về pháp từ khước là thứ nhì.
Phẩm Suy Luận được đầy đủ.
“Passatāraññake bhikkhū,
ajjhogāḷhe dhute guṇe;
Puna passati gihī rājā,
anāgāmiphale ṭhite.
Ubhopi te viloketvā,
uppajji saṁsayo mahā;
Bujjheyya ce gihī dhamme,
dhutaṅgaṁ nipphalaṁ siyā.
Paravādivādamathanaṁ,
nipuṇaṁ piṭakattaye;
Handa pucche kathiseṭṭhaṁ,
so me kaṅkhaṁ vinessatī”ti.
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, atthi koci gihī agāriko kāmabhogī puttadārasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārayanto jātarūparajataṁ sādiyanto maṇimuttākañcanavicittamoḷibaddho yena santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikatan”ti?
“Na, mahārāja, ekaññeva sataṁ na dve satāni na tīṇi cattāri pañca satāni na sahassaṁ na satasahassaṁ na koṭisataṁ na koṭisahassaṁ na koṭisatasahassaṁ, tiṭṭhatu, mahārāja, dasannaṁ vīsatiyā satassa sahassassa abhisamayo, katamena te pariyāyena anuyogaṁ dammī”ti.
“Tvamevetaṁ brūhī”ti.
“Tena hi te, mahārāja, kathayissāmi satena vā sahassena vā satasahassena vā koṭiyā vā koṭisatena vā koṭisahassena vā koṭisatasahassena vā, yā kāci navaṅge buddhavacane sallekhitācārappaṭipattidhutavaraṅgaguṇanissitā kathā, tā sabbā idha samosarissanti.
Yathā, mahārāja, ninnunnatasamavisamathalāthaladesabhāge abhivuṭṭhaṁ udakaṁ, sabbaṁ taṁ tato vinigaḷitvā mahodadhiṁ sāgaraṁ samosarati;
evameva kho, mahārāja, sampādake sati yā kāci navaṅge buddhavacane sallekhitācārappaṭipattidhutaṅgaguṇadharanissitā kathā, tā sabbā idha samosarissanti.
Mayhampettha, mahārāja, paribyattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanaṁ samosarissati, teneso attho suvibhatto vicitto paripuṇṇo parisuddho samānīto bhavissati.
Yathā, mahārāja, kusalo lekhācariyo anusiṭṭho lekhaṁ osārento attano byattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanena lekhaṁ paripūreti, evaṁ sā lekhā samattā paripuṇṇā anūnikā bhavissati.
Evameva mayhampettha paribyattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanaṁ samosarissati, teneso attho suvibhatto vicitto paripuṇṇo parisuddho samānīto bhavissati.
Nagare, mahārāja, sāvatthiyā pañcakoṭimattā ariyasāvakā bhagavato upāsakaupāsikāyo sattapaṇṇāsasahassāni tīṇi ca satasahassāni anāgāmiphale patiṭṭhitā, te sabbepi gihīyeva, na pabbajitā.
Puna tattheva kaṇḍambamūle yamakapāṭihāriye vīsati pāṇakoṭiyo abhisamiṁsu, puna cūḷarāhulovāde, mahāmaṅgalasuttante, samacittapariyāye, parābhavasuttante, purābhedasuttante, kalahavivādasuttante, cūḷabyūhasuttante, mahābyūhasuttante, tuvaṭakasuttante, sāriputtasuttante gaṇanapathamatītānaṁ devatānaṁ dhammābhisamayo ahosi.
Nagare rājagahe paññāsasahassāni tīṇi ca satasahassāni ariyasāvakā bhagavato upāsakaupāsikāyo, puna tattheva dhanapālahatthināgadamane navuti pāṇakoṭiyo, pārāyanasamāgame pāsāṇakacetiye cuddasa pāṇakoṭiyo, puna indasālaguhāyaṁ asīti devatākoṭiyo, puna bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye paṭhame dhammadesane aṭṭhārasa brahmakoṭiyo aparimāṇā ca devatāyo, puna tāvatiṁsabhavane paṇḍukambalasilāyaṁ abhidhammadesanāya asīti devatākoṭiyo, devorohaṇe saṅkassanagaradvāre lokavivaraṇapāṭihāriye pasannānaṁ naramarūnaṁ tiṁsa koṭiyo abhisamiṁsu.
Puna sakkesu kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme buddhavaṁsadesanāya mahāsamayasuttantadesanāya ca gaṇanapathamatītānaṁ devatānaṁ dhammābhisamayo ahosi.
Puna sumanamālākārasamāgame, garahadinnasamāgame, ānandaseṭṭhisamāgame, jambukājīvakasamāgame, maṇḍukadevaputtasamāgame, maṭṭhakuṇḍalidevaputtasamāgame, sulasānagarasobhinisamāgame, sirimānagarasobhinisamāgame, pesakāradhītusamāgame, cūḷasubhaddāsamāgame, sāketabrāhmaṇassa āḷāhanadassanasamāgame, sūnāparantakasamāgame, sakkapañhasamāgame, tirokuṭṭasamāgame, ratanasuttasamāgame paccekaṁ caturāsītiyā pāṇasahassānaṁ dhammābhisamayo ahosi, yāvatā, mahārāja, bhagavā loke aṭṭhāsi, tāva tīsu maṇḍalesu soḷasasu mahājanapadesu yattha yattha bhagavā vihāsi, tattha tattha yebhuyyena dve tayo cattāro pañca sataṁ sahassaṁ satasahassaṁ devā ca manussā ca santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikariṁsu.
Ye te, mahārāja, devā gihīyeva, na te pabbajitā, etāni ceva, mahārāja, aññāni ca anekāni devatākoṭisatasahassāni gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikariṁsū”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, atha imāni dhutaṅgāni kimatthaṁ sādhenti, tena kāraṇena dhutaṅgāni akiccakarāni honti.
Yadi, bhante nāgasena, vinā mantosadhehi byādhayo vūpasamanti, kiṁ vamanavirecanādinā sarīradubbalakaraṇena?
Yadi muṭṭhīhi paṭisattuniggaho bhavati, kiṁ asisattisaradhanukodaṇḍalaguḷamuggarehi?
Yadi gaṇṭhikuṭilasusirakaṇṭalatāsākhā ālambitvā rukkhamabhirūhanaṁ bhavati, kiṁ dīghadaḷhanisseṇipariyesanena?
Yadi thaṇḍilaseyyāya dhātusamatā bhavati, kiṁ sukhasamphassamahatimahāsirisayanapariyesanena?
Yadi ekako sāsaṅkasappaṭibhayavisamakantārataraṇasamattho bhavati, kiṁ sannaddhasajjamahatimahāsatthapariyesanena?
Yadi nadisaraṁ bāhunā tarituṁ samattho bhavati, kiṁ dhuvasetunāvāpariyesanena?
Yadi sakasantakena ghāsacchādanaṁ kātuṁ pahoti, kiṁ parūpasevanapiyasamullāpapacchāpuredhāvanena?
Yadi akhātataḷāke udakaṁ labhati, kiṁ udapānataḷākapokkharaṇikhaṇanena?
Evameva kho, bhante nāgasena, yadi gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, kiṁ dhutaguṇavarasamādiyanenā”ti?
“Aṭṭhavīsati kho panime, mahārāja, dhutaṅgaguṇā yathābhuccaguṇā, yehi guṇehi dhutaṅgāni sabbabuddhānaṁ pihayitāni patthitāni.
Katame aṭṭhavīsati?
Idha, mahārāja, dhutaṅgaṁ suddhājīvaṁ sukhaphalaṁ anavajjaṁ na paradukkhāpanaṁ abhayaṁ asampīḷanaṁ ekantavaḍḍhikaṁ aparihāniyaṁ amāyaṁ ārakkhā patthitadadaṁ sabbasattadamanaṁ saṁvarahitaṁ patirūpaṁ anissitaṁ vippamuttaṁ rāgakkhayaṁ dosakkhayaṁ mohakkhayaṁ mānappahānaṁ kuvitakkacchedanaṁ kaṅkhāvitaraṇaṁ kosajjaviddhaṁsanaṁ aratippahānaṁ khamanaṁ atulaṁ appamāṇaṁ sabbadukkhakkhayagamanaṁ, ime kho, mahārāja, aṭṭhavīsati dhutaṅgaguṇā yathābhuccaguṇā yehi guṇehi dhutaṅgāni sabbabuddhānaṁ pihayitāni patthitāni.
Ye kho te, mahārāja, dhutaguṇe sammā upasevanti, te aṭṭhārasahi guṇehi samupetā bhavanti.
Katamehi aṭṭhārasahi?
Ācāro tesaṁ suvisuddho hoti, paṭipadā supūritā hoti, kāyikaṁ vācasikaṁ surakkhitaṁ hoti, manosamācāro suvisuddho hoti, vīriyaṁ supaggahitaṁ hoti, bhayaṁ vūpasammati, attānudiṭṭhibyapagatā hoti, āghāto uparato hoti, mettā upaṭṭhitā hoti, āhāro pariññāto hoti, sabbasattānaṁ garukato hoti, bhojane mattaññū hoti, jāgariyamanuyutto hoti, aniketo hoti, yattha phāsu tattha vihārī hoti, pāpajegucchī hoti, vivekārāmo hoti, satataṁ appamatto hoti, ye te, mahārāja, dhutaguṇe sammā upasevanti, te imehi aṭṭhārasahi guṇehi samupetā bhavanti.
Dasa ime, mahārāja, puggalā dhutaguṇārahā.
Katame dasa?
Saddho hoti hirimā dhitimā akuho atthavasī alolo sikkhākāmo daḷhasamādāno anujjhānabahulo mettāvihārī, ime kho, mahārāja, dasa puggalā dhutaguṇārahā.
Ye te, mahārāja, gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, sabbe te purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattha cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihīyeva santā santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti.
Yathā, mahārāja, kusalo issāso antevāsike paṭhamaṁ tāva upāsanasālāyaṁ cāpabhedacāpāropanaggahaṇamuṭṭhippaṭipīḷanaaṅgulivināmanapādaṭhapanasaraggahaṇasannahanaākaḍḍhanasandhāraṇalakkhaniyamanakhipane tiṇapurisakachakaṇatiṇapalālamattikāpuñjaphalakalakkhavedhe anusikkhāpetvā rañño santike upāsanaṁ ārādhayitvā ājaññarathagajaturaṅgadhanadhaññahiraññasuvaṇṇadāsidāsabhariyagāmavaraṁ labhati;
evameva kho, mahārāja, ye te gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, te sabbe purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattheva cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihīyeva santā santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti.
Na, mahārāja, dhutaguṇesu pubbāsevanaṁ vinā ekissāyeva jātiyā arahattaṁ sacchikiriyā hoti, uttamena pana vīriyena uttamāya paṭipattiyā tathārūpena ācariyena kalyāṇamittena arahattaṁ sacchikiriyā hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, bhisakko sallakatto ācariyaṁ dhanena vā vattappaṭipattiyā vā ārādhetvā satthaggahaṇachedanalekhanavedhanasalluddharaṇavaṇadhovanasosanabhesajjānulimpanavamanavirecanānuvāsanakiriyamanusikkhitvā vijjāsu katasikkho katūpāsano katahattho āture upasaṅkamati tikicchāya;
evameva kho, mahārāja, ye te gihī agārikā kāmabhogino santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, te sabbe purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattheva cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihīyeva santā santaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikaronti, na, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṁ dhammābhisamayo hoti.
Yathā, mahārāja, udakassa asecanena bījānaṁ avirūhanaṁ hoti;
evameva kho, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṁ dhammābhisamayo na hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, akatakusalānaṁ akatakalyāṇānaṁ sugatigamanaṁ na hoti;
evameva kho, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṁ dhammābhisamayo na hoti.
Pathavisamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ patiṭṭhānaṭṭhena.
Āposamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesamaladhovanaṭṭhena.
Tejosamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesavanajjhāpanaṭṭhena.
Vāyosamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesamalarajopavāhanaṭṭhena.
Agadasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesabyādhivūpasamanaṭṭhena.
Amatasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesavisanāsanaṭṭhena.
Khettasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbasāmaññaguṇasassavirūhanaṭṭhena.
Manoharasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ patthiticchitasabbasampattivaradadaṭṭhena.
Nāvāsamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ saṁsāramahaṇṇavapāragamanaṭṭhena.
Bhīruttāṇasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ jarāmaraṇabhītānaṁ assāsakaraṇaṭṭhena.
Mātusamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesadukkhappaṭipīḷitānaṁ anuggāhakaṭṭhena.
Pitusamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kusalavaḍḍhikāmānaṁ sabbasāmaññaguṇajanakaṭṭhena.
Mittasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbasāmaññaguṇapariyesanaavisaṁvādakaṭṭhena.
Padumasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbakilesamalehi anupalittaṭṭhena.
Catujjātiyavaragandhasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesaduggandhapaṭivinodanaṭṭhena.
Girirājavarasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ aṭṭhalokadhammavātehi akampiyaṭṭhena.
Ākāsasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbattha gahaṇāpagatauruvisaṭavitthatamahantaṭṭhena.
Nadīsamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesamalapavāhanaṭṭhena.
Sudesakasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ jātikantārakilesavanagahananittharaṇaṭṭhena.
Mahāsatthavāhasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ sabbabhayasuññakhemaabhayavarapavaranibbānanagarasampāpanaṭṭhena.
Sumajjitavimalādāsasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ saṅkhārānaṁ sabhāvadassanaṭṭhena.
Phalakasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesalaguḷasarasattipaṭibāhanaṭṭhena.
Chattasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ kilesavassatividhaggisantāpātapapaṭibāhanaṭṭhena.
Candasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ pihayitapatthitaṭṭhena.
Sūriyasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ mohatamatimiranāsanaṭṭhena.
Sāgarasamaṁ, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ anekavidhasāmaññaguṇavararatanuṭṭhānaṭṭhena, aparimitaasaṅkhyeyyaappameyyaṭṭhena ca.
Evaṁ kho, mahārāja, dhutaguṇaṁ visuddhikāmānaṁ bahūpakāraṁ sabbadarathapariḷāhanudaṁ aratinudaṁ bhayanudaṁ bhavanudaṁ khīlanudaṁ malanudaṁ sokanudaṁ dukkhanudaṁ rāganudaṁ dosanudaṁ mohanudaṁ mānanudaṁ diṭṭhinudaṁ sabbākusaladhammanudaṁ yasāvahaṁ hitāvahaṁ sukhāvahaṁ phāsukaraṁ pītikaraṁ yogakkhemakaraṁ anavajjaṁ iṭṭhasukhavipākaṁ guṇarāsiguṇapuñjaaparimitaasaṅkhyeyyaappameyyaguṇaṁ varaṁ pavaraṁ aggaṁ.
Yathā, mahārāja, manussā upatthambhavasena bhojanaṁ upasevanti, hitavasena bhesajjaṁ upasevanti, upakāravasena mittaṁ upasevanti, tāraṇavasena nāvaṁ upasevanti, sugandhavasena mālāgandhaṁ upasevanti, abhayavasena bhīruttāṇaṁ upasevanti, patiṭṭhāvasena pathaviṁ upasevanti, sippavasena ācariyaṁ upasevanti, yasavasena rājānaṁ upasevanti, kāmadadavasena maṇiratanaṁ upasevanti;
evameva kho, mahārāja, sabbasāmaññaguṇadadavasena ariyā dhutaguṇaṁ upasevanti.
Yathā vā pana, mahārāja, udakaṁ bījavirūhanāya, aggi jhāpanāya, āhāro balāharaṇāya, latā bandhanāya, satthaṁ chedanāya, pānīyaṁ pipāsāvinayanāya, nidhi assāsakaraṇāya, nāvā tīrasampāpanāya, bhesajjaṁ byādhivūpasamanāya, yānaṁ sukhagamanāya, bhīruttāṇaṁ bhayavinodanāya, rājā ārakkhatthāya, phalakaṁ daṇḍaleḍḍulaguḷasarasattipaṭibāhanāya, ācariyo anusāsanāya, mātā posanāya, ādāso olokanāya, alaṅkāro sobhanāya, vatthaṁ paṭicchādanāya, nisseṇī ārohanāya, tulā visamavikkhepanāya, mantaṁ parijappanāya, āvudhaṁ tajjanīyapaṭibāhanāya, padīpo andhakāravidhamanāya, vāto pariḷāhanibbāpanāya, sippaṁ vuttinipphādanāya, agadaṁ jīvitarakkhaṇāya, ākaro ratanuppādanāya, ratanaṁ alaṅkarāya, āṇā anatikkamanāya, issariyaṁ vasavattanāya;
evameva kho, mahārāja, dhutaguṇaṁ sāmaññabījavirūhanāya, kilesamalajhāpanāya, iddhibalāharaṇāya, satisaṁvaranibandhanāya, vimativicikicchāsamucchedanāya, taṇhāpipāsāvinayanāya, abhisamayaassāsakaraṇāya, caturoghanittharaṇāya, kilesabyādhivūpasamāya, nibbānasukhappaṭilābhāya, jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsabhayavinodanāya, sāmaññaguṇaparirakkhaṇāya, aratikuvitakkapaṭibāhanāya, sakalasāmaññatthānusāsanāya, sabbasāmaññaguṇaposanāya, samathavipassanāmaggaphalanibbānadassanāya, sakalalokathutathomitamahatimahāsobhanakaraṇāya, sabbāpāyapidahanāya, sāmaññatthaselasikharamuddhani abhirūhanāya, vaṅkakuṭilavisamacittavikkhepanāya, sevitabbāsevitabbadhamme sādhusajjhāyakaraṇāya, sabbakilesapaṭisattutajjanāya, avijjandhakāravidhamanāya, tividhaggisantāpapariḷāhanibbāpanāya, saṇhasukhumasantasamāpattinipphādanāya, sakalasāmaññaguṇaparirakkhaṇāya, bojjhaṅgavararatanuppādanāya, yogijanālaṅkaraṇāya, anavajjanipuṇasukhumasantisukhamanatikkamanāya, sakalasāmaññaariyadhammavasavattanāya.
Iti, mahārāja, imesaṁ guṇānaṁ adhigamāya yadidaṁ ekamekaṁ dhutaguṇaṁ, evaṁ, mahārāja, atuliyaṁ dhutaguṇaṁ appameyyaṁ asamaṁ appaṭisamaṁ appaṭibhāgaṁ appaṭiseṭṭhaṁ uttaraṁ seṭṭhaṁ visiṭṭhaṁ adhikaṁ āyataṁ puthulaṁ visaṭaṁ vitthataṁ garukaṁ bhāriyaṁ mahantaṁ.
Yo kho, mahārāja, puggalo pāpiccho icchāpakato kuhako luddho odariko lābhakāmo yasakāmo kittikāmo ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo dhutaṅgaṁ samādiyati, so diguṇaṁ daṇḍamāpajjati, sabbaguṇaghātamāpajjati, diṭṭhadhammikaṁ hīḷanaṁ khīḷanaṁ garahanaṁ uppaṇḍanaṁ khipanaṁ asambhogaṁ nissāraṇaṁ nicchubhanaṁ pavāhanaṁ pabbājanaṁ paṭilabhati, samparāyepi satayojanike avīcimahāniraye uṇhakaṭhitatattasantattaaccijālāmālake anekavassakoṭisatasahassāni uddhamadho tiriyaṁ pheṇuddehakaṁ samparivattakaṁ paccati, tato muccitvā kisapharusakāḷaṅgapaccaṅgo sūnuddhumātasusiruttamaṅgo chāto pipāsito visamabhīmarūpavaṇṇo bhaggakaṇṇasoto ummīlitanimīlitanettanayano arugattapakkagatto pulavākiṇṇasabbakāyo vātamukhe jalamāno viya aggikkhandho anto jalamāno pajjalamāno atāṇo asaraṇo āruṇṇaruṇṇakāruññaravaṁ paridevamāno nijjhāmataṇhiko samaṇamahāpeto hutvā āhiṇḍamāno mahiyā aṭṭassaraṁ karoti.
Yathā, mahārāja, koci ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo hīno kujātiko khattiyābhisekena abhisiñcati, so labhati hatthacchedaṁ pādacchedaṁ hatthapādacchedaṁ kaṇṇacchedaṁ nāsacchedaṁ kaṇṇanāsacchedaṁ bilaṅgathālikaṁ saṅkhamuṇḍikaṁ rāhumukhaṁ jotimālikaṁ hatthapajjotikaṁ erakavattikaṁ cīrakavāsikaṁ eṇeyyakaṁ baḷisamaṁsikaṁ kahāpaṇakaṁ khārāpatacchikaṁ palighaparivattikaṁ palālapīṭhakaṁ tattena telena osiñcanaṁ sunakhehi khādāpanaṁ jīvasūlāropanaṁ asinā sīsacchedaṁ anekavihitampi kammakāraṇaṁ anubhavati.
Kiṁ kāraṇā?
Ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo hīno kujātiko mahante issariye ṭhāne attānaṁ ṭhapesi, velaṁ ghātesi.
Evameva kho, mahārāja, yo koci puggalo pāpiccho …pe…
mahiyā aṭṭassaraṁ karoti.
Yo pana, mahārāja, puggalo yutto patto anucchaviko araho patirūpo appiccho santuṭṭho pavivitto asaṁsaṭṭho āraddhavīriyo pahitatto asaṭho amāyo anodariko alābhakāmo ayasakāmo akittikāmo saddho saddhāpabbajito jarāmaraṇā muccitukāmo ‘sāsanaṁ paggaṇhissāmī’ti dhutaṅgaṁ samādiyati, so diguṇaṁ pūjaṁ arahati devānañca piyo hoti manāpo pihayito patthito, jātisumanamallikādīnaṁ viya pupphaṁ nahātānulittassa, jighacchitassa viya paṇītabhojanaṁ, pipāsitassa viya sītalavimalasurabhipānīyaṁ, visagatassa viya osadhavaraṁ, sīghagamanakāmassa viya ājaññarathavaruttamaṁ, atthakāmassa viya manoharamaṇiratanaṁ, abhisiñcitukāmassa viya paṇḍaravimalasetacchattaṁ, dhammakāmassa viya arahattaphalādhigamamanuttaraṁ.
Tassa cattāro satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati, samathavipassanā adhigacchati, adhigamappaṭipatti pariṇamati, cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidā tisso vijjā chaḷabhiññā kevalo ca samaṇadhammo sabbe tassādheyyā honti, vimuttipaṇḍaravimalasetacchattena abhisiñcati.
Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa abhijātakulakulīnassa khattiyābhisekena abhisittassa paricaranti saraṭṭhanegamajānapadabhaṭabalā aṭṭhattiṁsā ca rājaparisā naṭanaccakā mukhamaṅgalikā sotthivācakā samaṇabrāhmaṇasabbapāsaṇḍagaṇā abhigacchanti, yaṁ kiñci pathaviyā paṭṭanaratanākaranagarasuṅkaṭṭhānaverajjakachejjabhejjajanamanusāsanaṁ sabbattha sāmiko bhavati;
evameva kho, mahārāja, yo koci puggalo yutto patto …pe…
vimuttipaṇḍaravimalasetacchattena abhisiñcati.
Terasimāni, mahārāja, dhutaṅgāni, yehi suddhikato nibbānamahāsamuddaṁ pavisitvā bahuvidhaṁ dhammakīḷamabhikīḷati, rūpārūpaaṭṭhasamāpattiyo vaḷañjeti, iddhividhaṁ dibbasotadhātuṁ paracittavijānanaṁ pubbenivāsānussatiṁ dibbacakkhuṁ sabbāsavakkhayañca pāpuṇāti.
Katame terasa?
Paṁsukūlikaṅgaṁ tecīvarikaṅgaṁ piṇḍapātikaṅgaṁ sapadānacārikaṅgaṁ ekāsanikaṅgaṁ pattapiṇḍikaṅgaṁ khalupacchābhattikaṅgaṁ āraññikaṅgaṁ rukkhamūlikaṅgaṁ abbhokāsikaṅgaṁ sosānikaṅgaṁ yathāsanthatikaṅgaṁ nesajjikaṅgaṁ, imehi kho, mahārāja, terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi kevalaṁ sāmaññaṁ paṭilabhati, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā, mahārāja, sadhano nāviko paṭṭane suṭṭhu katasuṅko mahāsamuddaṁ pavisitvā vaṅgaṁ takkolaṁ cīnaṁ sovīraṁ suraṭṭhaṁ alasandaṁ kolapaṭṭanaṁ suvaṇṇabhūmiṁ gacchati aññampi yaṁ kiñci nāvāsañcaraṇaṁ;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi kevalaṁ sāmaññaṁ paṭilabhati, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā, mahārāja, kassako paṭhamaṁ khettadosaṁ tiṇakaṭṭhapāsāṇaṁ apanetvā kasitvā vapitvā sammā udakaṁ pavesetvā rakkhitvā gopetvā lavanamaddanena bahudhaññako hoti, tassādheyyā bhavanti ye keci adhanā kapaṇā daliddā duggatajanā;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi …pe…
kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā vā pana, mahārāja, khattiyo muddhāvasitto abhijātakulīno chejjabhejjajanamanusāsane issaro hoti vasavattī sāmiko icchākaraṇo, kevalā ca mahāpathavī tassādheyyā hoti;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi jinasāsanavare issaro hoti vasavattī sāmiko icchākaraṇo, kevalā ca samaṇaguṇā tassādheyyā honti.
Nanu, mahārāja, thero upaseno vaṅgantaputto sallekhadhutaguṇe paripūrakāritāya anādiyitvā sāvatthiyā saṅghassa katikaṁ sapariso naradammasārathiṁ paṭisallānagataṁ upasaṅkamitvā bhagavato pāde sirasā vanditvā ekamantaṁ nisīdi, bhagavā ca taṁ suvinītaṁ parisaṁ oloketvā haṭṭhatuṭṭho pamudito udaggo parisāya saddhiṁ sallāpaṁ sallapitvā asambhinnena brahmassarena etadavoca—
‘pāsādikā kho pana tyāyaṁ, upasena, parisā, kathaṁ tvaṁ, upasena, parisaṁ vinesī’ti.
Sopi sabbaññunā dasabalena devātidevena puṭṭho yathābhūtasabhāvaguṇavasena bhagavantaṁ etadavoca—
‘Yo koci maṁ, bhante, upasaṅkamitvā pabbajjaṁ vā nissayaṁ vā yācati, tamahaṁ evaṁ vadāmi “ahaṁ kho, āvuso, āraññiko piṇḍapātiko paṁsukūliko tecīvariko.
Sace tvampi āraññiko bhavissasi piṇḍapātiko paṁsukūliko tecīvariko, evāhaṁ taṁ pabbājessāmi nissayaṁ dassāmī”ti, sace so me, bhante, paṭissuṇitvā nandati oramati, evāhaṁ taṁ pabbājemi nissayaṁ demi, sace na nandati na oramati, na taṁ pabbājemi, na nissayaṁ demi, evāhaṁ, bhante, parisaṁ vinemī’ti.
Evaṁ kho, mahārāja, dhutaguṇavarasamādiṇṇo jinasāsanavare issaro hoti.
Vasavattī sāmiko icchākaraṇo, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Yathā, mahārāja, padumaṁ abhivuddhaparisuddhaudiccajātippabhavaṁ siniddhaṁ mudu lobhanīyaṁ sugandhaṁ piyaṁ patthitaṁ pasatthaṁ jalakaddamamanupalittaṁ aṇupattakesarakaṇṇikābhimaṇḍitaṁ bhamaragaṇasevitaṁ sītalasalilasaṁvaddhaṁ;
evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi ariyasāvako tiṁsaguṇavarehi samupeto hoti.
Katamehi tiṁsaguṇavarehi?
Siniddhamudumaddavamettacitto hoti, ghātitahatavihatakileso hoti, hatanihatamānadabbo hoti, acaladaḷhaniviṭṭhanibbematikasaddho hoti, paripuṇṇapīṇitapahaṭṭhalobhanīyasantasukhasamāpattilābhī hoti, sīlavarapavaraasamasucigandhaparibhāvito hoti, devamanussānaṁ piyo hoti manāpo, khīṇāsavaariyavarapuggalapatthito, devamanussānaṁ vanditapūjito, budhavibudhapaṇḍitajanānaṁ thutathavitathomitapasattho, idha vā huraṁ vā lokena anupalitto, appathokavajjepi bhayadassāvī, vipulavarasampattikāmānaṁ maggaphalavaratthasādhano, āyācitavipulapaṇītapaccayabhāgī, aniketasayano, jhānajjhositatappavaravihārī, vijaṭitakilesajālavatthu, bhinnabhaggasaṅkuṭitasañchinnagatinīvaraṇo, akuppadhammo, abhinītavāso, anavajjabhogī, gativimutto, uttiṇṇasabbavicikiccho, vimuttijjhositattho, diṭṭhadhammo, acaladaḷhabhīruttāṇamupagato, samucchinnānusayo, sabbāsavakkhayaṁ patto, santasukhasamāpattivihārabahulo, sabbasamaṇaguṇasamupeto, imehi tiṁsaguṇavarehi samupeto hoti.
Nanu, mahārāja, thero sāriputto dasasahassilokadhātuyā aggapuriso ṭhapetvā dasabalaṁ lokācariyaṁ, sopi aparimitamasaṅkhyeyyakappe samācitakusalamūlo brāhmaṇakulakulīno manāpikaṁ kāmaratiṁ anekasatasaṅkhaṁ dhanavarañca ohāya jinasāsane pabbajitvā imehi terasahi dhutaguṇehi kāyavacīcittaṁ damayitvā ajjetarahi anantaguṇasamannāgato gotamassa bhagavato sāsanavare dhammacakkamanuppavattako jāto.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena ekaṅguttaranikāyavaralañchake—
‘Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekapuggalampi samanupassāmi, yo evaṁ tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavatteti, yathayidaṁ, bhikkhave, sāriputto, sāriputto, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattetī’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, yaṁ kiñci navaṅgaṁ buddhavacanaṁ, yā ca lokuttarā kiriyā, yā ca loke adhigamavipulavarasampattiyo, sabbaṁ taṁ terasasu dhutaguṇesu samodhānopagatan”ti.
Dhutaṅgapañho dutiyo.
Anumānavaggo catuttho.