Chuyển đến nội dung chính
Trang chủ Phân Loại VIII. Kết Quả Áp Dụng Lời Phật Các Hạng Người Phân biệt sự thuyết pháp chân chính
1. 16 việc không thể nào thỏa mãn 2. 3 hạng người mang lại hạnh phúc 3. 3 hạng người như mưa 4. 3 hạng con trong 1 gia đình 5. 10 đức tính đáng được đảnh lễ 6. Nhân quả 10 loại người hưởng dục 7. 10 loại tu sĩ 8. 10 hạng người có mặt hiện hữu ở đời 9. Các hạng người xét về tâm tánh 10. 9 hạng người 11. 3 căn bản làm phước 12. Các lợi ích của người có phước đức 13. Các hạng người bố thí với tâm khác nhau 14. 7 hạng người ví dụ như nước 15. Các hạng người khi sống gần hoặc xa với thầy của mình 16. Nhân quả 6 sanh loại của con người 17. Chớ có làm người đo lường các hạng người 18. Phân biệt sự thuyết pháp chân chính 19. Các hạng người dễ nhận thấy 20. Làm người cần lưu ý để làm gương 21. 5 hạng chiến sĩ 22. Người có lòng tin là gì? 23. Người hiền trí là gì? 24. 4 hạng người hướng đến giải thoát 25. 4 hình thức niết bàn 26. 1 số hạng người cần biết 27. 4 hạng người hiền thiện 28. Các hạng người theo phân loại 29. 4 hạng người xuất gia 30. 4 hạng người cơ bản ở đời 31. Nhận diện người tốt và không tốt qua cách nói chuyện 32. Các hạng người thường thấy ở đời 33. Hạng người như chữ viết trên đá, trên đất, trên nước 34. Các hạng người qua trí tuệ 35. Các hạng người qua góc nhìn 36. Các hạng người qua ăn nói 37. Các hạng người đáng ghê tởm 38. Các hạng người cần phải thân cận 39. Các hạng người có ảnh hưởng đến tâm người khác 40. Các hạng người có lợi ích 41. Các hạng người có tính chất chứa 42. Các hạng tu sĩ cần biết 43. Phân biệt người trí và không trí 44. Phân biệt loại người khó và dễ thỏa mãn 45. Phân biệt người khôn người ngu 46. 2 hạng người đáng được cúng dường 47. 3 hạng người tu khổ hạnh 48. Khái niệm hiền lành và tàn bạo 49. Các hạng thiền định thiền chứng 50. 5 loại chủng tử ở đời 51. Những loại người khó huấn luyện 52. Hạng người ít nghe 53. Nhân quả của người vô trí 54. Người ngu xét đoán người có trí 55. Các hạng chúng sanh 56. Ý nghĩa của chữ "Chúng sanh" là chưa giải thoát 57. Phân biệt các hạng người và hành vi nhân quả 58. Thế nào là 1 Bà la môn đúng nghĩa 59. 4 loại người nên được xây tháp 60. Sự khác biệt của chư Thiên khi Phật nhập diệt 61. Chúng sanh căn nghiệp khác nhau 62. Các giai cấp không hoàn toàn cao thấp 63. Nguyên nhân hình thành con người 64. 1 A la hán tiêu biểu 65. Các khái niệm từ phàm phu đến A la hán 66. Lí do xuất gia theo Phật 67. Niềm tin của 1 người xuất gia chân chính 68. Ở đời có 4 hạng người liên quan đến thân và tâm 69. Cách ứng xử của người trí 70. Có 4 loại người hiện diện ở đời 71. Người trí ít người mê nhiều 72. 4 hạng người không được xem là bạn 73. 4 pháp hành của người có trí 74. 4 pháp hành của người vô trí 75. Người khôn có các biểu hiện 76. Người ngu có các biểu hiện 77. Tâm lý đời thường của con người 78. Có 4 hạng người có mặt trên đời 79. Phương pháp tu tập có thần thông 80. Những hạng người tu tập chứng đắc thời Đức Phật Gotama 81. Cách tu tập trở thành 1 người xuất gia chân chánh 82. Cách nhìn người chân chánh 83. Cách nhìn người bất chánh 84. 2 loại nhóm cộng đồng 85. 4 hạng người có mặt ở trên đời 86. Vấn đáp 4 giai cấp là thanh tịnh như nhau 87. 1 nhân tài Bà la môn tiêu biểu 88. Nguồn gốc giai cấp của 1 con người là do duyên 89. Mọi người đều bình đẳng 90. Thuyết trình 4 phần dành cho người trí tuệ 91. 7 hạng người sống trên đời 92. Khả năng của 1 Bà la môn tiêu biểu 93. Có 7 loại người 94. Phương pháp nhận biết người có giới đức và trí tuệ
Các Hạng Người

Phân biệt sự thuyết pháp chân chính

(VII) (157) Ác Thuyết

  1. – Lời nói của năm hạng người, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?
  2. Nói về tín với người không tin, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết; nói về giới với người ác giới là ác thuyết; nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết; nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết; nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tín với người không tin là ác thuyết?
  3. Người không tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói về lòng tin liền tức tối, phẫn nộ, hiềm khích, mất bình tĩnh, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người không có lòng tin là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới với người ác giới là ác thuyết?
  4. Người ác giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói về giới liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người ác giới là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết?
  5. Người nghe ít, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ nghe nhiều, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết?
  6. Người xan tham, này các Tỷ-kheo, khi được nói về bố thí liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ bố thí, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tuệ với người ác tuệ là ác thuyết?
  7. Người ác tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ trí tuệ, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.
Lời nói của năm hạng người này là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người.
  1. Lời nói của năm hạng người này là thiện thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?
  2. Thuyết về tín cho người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết; thuyết về giới cho người giữ giới là thiện thuyết; thuyết về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết; thuyết về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết; thuyết về trí tuệ cho người trí tuệ là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao thuyết về lòng tin cho người có lòng tin là thiện thuyết?
  3. Người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến lòng tin thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người có lòng tin là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới cho người giữ giới là thiện thuyết?
  4. Người giữ giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến về giới thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người có giữ giới là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết?
  5. Người nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có nghe nhiều, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người có nghe nhiều là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết?
  6. Người bố thí, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến bố thí thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có bố thí, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người có bố thí là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về trí tuệ cho người có trí tuệ là thiện thuyết?
  7. Người trí tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ thì không tức tối…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có trí tuệ, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người có trí tuệ là thiện thuyết.
Lời thuyết của năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết khi có sự đối chứng giữa người và người.

Xem chi tiết:

https://buocdauhocphat.com/kinh-tang-chi-bo-chuong-v-nam-phap-xvi-pham-dieu-phap

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc