28.4. kinh số
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt, cùng chúng năm trăm đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ, Thế Tôn từ tịnh thất ra, đi xuống núi Linh thứu cùng với bà-la-môn Lộc Đầu, lần hồi du hành đến bãi tha ma đáng sợ.
Khi ấy, Thế Tôn cầm đầu lâu một người chết trao cho bà-la-môn và nói:
«Ông bà-la-môn, ông giỏi xem tinh tú, lại kiêm cả y dược, có thể trị mọi thứ bệnh, hiểu rõ tất cả các định hướng tái sinh, và cũng còn có thể biết nhân duyên người chết. Nay Ta hỏi ông, đây là đầu lâu của người nào? Là nam hay là nữ? Do bệnh gì mà qua đời?»
Bà-la-môn liền cầm lấy đầu lâu, xoay qua xoay lại quan sát, lại dùng tay gõ vào nó, và bạch Thế Tôn:
«Đây là đầu lâu của người nam, chẳng phải người nữ.»
Thế Tôn bảo:
«Thật vậy, bà-la-môn, như lời ông đã nói. Đây là người nam, chẳng phải người nữ.»
Thế Tôn hỏi:
«Do đâu qua đời?»
Bà-la-môn lại dùng tay gõ vào nó. Bạch Thế Tôn:
«Đây do nhiều bệnh tập họp. Trăm đốt xương đau buốt quá mà chết.»
Thế Tôn bảo:
«Phải trị bằng phương thuốc nào?»
Bà-la-môn Lộc Đầu bạch Phật:
«Phải dùng quả ha-lê-lặc hoà chung với mật, sau đó cho uống, bệnh này sẽ lành.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, như những lời ông nói, nếu người này được thuốc này, đã không qua đời. Nay người này lúc mạng chung, sinh về nơi nào?»
Bà-la-môn nghe rồi, lại cầm đầu lâu gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người này mạng chung sinh về ba đường dữ, chẳng sinh về nơi lành.»
Thế Tôn bảo:
«Thật vậy, bà-la-môn, như những lời ông nói, sinh vào ba đường dữ, không sinh về nơi lành.»
Bấy giờ, Thế Tôn lại cầm một đầu lâu nữa, trao cho bà-la-môn. Hỏi bà-la-môn:
«Đây là người nào? Là nam hay nữ?»
Lúc này bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Đầu lâu này là thân người nữ.»
Thế Tôn bảo:
«Do bệnh tật gì mà mạng chung?»
Lúc này, bà-la-môn Lộc Đầu lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người nữ này mạng chung khi còn mang thai.»
Thế Tôn bảo:
«Người nữ này do đâu mà mạng chung?»
Bà-la-môn bạch Phật:
«Người nữ này do sinh con chưa đầy tháng nên qua đời.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, bà-la-môn, như những lời ông đã nói. Vả lại, người nữ mang thai kia nên trị bằng phương thuốc gì?»
Bà-la-môn bạch Phật:
«Như người bệnh này, phải cần tô đề hồ để uống thì khỏi.»
Thế Tôn bảo:
«Thật vậy, thật vậy, như những gì ông đã nói. Nay người nữ này sau khi mạng chung sinh về nơi nào? »
Bà-la-môn bạch Phật:
«Người nữ này sau khi mạng chung sinh vào trong súc sanh.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, bà-la-môn, như những gì ông đã nói.»
Rồi Thế Tôn lại cầm một đầu lâu nữa trao cho bà-la-môn, và hỏi bà-la-môn:
«Là nam hay nữ?»
Bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Đầu lâu này là thân người nam.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay. lành thay, như những gì ông đã nói. Do tật bệnh gì mà mạng chung?»
bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người này mạng chung do vì ăn uống ngộ độc, bị thổ tả mà mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Bệnh này dùng trị bằng phương thuốc?»
bà-la-môn bạch Phật:
«Nhịn ăn trong vòng ba ngày, trừ khỏi được liền.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những gì ông đã nói. Người này sau khi mạng chung sinh về nơi nào?»
Lúc này, bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người này mạng chung sinh vào trong ngạ quỷ. Sở dĩ như vậy là vì ý chỉ tưởng đến nước.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những gì ông đã nói.»
Bấy giờ, Thế Tôn lại cầm một đầu lâu nữa, trao cho bà-la-môn, hỏi bà-la-môn:
«Là nam hay là nữ?»
Phạm chi lúc này dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Đầu lâu này là thân của người nữ.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những gì ông đã nói. Người này mạng chung do bệnh tật gì?»
Bà-la-mônv lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Lúc đang sinh thì mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Tại sao lúc đang sinh thì mạng chung?»
Bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Thân người nữ này khí lực hư, cạn kiệt, lại đói quá nên mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Người này mạng chung sinh về nơi nào?»
Lúc này, bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người này mạng chung sinh vào loài người.»
Thế Tôn bảo:
«Phàm người chết đói mà muốn sinh nơi lành, việc này không đúng. Phải sinh vào ba đường dữ mới hợp lý.»
Lúc này, bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người nữ này trì giới hoàn hảo mà mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những gì ông đã nói. Thân người nữ kia trì giới hoàn hảo đến khi mạng chung. Sở dĩ như vậy là vì phàm có người nam người nữ nào mà trì cấm giới hoàn toàn thì lúc mạng chung sẽ về hai đường, hoặc lên trời hay là loài người.»
Bấy giờ, Thế Tôn lại cầm đầu lâu nữa trao cho bà-la-môn, hỏi:
«Nam hay là nữ?»
Lúc này, bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Đầu lâu này là thân nam tử.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những gì ông đã nói. Người này do bệnh tật gì khiến phải mạng chung?»
Bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người này không bệnh, bị người hại khiến mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những lời ông đã nói, bị người hại khiên mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Người này mạng chung sẽ sinh nơi nào?»
Lúc này, bà-la-môn dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Người này mạng chung sinh lên trời, xứ thiện.»
Thế Tôn bảo:
«Như những lời ông đã nói, lời bàn trước, bàn sau mâu thuẫn nhau.»
bà-la-môn bạch Phật:
«Căn bản do duyên gì mà mâu thuẫn nhau?»
Thế Tôn bảo:
«Những người nam, nữ mà bị người hại khiến mạng chung, đều sinh hết về ba đường dữ. Sao ông nói là sinh về xứ thiện, lên trời?»
Bà-la-môn lại dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Vì người này vâng giữ năm giới kiêm hành thập thiện, nên đến khi mạng chung sinh lên trời, xứ thiện.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những lời ông đã nói. Người giữ giới, không xúc phạm, sẽ sinh lên trời, xứ thiện.»
Thế Tôn lại bảo:
«Người này đã trì mấy giới mà mạng chung?»
Bấy giờ, bà-la-môn một lòng chuyên chú không nghĩ gì khác, dùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Trì một giới chăng? Chẳng phải. Hai, ba, bốn, năm giới chăng? Chẳng phải. Người này trì pháp bát quan trai mà mạng chung.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, lành thay, như những lời ông đã nói.Trì bát quan trai mà mạng chung.»
Bấy giờ, trong cảnh giới phương Đông, tại phía nam núi Phổ hương, phương Đông, có Tỳ-kheo Ưu-đà-diên nhập Niết-bàn trong vô dư Niết-bàn giới. Khi ấy, trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, Thế Tôn đến lấy đầu lâu kia, đem về trao cho bà-la-môn, và hỏi bà-la-môn:
«Là nam hay nữ?»
Lúc này, bà-la-môn lại cùng tay gõ, và bạch Thế Tôn:
«Tôi xem đầu lâu này, nguồn gốc của nó chẳng phải nam cũng chẳng phải nữ. Sở dĩ như vậy là vì tôi quán đầu lâu này cũng chẳng thấy sinh, cũng cũng chẳng thấy đoạn, cũng chẳng thấy xoay vần qua lại. Sở dĩ như vậy là vì quan sát tám phương, trên dưới đều không âm vọng. Nay tôi chưa rõ đầu lâu của người này là ai?»
Thế Tôn bảo:
«Thôi, thôi, bà-la-môn, rốt lại, ôÔng không biết là đầu lâu của ai. Ông nên biết, đầu lâu này không đầu không cuối, cũng không sinh tử, cũng không đi về đâu trong tám phương, trên dưới. Đây chính là đầu lâu của A-la-hán, Tỳ-kheo Ưu-đà-diên đã nhập Niết-bàn trong vô dư Niết-bàn giới, trong cảnh giới phương Đông, tại phía nam núi Phổ hương.»
Sau khi bà-la-môn nghe những lời này xong, khen chưa từng có, liền bạch Thế Tôn:
«Nay tôi quan sát loài trùng kiến này từ nơi nào đến, đều biết tất cả. Nghe tiếng vọng của chim thú mà có thể phân biết rõ ràng: đây là con đực, đây là con cái. Nhưng tôi quan sát vị A-la-hán này, hoàn toàn không thấy gì, không thấy chỗ đến, cũng không thấy chỗ đi. Chánh pháp Như Lai thật là kỳ diệu. Sở dĩ như vậy là vì gốc của các pháp phát xuất từ cửa miệng của Như Lai, còn A-la-hán phát xuất từ gốc của kinh pháp.»
Thế Tôn bảo:
«Thật vậy, bà-la-môn, như những gì ông đã nói. Gốc của các pháp phát xuất từ miệng Như Lai. Ngay đến chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, quyết không biết được chỗ đến của A-la-hán.»
Bấy giờ, bà-la-môn đảnh lễ sát chân, và bạch Thế Tôn:
«Tôi có thể biết hết nơi thu hướng của chín mươi sáu loại đạo. Thảy đều biết tất cả. Nhưng chỗ thú hướng của pháp của Như Lai, không thể phân biệt được. Ngưỡng mong Thế Tôn cho con được vào đạo.»
Thế Tôn bảo:
«Lành thay, bà-la-môn, hãy tu phạm hạnh, cũng sẽ không có người nào biết được chỗ thu hướng của ông.»
Khi ấy, bà-la-môn được xuất gia học đạo, ở chỗ vắng vẻ tư duy thuật đạo, vì mục đích mà thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc mặc ba pháp y, cho đến như thực biết rằng, sinh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau. Lúc đó, bà-la-môn thành A-la-hán.
Bấy giờ, Tôn giả Lộc Đầu bạch Thế Tôn:
«Nay con đã biết pháp tu hành của A-la-hán.»
Thế Tôn bảo:
«Ông biết thế nào về hành của A-la-hán?»
Lộc Đầu bạch Phật:
«Nay có bốn giới. Những là bốn? Địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong giới. Như Lai, đó gọi là có bốn giới này. Khi một người mạng chung, đất trở về đất, nước trở về nước, lửa trở về lửa, gió trở về gió.»
Thế Tôn bảo:
«Thế nào, Tỳ-kheo, nay có bao nhiêu giới?»
Lộc Đầu bạch Phật:
«Sự thực có bốn giới. Nhưng nghĩa có tám giới.»
Thế Tôn bảo:
«Thế nào là bốn giới, mà nghĩa có tám giới?»
Lộc Đầu bạch Phật:
«Nay có bốn giới. Những gì là bốn giới? Đất, nước, lửa, gió. Đó gọi là bốn giới. Thế nào là nghĩa có tám giới? Đất có hai loại: đất trong và đất ngoài. Sao gọi đại chủng đất bên trong? Đó là tóc, lông, móng, răng, thân thể, da bọc ngoài, gân cốt, tuỷ não, ruột, bao tử, gan, mật, tỳ thận. Đó gọi là đại chủng đất trong. Thế nào là đại chủng đất bên ngoài? Đó là những gì cứng chắc. Đó gọi là đại chủng đất bên ngoài. Đây gọi là hai đại chủng đất.
«Sao gọi đại chủng nước? Đại chủng nước có hai: đại chủng nước bên trong, đại chủng nước bên ngoài. Đại chủng nước bên trong là đờm dãi, nước mắt, nước tiểu, máu, tuỷ. Đó gọi là đại chủng nước bên ngoài. Còn các vật mềm ướt bên ngoài. Đó gọi là đại chủng nước bên ngoài. Đây gọi là hai đại chủng nước.
«Sao gọi đại chủng lửa? Đại chủng lửa có hai: đại chủng lửa bên trong, đại chủng lửa bên. Sao gọi là lửa trong? Là sự tiêu hóa tất cả những vật được ăn, không còn dư sót. Đó gọi là lửa bên trong. Sao gọi là lửa bên ngoài? Những vật giữ hơi nóng, vật ở bên ngoài. Đó gọi là loại lửa ngoài.
«Tại sao gọi là đại chủng gió? Đại chủng gió có hai: gió trong và gió ngoài. Gió trong là gì? Đó là gió trong môi, gió mắt, gió đầu, gió thở ra, gió thở vào, gió trong tất cả các khớp tay, chân. Đó gọi là gió trong. Sao gọi là gió ngoài? Đó là vật khiến lay động nhẹ, nhanh chóng. Đó gọi là gió ngoài. Bạch Thế Tôn, đó gọi là có hai loại. Sự thật có bốn, mà số có tám.
«Như vậy, Thế Tôn, con quán sát nghĩa này, rằng con người khi mạng chung, bốn đại chủng ấy trở về gốc của chúng.»
Thế Tôn bảo:
«Pháp vô thường cũng không cùng chung với pháp thường. Sở dĩ như vậy là vì đại chủng đất có hai, hoặc trong hoặc ngoài. Bấy giờ, đất trong là pháp vô thường, là pháp biến dịch, còn đại chủng đất ngoài thường trụ không biến đổi. Đó gọi là đất có hai loại không tương ưng với thường và vô thường. Còn ba đại kia cũng lại như vậy, giữa thường và vô thường không tương ưng nhau.
«Cho nên, này Lộc Đầu, tuy có tám loại, kỳ thật chỉ có bốn. Lộc Đầu, hãy học điều này như vậy.»
Lộc Đầu sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.