Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào không tái sanh, có phải người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh’?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Người nào không tái sanh, người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh.’”
“Thưa ngài, làm sao biết?”
“Tâu đại vương, nhân nào duyên nào đưa đến việc tái sanh, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh.’”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nông dân gia chủ, sau khi cày đất và gieo hạt, có thể làm đầy kho lúa; người ấy vào lúc khác không cày đất không gieo hạt, rồi thọ dụng thóc lúa đã được tích trữ hoặc phân phát hoặc sử dụng tùy duyên, tâu đại vương, có phải người nông dân gia chủ ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không làm đầy kho lúa’?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể biết được.”
“Làm sao biết được?”
“Nhân nào duyên nào đưa đến việc làm đầy kho lúa, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không làm đầy kho lúa của ta.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhân nào duyên nào đưa đến việc tái sanh, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yo na paṭisandahati, jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti?
“Āma, mahārāja, yo na paṭisandahati, jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti.
“Kathaṁ, bhante, jānātī”ti?
“Yo hetu yo paccayo, mahārāja, paṭisandahanāya, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kassako gahapatiko kasitvā ca vapitvā ca dhaññāgāraṁ paripūreyya.
So aparena samayena neva kasseyya na vappeyya, yathāsambhatañca dhaññaṁ paribhuñjeyya vā visajjeyya vā yathā paccayaṁ vā kareyya, jāneyya so, mahārāja, kassako gahapatiko ‘na me dhaññāgāraṁ paripūressatī’”ti?
“Āma, bhante, jāneyyā”ti.
“Kathaṁ jāneyyā”ti?
“Yo hetu yo paccayo dhaññāgārassa paripūraṇāya, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā jānāti ‘na me dhaññāgāraṁ paripūressatī’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yo hetu yo paccayo paṭisandahanāya, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Paṭisandahanapañho dutiyo.
PTS cs 2 The king said: ‘Is a man, Nāgasena, who will not be reborn, aware of the fact?’
‘Yes, O king.’
‘And how does he know it
‘By the cessation of all that is cause, proximate or remote, of rebirth.’
‘Give me an illustration.’
‘Suppose a farmer, great king, had ploughed and sown and filled his granary; and then for a period should neither plough nor sow, but live on the PTS vp En 66 stored-up grain, or dispose of it in barter, or deal with it as he had need. Would the farmer be aware, great king, that his granary was not getting filled?’
‘Yes, he ought to know it.’
‘But how?’
‘He would know that the cause, proximate and remote, of the filling of the granary had ceased.’
‘Just so with the man you spoke of. By the cessation of all that leads to rebirth, he would be conscious of having escaped his liability to it.’
‘Well explained, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào không tái sanh, có phải người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh’?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Người nào không tái sanh, người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh.’”
“Thưa ngài, làm sao biết?”
“Tâu đại vương, nhân nào duyên nào đưa đến việc tái sanh, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh.’”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nông dân gia chủ, sau khi cày đất và gieo hạt, có thể làm đầy kho lúa; người ấy vào lúc khác không cày đất không gieo hạt, rồi thọ dụng thóc lúa đã được tích trữ hoặc phân phát hoặc sử dụng tùy duyên, tâu đại vương, có phải người nông dân gia chủ ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không làm đầy kho lúa’?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể biết được.”
“Làm sao biết được?”
“Nhân nào duyên nào đưa đến việc làm đầy kho lúa, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không làm đầy kho lúa của ta.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhân nào duyên nào đưa đến việc tái sanh, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ không tái sanh.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yo na paṭisandahati, jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti?
“Āma, mahārāja, yo na paṭisandahati, jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti.
“Kathaṁ, bhante, jānātī”ti?
“Yo hetu yo paccayo, mahārāja, paṭisandahanāya, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kassako gahapatiko kasitvā ca vapitvā ca dhaññāgāraṁ paripūreyya.
So aparena samayena neva kasseyya na vappeyya, yathāsambhatañca dhaññaṁ paribhuñjeyya vā visajjeyya vā yathā paccayaṁ vā kareyya, jāneyya so, mahārāja, kassako gahapatiko ‘na me dhaññāgāraṁ paripūressatī’”ti?
“Āma, bhante, jāneyyā”ti.
“Kathaṁ jāneyyā”ti?
“Yo hetu yo paccayo dhaññāgārassa paripūraṇāya, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā jānāti ‘na me dhaññāgāraṁ paripūressatī’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yo hetu yo paccayo paṭisandahanāya, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā jānāti so ‘na paṭisandahissāmī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Paṭisandahanapañho dutiyo.