Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào không tái sanh, người ấy còn nhận biết thọ khổ nào đó phải không?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Còn nhận biết thọ nào đó, không nhận biết thọ nào đó.”
“Nhận biết thọ gì, không nhận biết thọ gì?”
“Tâu đại vương, nhận biết thọ thuộc về thân, không nhận biết thọ thuộc về tâm.”
“Thưa ngài, nhận biết thọ thuộc về thân là thế nào, nhận biết thọ thuộc về tâm là thế nào?”
“Nhân nào duyên nào đưa đến việc sanh lên thọ khổ thuộc về thân, do sự chưa chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy nhận biết thọ khổ thuộc về thân. Nhân nào duyên nào đưa đến việc sanh lên thọ khổ thuộc về tâm, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy không nhận biết thọ khổ thuộc về tâm. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Người ấy nhận biết một thọ, thuộc về thân không thuộc về tâm.’”
“Thưa ngài Nāgasena, người ấy nhận biết thọ khổ thuộc về thân, tại sao người ấy không viên tịch Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đối với A-la-hán không có sự bám níu hay sự ghét bỏ. Và các vị A-la-hán không hủy diệt điều chưa chín tới. Các bậc trí chờ đợi sự chín muồi. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi trông chờ thời điểm, giống như người làm công trông chờ tiền lương.
Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi trông chờ thời điểm, tỉnh giác, có niệm.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yo na paṭisandahati, vedeti so kiñci dukkhaṁ vedanan”ti?
Thero āha—
“kiñci vedeti, kiñci na vedetī”ti.
“Kiṁ vedeti, kiṁ na vedetī”ti?
“Kāyikaṁ, mahārāja, vedanaṁ vedeti, cetasikaṁ vedanaṁ na vedetī”ti.
“Kathaṁ, bhante, kāyikaṁ vedanaṁ vedeti, kathaṁ cetasikaṁ vedanaṁ na vedetī”ti?
“Yo hetu yo paccayo kāyikāya dukkhavedanāya uppattiyā, tassa hetussa tassa paccayassa anuparamā kāyikaṁ dukkhavedanaṁ vedeti, yo hetu yo paccayo cetasikāya dukkhavedanāya uppattiyā, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā cetasikaṁ dukkhavedanaṁ na vedeti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘so ekaṁ vedanaṁ vedeti kāyikaṁ na cetasikan’”ti.
“Bhante nāgasena, yo dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, kasmā so na parinibbāyatī”ti?
“Natthi, mahārāja, arahato anunayo vā paṭigho vā, na ca arahanto apakkaṁ pātenti paripākaṁ āgamenti paṇḍitā.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Nābhinandāmi maraṇaṁ,
nābhinandāmi jīvitaṁ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi,
nibbisaṁ bhatako yathā.
Nābhinandāmi maraṇaṁ,
nābhinandāmi jīvitaṁ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi,
sampajāno patissato’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Paṭisandahanapuggalavediyanapañho catuttho.
PTS cs 4 The king said: ‘He who will not be reborn, Nāgasena, does he still feel any painful sensation?’
The Elder replied: ‘Some he feels and some not.’
‘Which are they?’
‘He may feel bodily pain, O king; but mental pain he would not.’
‘How would that be so?’
‘Because the causes, proximate or remote, of bodily pain still continue, he would be liable to it. But the causes, proximate or remote, of mental agony having ceased, he could not feel it. For it has been said by the Blessed One: “One kind of pain he suffers, bodily pain: but not mental.”’
‘Then why, Sir, does he not die?’
‘The Arahat, O king, has need neither to curry PTS vp En 70 favour nor to bear malice. He shakes not down the unripe fruit, but awaits the full time of its maturity. For it has been said, O king, by the Elder, Sāriputta, the Commander of the faith PTS vp Pali 45 :
“It is not death, it is not life I welcome;
As the hireling his wage, so do I bide my time.
It is not death, it is not life I want;
Mindful and thoughtful do I bide my time.”’
‘Well put, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào không tái sanh, người ấy còn nhận biết thọ khổ nào đó phải không?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Còn nhận biết thọ nào đó, không nhận biết thọ nào đó.”
“Nhận biết thọ gì, không nhận biết thọ gì?”
“Tâu đại vương, nhận biết thọ thuộc về thân, không nhận biết thọ thuộc về tâm.”
“Thưa ngài, nhận biết thọ thuộc về thân là thế nào, nhận biết thọ thuộc về tâm là thế nào?”
“Nhân nào duyên nào đưa đến việc sanh lên thọ khổ thuộc về thân, do sự chưa chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy nhận biết thọ khổ thuộc về thân. Nhân nào duyên nào đưa đến việc sanh lên thọ khổ thuộc về tâm, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy không nhận biết thọ khổ thuộc về tâm. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Người ấy nhận biết một thọ, thuộc về thân không thuộc về tâm.’”
“Thưa ngài Nāgasena, người ấy nhận biết thọ khổ thuộc về thân, tại sao người ấy không viên tịch Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đối với A-la-hán không có sự bám níu hay sự ghét bỏ. Và các vị A-la-hán không hủy diệt điều chưa chín tới. Các bậc trí chờ đợi sự chín muồi. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi trông chờ thời điểm, giống như người làm công trông chờ tiền lương.
Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi trông chờ thời điểm, tỉnh giác, có niệm.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yo na paṭisandahati, vedeti so kiñci dukkhaṁ vedanan”ti?
Thero āha—
“kiñci vedeti, kiñci na vedetī”ti.
“Kiṁ vedeti, kiṁ na vedetī”ti?
“Kāyikaṁ, mahārāja, vedanaṁ vedeti, cetasikaṁ vedanaṁ na vedetī”ti.
“Kathaṁ, bhante, kāyikaṁ vedanaṁ vedeti, kathaṁ cetasikaṁ vedanaṁ na vedetī”ti?
“Yo hetu yo paccayo kāyikāya dukkhavedanāya uppattiyā, tassa hetussa tassa paccayassa anuparamā kāyikaṁ dukkhavedanaṁ vedeti, yo hetu yo paccayo cetasikāya dukkhavedanāya uppattiyā, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā cetasikaṁ dukkhavedanaṁ na vedeti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘so ekaṁ vedanaṁ vedeti kāyikaṁ na cetasikan’”ti.
“Bhante nāgasena, yo dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, kasmā so na parinibbāyatī”ti?
“Natthi, mahārāja, arahato anunayo vā paṭigho vā, na ca arahanto apakkaṁ pātenti paripākaṁ āgamenti paṇḍitā.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Nābhinandāmi maraṇaṁ,
nābhinandāmi jīvitaṁ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi,
nibbisaṁ bhatako yathā.
Nābhinandāmi maraṇaṁ,
nābhinandāmi jīvitaṁ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi,
sampajāno patissato’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Paṭisandahanapuggalavediyanapañho catuttho.