BJT 288Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi có tên là Mūgapakkha, nhưng mọi người gọi ta là Temiya.
BJT 289Khi ấy, mười sáu ngàn phi tần (của đức vua) không có được một người con trai (luôn cả con gái). Sau nhiều ngày đêm, chỉ mỗi một mình ta đã được sanh ra.
BJT 290(Vua) cha đã nuôi dưỡng ta, người con trai yêu quý, đạt được một cách khó nhọc, đã được sanh ra vẹn toàn, có thân tâm sáng lạng, ở trên chiếc giường đã được che chiếc lọng màu trắng.
BJT 291Khi ấy, trong lúc đang ngủ trên chiếc giường cao quý, ta đã thức giấc và nhìn thấy chiếc lọng nhạt màu, nghĩa là ta sẽ bị đi địa ngục.
BJT 292Có nỗi sợ hãi ghê gớm đã khởi lên ở ta khi được nhìn thấy chiếc lọng. Ta đã đi đến quyết định: “Ta sẽ được thoát khỏi điều này bằng cách nào?”
BJT 293Có vị tiên nữ trước đây cùng huyết thống với ta có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho ta, sau khi nhìn thấy bản thân ta bị đau khổ, đã căn dặn về ba thái độ:
BJT 294“Chớ ra vẻ khôn ngoan, hãy là kẻ ngu si đối với tất cả chúng sanh, hãy làm cho mọi người khinh khi; như thế sẽ có sự tốt đẹp cho con.”
BJT 295Khi được nói như vậy, ta đã nói với bà ấy lời này: “Bà tiên ơi, con sẽ thực hành theo lời mà bà đã chỉ bảo. Mẹ ơi, mẹ đã có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho con. Bà tiên ơi, bà đã có mong muốn điều lợi ích cho con.”
BJT 296Sau khi nghe được lời nói của bà ấy, ta đã thọ nhận như là đã đến được đất liền ở giữa biển khơi. Mừng rỡ, với tâm ý phấn chấn, ta đã quyết định ba điều:
BJT 297Ta đã là người câm, điếc, què quặt, việc đi lại đã được từ bỏ. Ta đã quyết định các điều này và đã sống mười sáu năm.
BJT 298Do đó, họ đã xoa bóp tay chân, lưỡi và mắt của ta. Sau khi nhận thấy không có sự khiếm khuyết ở ta, họ đã chê bai là “Kẻ bất hạnh.”
BJT 299Sau đó, tất cả dân chúng trong xứ sở, các tướng lãnh quân đội, các viên quan tế tự, tất cả đã nhất trí bằng lòng việc truất phế.
BJT 300Sau khi nghe ý kiến của những người ấy, ta đây đã trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Sự khổ hạnh đã được thể hiện (bởi ta) vì mục đích nào thì mục đích ấy của ta đã được thành công.
BJT 301Sau khi đã tắm rửa, xức dầu, đội lên vương miện, làm lễ rưới nước (cho ta), rồi với chiếc lọng che họ đã tiến hành việc đi nhiễu vòng quanh thành phố.
BJT 302Sau khi đã duy trì chiếc lọng trong bảy ngày, đến lúc vầng sáng của mặt trời hiện ra, người đánh xe đã đưa ta ra khỏi (thành phố) bằng chiếc xe ngựa rồi đi về phía khu rừng.
BJT 303Sau khi dừng chiếc xe ở một khoảng trống, người đánh xe đã buộc ngựa để được rảnh tay rồi đã đào cái hố để chôn ta ở trong lòng đất.
BJT 304Trong khi nhiều nguyên nhân đủ các loại đang đe dọa điều quyết tâm đã được khẳng định, ta đã không làm đổ vỡ việc tuân thủ đã được quyết định với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 305Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, bản thân cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã quyết định việc tuân thủ.
BJT 306Sau khi quyết định các điều này, ta đã sống trong mười sáu năm. Không có ai bằng (ta) về sự quyết định, điều này là sự toàn hảo về quyết định của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Temiya là phần thứ sáu.
Dứt sự toàn hảo về quyết định.
“Punāparaṁ yadā homi,
kāsirājassa atrajo;
Mūgapakkhoti nāmena,
temiyoti vadanti maṁ.
Soḷasitthisahassānaṁ,
na vijjati pumo tadā;
Ahorattānaṁ accayena,
nibbatto ahamekako.
Kicchā laddhaṁ piyaṁ puttaṁ,
abhijātaṁ jutindharaṁ;
Setacchattaṁ dhārayitvāna,
sayane poseti maṁ pitā.
Niddāyamāno sayanavare,
Pabujjhitvānahaṁ tadā;
Addasaṁ paṇḍaraṁ chattaṁ,
Yenāhaṁ nirayaṁ gato.
Saha diṭṭhassa me chattaṁ,
tāso uppajji bheravo;
Vinicchayaṁ samāpanno,
‘kathāhaṁ imaṁ muñcissaṁ’.
Pubbasālohitā mayhaṁ,
devatā atthakāminī;
Sā maṁ disvāna dukkhitaṁ,
tīsu ṭhānesu yojayi.
‘Mā paṇḍiccayaṁ vibhāvaya,
Bālamato bhava sabbapāṇinaṁ;
Sabbo taṁ jano ocināyatu,
Evaṁ tava attho bhavissati’.
Evaṁ vuttāyahaṁ tassā,
idaṁ vacanamabraviṁ;
‘Karomi te taṁ vacanaṁ,
yaṁ tvaṁ bhaṇasi devate;
Atthakāmāsi me amma,
hitakāmāsi devate’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
sāgareva thalaṁ labhiṁ;
Haṭṭho saṁviggamānaso,
tayo aṅge adhiṭṭhahiṁ.
Mūgo ahosiṁ badhiro,
pakkho gativivajjito;
Ete aṅge adhiṭṭhāya,
vassāni soḷasaṁ vasiṁ.
Tato me hatthapāde ca,
jivhaṁ sotañca maddiya;
Anūnataṁ me passitvā,
‘kāḷakaṇṇī’ti nindisuṁ.
Tato jānapadā sabbe,
senāpatipurohitā;
Sabbe ekamanā hutvā,
chaḍḍanaṁ anumodisuṁ.
Sohaṁ tesaṁ matiṁ sutvā,
haṭṭho saṁviggamānaso;
‘Yassatthāya tapociṇṇo,
so me attho samijjhatha’.
Nhāpetvā anulimpitvā,
veṭhetvā rājaveṭhanaṁ;
Chattena abhisiñcitvā,
kāresuṁ puraṁ padakkhiṇaṁ.
Sattāhaṁ dhārayitvāna,
uggate ravimaṇḍale;
Rathena maṁ nīharitvā,
sārathī vanamupāgami.
Ekokāse rathaṁ katvā,
sajjassaṁ hatthamuccito;
Sārathī khaṇatī kāsuṁ,
nikhātuṁ pathaviyā mamaṁ.
Adhiṭṭhitamadhiṭṭhānaṁ,
tajjento vividhakāraṇā;
Na bhindiṁ tamadhiṭṭhānaṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Mātāpitā na me dessā,
attā me na ca dessiyo;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā vatamadhiṭṭhahiṁ.
Ete aṅge adhiṭṭhāya,
Vassāni soḷasaṁ vasiṁ;
Adhiṭṭhānena me samo natthi,
Esā me adhiṭṭhānapāramī”ti.
Temiyacariyaṁ chaṭṭhaṁ.
“Then again when I was
the true-born son of the king of Kāsi,
Mūgapakkha was my name,
they called me Temiya.
None of the sixteen thousand court women
had given birth to a male.
After many days and nights
I was born, the only one.
To my father I was a dear son born with difficulty,
a light-bringer of impeccable lineage.
Holding a white parasol over my bed,
my father provided for me.
Sleeping on the fine bed,
then having awoken,
I saw the pale umbrella,
by which I had gone to hell.
At the sight of the umbrella
a terrible dread arose in me.
I reached the decision,
‘How can I be free of this?’
A former blood-relation of mine,
a goddess wishing to help,
saw my suffering
and enjoined me to three states.
‘Don’t show intelligence,
be as a fool to all creatures,
let all folk scorn you,
thus you will achieve your goal.’
When she had spoken,
I said the following.
‘I shall do your bidding,
just as you say, goddess.
You want what’s best for me, mom,
you desire my welfare, goddess.’
After hearing her words,
I was like one lost at sea reaching the shore.
I was thrilled, my mind elated,
and I resolved on three factors.
I became deaf, and dumb,
and crippled, unable to walk.
Resolving on these factors,
I lived for sixteen years.
Then they rubbed my hands and feet,
my tongue and ears as well,
and seeing no defect in me,
denounced me as ‘black-ear’.
Due to that, the entire country,
including the generals and priests,
with one mind
cheered as I was discarded.
When I heard of their decision
I was thrilled, my mind elated,
‘The goal for which I lived fervently
I have achieved.’
Bathed and oiled,
with my turban wrapped,
anointed, they held the umbrella
as they paraded me around the city.
After the seventh day holding the umbrella,
when the sun’s orb had risen,
I was taken out by chariot,
until the charioteer came to a wood.
Leaving the chariot in the open,
the bridled horse released from his hand,
the charioteer dug a pit
to bury me in the ground.
I was afraid for the many different
resolves that I had undertaken,
so I did not break that resolve,
because it was solely for awakening.
I had no dislike of my parents,
nor did I dislike myself.
But because omniscience is precious to me,
that is why I resolved on my vow.
Having resolved the three factors,
I lived for sixteen years.
There is no-one to equal my resolve:
this is my perfection of resolve.”
BJT 288Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi có tên là Mūgapakkha, nhưng mọi người gọi ta là Temiya.
BJT 289Khi ấy, mười sáu ngàn phi tần (của đức vua) không có được một người con trai (luôn cả con gái). Sau nhiều ngày đêm, chỉ mỗi một mình ta đã được sanh ra.
BJT 290(Vua) cha đã nuôi dưỡng ta, người con trai yêu quý, đạt được một cách khó nhọc, đã được sanh ra vẹn toàn, có thân tâm sáng lạng, ở trên chiếc giường đã được che chiếc lọng màu trắng.
BJT 291Khi ấy, trong lúc đang ngủ trên chiếc giường cao quý, ta đã thức giấc và nhìn thấy chiếc lọng nhạt màu, nghĩa là ta sẽ bị đi địa ngục.
BJT 292Có nỗi sợ hãi ghê gớm đã khởi lên ở ta khi được nhìn thấy chiếc lọng. Ta đã đi đến quyết định: “Ta sẽ được thoát khỏi điều này bằng cách nào?”
BJT 293Có vị tiên nữ trước đây cùng huyết thống với ta có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho ta, sau khi nhìn thấy bản thân ta bị đau khổ, đã căn dặn về ba thái độ:
BJT 294“Chớ ra vẻ khôn ngoan, hãy là kẻ ngu si đối với tất cả chúng sanh, hãy làm cho mọi người khinh khi; như thế sẽ có sự tốt đẹp cho con.”
BJT 295Khi được nói như vậy, ta đã nói với bà ấy lời này: “Bà tiên ơi, con sẽ thực hành theo lời mà bà đã chỉ bảo. Mẹ ơi, mẹ đã có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho con. Bà tiên ơi, bà đã có mong muốn điều lợi ích cho con.”
BJT 296Sau khi nghe được lời nói của bà ấy, ta đã thọ nhận như là đã đến được đất liền ở giữa biển khơi. Mừng rỡ, với tâm ý phấn chấn, ta đã quyết định ba điều:
BJT 297Ta đã là người câm, điếc, què quặt, việc đi lại đã được từ bỏ. Ta đã quyết định các điều này và đã sống mười sáu năm.
BJT 298Do đó, họ đã xoa bóp tay chân, lưỡi và mắt của ta. Sau khi nhận thấy không có sự khiếm khuyết ở ta, họ đã chê bai là “Kẻ bất hạnh.”
BJT 299Sau đó, tất cả dân chúng trong xứ sở, các tướng lãnh quân đội, các viên quan tế tự, tất cả đã nhất trí bằng lòng việc truất phế.
BJT 300Sau khi nghe ý kiến của những người ấy, ta đây đã trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Sự khổ hạnh đã được thể hiện (bởi ta) vì mục đích nào thì mục đích ấy của ta đã được thành công.
BJT 301Sau khi đã tắm rửa, xức dầu, đội lên vương miện, làm lễ rưới nước (cho ta), rồi với chiếc lọng che họ đã tiến hành việc đi nhiễu vòng quanh thành phố.
BJT 302Sau khi đã duy trì chiếc lọng trong bảy ngày, đến lúc vầng sáng của mặt trời hiện ra, người đánh xe đã đưa ta ra khỏi (thành phố) bằng chiếc xe ngựa rồi đi về phía khu rừng.
BJT 303Sau khi dừng chiếc xe ở một khoảng trống, người đánh xe đã buộc ngựa để được rảnh tay rồi đã đào cái hố để chôn ta ở trong lòng đất.
BJT 304Trong khi nhiều nguyên nhân đủ các loại đang đe dọa điều quyết tâm đã được khẳng định, ta đã không làm đổ vỡ việc tuân thủ đã được quyết định với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 305Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, bản thân cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã quyết định việc tuân thủ.
BJT 306Sau khi quyết định các điều này, ta đã sống trong mười sáu năm. Không có ai bằng (ta) về sự quyết định, điều này là sự toàn hảo về quyết định của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Temiya là phần thứ sáu.
Dứt sự toàn hảo về quyết định.
“Punāparaṁ yadā homi,
kāsirājassa atrajo;
Mūgapakkhoti nāmena,
temiyoti vadanti maṁ.
Soḷasitthisahassānaṁ,
na vijjati pumo tadā;
Ahorattānaṁ accayena,
nibbatto ahamekako.
Kicchā laddhaṁ piyaṁ puttaṁ,
abhijātaṁ jutindharaṁ;
Setacchattaṁ dhārayitvāna,
sayane poseti maṁ pitā.
Niddāyamāno sayanavare,
Pabujjhitvānahaṁ tadā;
Addasaṁ paṇḍaraṁ chattaṁ,
Yenāhaṁ nirayaṁ gato.
Saha diṭṭhassa me chattaṁ,
tāso uppajji bheravo;
Vinicchayaṁ samāpanno,
‘kathāhaṁ imaṁ muñcissaṁ’.
Pubbasālohitā mayhaṁ,
devatā atthakāminī;
Sā maṁ disvāna dukkhitaṁ,
tīsu ṭhānesu yojayi.
‘Mā paṇḍiccayaṁ vibhāvaya,
Bālamato bhava sabbapāṇinaṁ;
Sabbo taṁ jano ocināyatu,
Evaṁ tava attho bhavissati’.
Evaṁ vuttāyahaṁ tassā,
idaṁ vacanamabraviṁ;
‘Karomi te taṁ vacanaṁ,
yaṁ tvaṁ bhaṇasi devate;
Atthakāmāsi me amma,
hitakāmāsi devate’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
sāgareva thalaṁ labhiṁ;
Haṭṭho saṁviggamānaso,
tayo aṅge adhiṭṭhahiṁ.
Mūgo ahosiṁ badhiro,
pakkho gativivajjito;
Ete aṅge adhiṭṭhāya,
vassāni soḷasaṁ vasiṁ.
Tato me hatthapāde ca,
jivhaṁ sotañca maddiya;
Anūnataṁ me passitvā,
‘kāḷakaṇṇī’ti nindisuṁ.
Tato jānapadā sabbe,
senāpatipurohitā;
Sabbe ekamanā hutvā,
chaḍḍanaṁ anumodisuṁ.
Sohaṁ tesaṁ matiṁ sutvā,
haṭṭho saṁviggamānaso;
‘Yassatthāya tapociṇṇo,
so me attho samijjhatha’.
Nhāpetvā anulimpitvā,
veṭhetvā rājaveṭhanaṁ;
Chattena abhisiñcitvā,
kāresuṁ puraṁ padakkhiṇaṁ.
Sattāhaṁ dhārayitvāna,
uggate ravimaṇḍale;
Rathena maṁ nīharitvā,
sārathī vanamupāgami.
Ekokāse rathaṁ katvā,
sajjassaṁ hatthamuccito;
Sārathī khaṇatī kāsuṁ,
nikhātuṁ pathaviyā mamaṁ.
Adhiṭṭhitamadhiṭṭhānaṁ,
tajjento vividhakāraṇā;
Na bhindiṁ tamadhiṭṭhānaṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Mātāpitā na me dessā,
attā me na ca dessiyo;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā vatamadhiṭṭhahiṁ.
Ete aṅge adhiṭṭhāya,
Vassāni soḷasaṁ vasiṁ;
Adhiṭṭhānena me samo natthi,
Esā me adhiṭṭhānapāramī”ti.
Temiyacariyaṁ chaṭṭhaṁ.