Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, có phải hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện?”
“Thưa ngài, hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện là gì?”
“Tâu đại vương, hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện là việc xác định đối với các pháp không có hình tướng là tâm và sở hữu tâm đang diễn tiến ở một đối tượng đã được nói ra: ‘Đây là xúc, đây là thọ, đây là tường, đây là tư, đây là tâm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó đi vào biển cả bằng thuyền, lấy nước bằng bụm tay, rồi nếm bằng lưỡi. Tâu đại vương, phải chăng người ấy có thể biết được rằng: ‘Đây là nước của sông Gaṅgā, đây là nước của sông Yamunā, đây là nước của sông Aciravatī, đây là nước của sông Sarabhū, đây là nước của sông Mahī’?”
“Thưa ngài, là việc khó khăn để biết được.”
“Tâu đại vương, việc đã được đức Thế Tôn thực hiện còn khó hơn việc đó nữa là việc xác định các pháp không có hình tướng là tâm và sở hữu tâm đang diễn tiến ở một đối tượng đã được nói ra: ‘Đây là xúc, đây là thọ, đây là tường, đây là tư, đây là tâm.’”
Đức vua đã vô cùng hoan hỷ: “Thưa ngài, thật quý hóa thay!”
Phẩm Xác Định Các Pháp Vô Sắc là thứ bảy.
(Trong phẩm này có mười sáu câu hỏi)
Rājā āha—
“bhante nāgasena, dukkaraṁ nu kho bhagavatā katan”ti?
Thero āha—
“dukkaraṁ, mahārāja, bhagavatā katan”ti.
“Kiṁ pana, bhante nāgasena, bhagavatā dukkaraṁ katan”ti.
“Dukkaraṁ, mahārāja, bhagavatā kataṁ imesaṁ arūpīnaṁ cittacetasikānaṁ dhammānaṁ ekārammaṇe vattamānānaṁ vavatthānaṁ akkhātaṁ ‘ayaṁ phasso, ayaṁ vedanā, ayaṁ saññā, ayaṁ cetanā, idaṁ cittan’”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kocideva puriso nāvāya mahāsamuddaṁ ajjhogāhetvā hatthapuṭena udakaṁ gahetvā jivhāya sāyitvā jāneyya nu kho, mahārāja, so puriso ‘idaṁ gaṅgāya udakaṁ, idaṁ yamunāya udakaṁ, idaṁ aciravatiyā udakaṁ, idaṁ sarabhuyā udakaṁ, idaṁ mahiyā udakan’”ti?
“Dukkaraṁ, bhante, jānitun”ti.
“Ito dukkarataraṁ kho, mahārāja, bhagavatā kataṁ imesaṁ arūpīnaṁ cittacetasikānaṁ dhammānaṁ ekārammaṇe vattamānānaṁ vavatthānaṁ akkhātaṁ ‘ayaṁ phasso, ayaṁ vedanā, ayaṁ saññā, ayaṁ cetanā, idaṁ cittan’”ti.
“Suṭṭhu, bhante”ti rājā abbhānumodīti.
Arūpadhammavavatthānadukkarapañho soḷasamo.
Arūpadhammavavatthānavaggo sattamo.
Imasmiṁ vagge soḷasa pañhā.
PTS cs 16 The Elder said: ‘A hard thing there is, O king, which the Blessed One has done.’
‘And what is that?’
‘The fixing of all those mental conditions which depend on one organ of sense, telling us that such is contact, and such sensation, and such idea, and such intention, and such thought.’
‘Give me an illustration.’
‘Suppose, O king, a man were to wade down into the sea, and taking some water in the palm of his hand, were to taste it with his tongue. Would he PTS vp En 134 distinguish whether it were water from the Ganges, or from the Jumna, or from the Aciravatī, or from the Sarabhū, or from the Mahī?’
‘Impossible, Sir.’
‘More difficult than that, great king, is it to have distinguished between the mental conditions which follow on the exercise of any one of the organs of sense!’
‘Very good, Nāgasena!’
Here ends the Seventh Chapter.
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, có phải hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện?”
“Thưa ngài, hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện là gì?”
“Tâu đại vương, hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện là việc xác định đối với các pháp không có hình tướng là tâm và sở hữu tâm đang diễn tiến ở một đối tượng đã được nói ra: ‘Đây là xúc, đây là thọ, đây là tường, đây là tư, đây là tâm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó đi vào biển cả bằng thuyền, lấy nước bằng bụm tay, rồi nếm bằng lưỡi. Tâu đại vương, phải chăng người ấy có thể biết được rằng: ‘Đây là nước của sông Gaṅgā, đây là nước của sông Yamunā, đây là nước của sông Aciravatī, đây là nước của sông Sarabhū, đây là nước của sông Mahī’?”
“Thưa ngài, là việc khó khăn để biết được.”
“Tâu đại vương, việc đã được đức Thế Tôn thực hiện còn khó hơn việc đó nữa là việc xác định các pháp không có hình tướng là tâm và sở hữu tâm đang diễn tiến ở một đối tượng đã được nói ra: ‘Đây là xúc, đây là thọ, đây là tường, đây là tư, đây là tâm.’”
Đức vua đã vô cùng hoan hỷ: “Thưa ngài, thật quý hóa thay!”
Phẩm Xác Định Các Pháp Vô Sắc là thứ bảy.
(Trong phẩm này có mười sáu câu hỏi)
Rājā āha—
“bhante nāgasena, dukkaraṁ nu kho bhagavatā katan”ti?
Thero āha—
“dukkaraṁ, mahārāja, bhagavatā katan”ti.
“Kiṁ pana, bhante nāgasena, bhagavatā dukkaraṁ katan”ti.
“Dukkaraṁ, mahārāja, bhagavatā kataṁ imesaṁ arūpīnaṁ cittacetasikānaṁ dhammānaṁ ekārammaṇe vattamānānaṁ vavatthānaṁ akkhātaṁ ‘ayaṁ phasso, ayaṁ vedanā, ayaṁ saññā, ayaṁ cetanā, idaṁ cittan’”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kocideva puriso nāvāya mahāsamuddaṁ ajjhogāhetvā hatthapuṭena udakaṁ gahetvā jivhāya sāyitvā jāneyya nu kho, mahārāja, so puriso ‘idaṁ gaṅgāya udakaṁ, idaṁ yamunāya udakaṁ, idaṁ aciravatiyā udakaṁ, idaṁ sarabhuyā udakaṁ, idaṁ mahiyā udakan’”ti?
“Dukkaraṁ, bhante, jānitun”ti.
“Ito dukkarataraṁ kho, mahārāja, bhagavatā kataṁ imesaṁ arūpīnaṁ cittacetasikānaṁ dhammānaṁ ekārammaṇe vattamānānaṁ vavatthānaṁ akkhātaṁ ‘ayaṁ phasso, ayaṁ vedanā, ayaṁ saññā, ayaṁ cetanā, idaṁ cittan’”ti.
“Suṭṭhu, bhante”ti rājā abbhānumodīti.
Arūpadhammavavatthānadukkarapañho soḷasamo.
Arūpadhammavavatthānavaggo sattamo.
Imasmiṁ vagge soḷasa pañhā.