Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải ngài tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc quá khứ?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Vậy có phải ngài tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc vị lai?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Vậy có phải ngài tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc hiện tại?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Nếu ngài không tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc quá khứ, không tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc vị lai, không tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc hiện tại, vậy ngài tinh tấn nhằm mục đích gì?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, làm cách nào để cho khổ này diệt, và khổ khác không thể sanh lên? Chúng tôi tinh tấn nhằm mục đích này.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy (bây giờ) có khổ thuộc vị lai không?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài quả là quá sáng trí khi ngài tinh tấn nhằm loại bỏ các khổ không hiện hữu!”
“Tâu đại vương, vậy có những vị vua đối nghịch, những kẻ thù đối nghịch, những bạn bè đối nghịch chống đối lại ngài không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có.”
“Tâu đại vương, phải chăng khi ấy ngài mới bảo đào hào, mới bảo đắp lũy, mới bảo xây cổng thành, mới bảo làm vọng gác, mới bảo đem lại thóc?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Tâu đại vương, phải chăng khi ấy ngài mới rèn luyện về voi, mới rèn luyện về ngựa, mới rèn luyện về xe, mới rèn luyện về cung, mới rèn luyện về gươm?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Nhằm mục đích gì?”
“Thưa ngài, nhằm mục đích ngăn chặn các nỗi lo sợ thuộc vị lai.”
“Tâu đại vương, phải chăng (bây giờ) có nỗi lo sợ thuộc vị lai?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, đại vương quả là quá sáng trí khi ngài chuẩn bị nhằm mục đích ngăn chặn các nỗi lo sợ thuộc vị lai!”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào ngài bị khát thì khi ấy ngài mới bảo đào giếng nước, mới bảo đào ao nước, mới bảo đào hồ nước (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ uống nước’?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Nhằm mục đích gì?”
“Thưa ngài, được chuẩn bị nhằm mục đích ngăn chặn các sự khát nước còn chưa đến.”
“Tâu đại vương, phải chăng (bây giờ) có sự khát nước ở vị lai?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, đại vương quả là quá sáng trí khi ngài chuẩn bị việc ấy nhằm mục đích ngăn chặn các sự khát nước ở vị lai!”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào ngài thèm ăn thì khi ấy ngài mới bảo cày ruộng, mới bảo trồng lúa sāli (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng bữa ăn’?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Nhằm mục đích gì?”
“Thưa ngài, được chuẩn bị nhằm mục đích ngăn chặn các sự thèm ăn ở vị lai.”
“Tâu đại vương, phải chăng (bây giờ) có sự thèm ăn ở vị lai?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, đại vương quả là quá sáng trí khi ngài chuẩn bị việc ấy nhằm mục đích ngăn chặn các sự thèm ăn không hiện hữu ở vị lai!”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁ tumhe atītassa dukkhassa pahānāya vāyamathā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, anāgatassa dukkhassa pahānāya vāyamathā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana paccuppannassa dukkhassa pahānāya vāyamathā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Yadi tumhe na atītassa dukkhassa pahānāya vāyamatha, na anāgatassa dukkhassa pahānāya vāyamatha, na paccuppannassa dukkhassa pahānāya vāyamatha, atha kimatthāya vāyamathā”ti.
Thero āha—
“‘kinti, mahārāja, idañca dukkhaṁ nirujjheyya, aññañca dukkhaṁ nuppajjeyyā’ti etadatthāya vāyamāmā”ti.
“Atthi pana te, bhante nāgasena, anāgataṁ dukkhan”ti?
“Natthi, mahārājā”ti.
“Tumhe kho, bhante nāgasena, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ dukkhānaṁ pahānāya vāyamathā”ti?
“Atthi pana te, mahārāja, keci paṭirājāno paccatthikā paccāmittā paccupaṭṭhitā hontī”ti?
“Āma, bhante, atthī”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, tadā tumhe parikhaṁ khaṇāpeyyātha, pākāraṁ cināpeyyātha gopuraṁ kārāpeyyātha, aṭṭālakaṁ kārāpeyyātha, dhaññaṁ atiharāpeyyāthā”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Kiṁ tumhe, mahārāja, tadā hatthismiṁ sikkheyyātha, assasmiṁ sikkheyyātha, rathasmiṁ sikkheyyātha, dhanusmiṁ sikkheyyātha, tharusmiṁ sikkheyyāthā”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ sikkhitaṁ hotī”ti.
“Kissatthāyā”ti?
“Anāgatānaṁ, bhante, bhayānaṁ paṭibāhanatthāyā”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, atthi anāgataṁ bhayan”ti?
“Natthi, bhante”ti.
“Tumhe ca kho, mahārāja, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ bhayānaṁ paṭibāhanatthāya paṭiyādethā”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadā tvaṁ pipāsito bhaveyyāsi, tadā tvaṁ udapānaṁ khaṇāpeyyāsi, pokkharaṇiṁ khaṇāpeyyāsi, taḷākaṁ khaṇāpeyyāsi ‘pānīyaṁ pivissāmī’”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Kissatthāyā”ti?
“Anāgatānaṁ, bhante, pipāsānaṁ paṭibāhanatthāya paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Atthi pana, mahārāja, anāgatā pipāsā”ti?
“Natthi, bhante”ti.
“Tumhe kho, mahārāja, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ pipāsānaṁ paṭibāhanatthāya taṁ paṭiyādethā”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadā tvaṁ bubhukkhito bhaveyyāsi, tadā tvaṁ khettaṁ kasāpeyyāsi, sāliṁ vapāpeyyāsi ‘bhattaṁ bhuñjissāmī’”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Kissatthāyā”ti.
“Anāgatānaṁ, bhante, bubhukkhānaṁ paṭibāhanatthāyā”ti.
“Atthi pana, mahārāja, anāgatā bubhukkhā”ti?
“Natthi, bhante”ti.
“Tumhe kho, mahārāja, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ bubhukkhānaṁ paṭibāhanatthāya paṭiyādethā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Dukkhappahānavāyamapañho tatiyo.
PTS cs 3 The king said: ‘Do you (recluses), Nāgasena, strive after the removal of past sorrow?’
‘No.’
‘What then? Is it future sorrow you strive to remove?’
‘No.’
‘Present sorrow, then?’ PTS vp Pali 81
‘Not that either.’
‘Then if it be neither past, nor future, nor present sorrow that you strive to remove, whereunto, is it that you strive?’
‘What are you asking, O king? That this sorrow should cease and no other sorrow should arise—that is what we strive after.’
‘But, Nāgasena, is there (now) such a thing as future sorrow?’
‘No. I grant that.’
‘Then you are mighty clever people to strive after the removal of that which does not exist!’ PTS vp En 125
‘Has it ever happened to you, O king, that rival kings rose up against you as enemies and opponents?’
‘Yes, certainly.’
‘Then you set to work, I suppose, to have moats dug, and ramparts thrown up, and watch towers erected, and strongholds built, and stores of food collected ?’
‘Not at all. All that had been prepared beforehand.’
‘Or you had yourself trained in the management of war elephants, and in horsemanship, and in the use of the war chariot, and in archery and fencing?’
‘Not at all. I had learnt all that before.’
‘But why?’
‘With the object of warding off future danger.’
‘How so? Is there such a thing (now) as future danger?’
‘No. I must grant that.’
‘Then you kings are mighty clever people to trouble yourselves about the warding off of that which does not exist!’
‘Give me a further illustration.’
‘Tell me, O king. Is it when you are athirst that you set to work to have wells dug, or ponds hollowed out, or reservoirs formed, with the object of getting something to drink?’
‘Certainly not. All that has been prepared beforehand.’
‘But to what end?’
‘With the object of preventing future thirst.’
‘How so? Is there such a thing as future thirst?’ PTS vp En 126
‘No, Sir.’
‘So you are mighty clever people, O king, PTS vp Pali 82 to take all that trouble to prevent the future thirst which all the time does not exist!’
‘Give me a further illustration.’
[Then the Elder referred, as before, to the means people always took of warding against future hunger, and the king expressed his pleasure at the way in which the puzzle had been solved.]
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải ngài tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc quá khứ?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Vậy có phải ngài tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc vị lai?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Vậy có phải ngài tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc hiện tại?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Nếu ngài không tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc quá khứ, không tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc vị lai, không tinh tấn nhằm loại bỏ khổ thuộc hiện tại, vậy ngài tinh tấn nhằm mục đích gì?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, làm cách nào để cho khổ này diệt, và khổ khác không thể sanh lên? Chúng tôi tinh tấn nhằm mục đích này.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy (bây giờ) có khổ thuộc vị lai không?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài quả là quá sáng trí khi ngài tinh tấn nhằm loại bỏ các khổ không hiện hữu!”
“Tâu đại vương, vậy có những vị vua đối nghịch, những kẻ thù đối nghịch, những bạn bè đối nghịch chống đối lại ngài không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có.”
“Tâu đại vương, phải chăng khi ấy ngài mới bảo đào hào, mới bảo đắp lũy, mới bảo xây cổng thành, mới bảo làm vọng gác, mới bảo đem lại thóc?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Tâu đại vương, phải chăng khi ấy ngài mới rèn luyện về voi, mới rèn luyện về ngựa, mới rèn luyện về xe, mới rèn luyện về cung, mới rèn luyện về gươm?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Nhằm mục đích gì?”
“Thưa ngài, nhằm mục đích ngăn chặn các nỗi lo sợ thuộc vị lai.”
“Tâu đại vương, phải chăng (bây giờ) có nỗi lo sợ thuộc vị lai?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, đại vương quả là quá sáng trí khi ngài chuẩn bị nhằm mục đích ngăn chặn các nỗi lo sợ thuộc vị lai!”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào ngài bị khát thì khi ấy ngài mới bảo đào giếng nước, mới bảo đào ao nước, mới bảo đào hồ nước (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ uống nước’?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Nhằm mục đích gì?”
“Thưa ngài, được chuẩn bị nhằm mục đích ngăn chặn các sự khát nước còn chưa đến.”
“Tâu đại vương, phải chăng (bây giờ) có sự khát nước ở vị lai?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, đại vương quả là quá sáng trí khi ngài chuẩn bị việc ấy nhằm mục đích ngăn chặn các sự khát nước ở vị lai!”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào ngài thèm ăn thì khi ấy ngài mới bảo cày ruộng, mới bảo trồng lúa sāli (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng bữa ăn’?”
“Thưa ngài, không đúng. Việc ấy là được chuẩn bị trước.”
“Nhằm mục đích gì?”
“Thưa ngài, được chuẩn bị nhằm mục đích ngăn chặn các sự thèm ăn ở vị lai.”
“Tâu đại vương, phải chăng (bây giờ) có sự thèm ăn ở vị lai?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, đại vương quả là quá sáng trí khi ngài chuẩn bị việc ấy nhằm mục đích ngăn chặn các sự thèm ăn không hiện hữu ở vị lai!”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁ tumhe atītassa dukkhassa pahānāya vāyamathā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, anāgatassa dukkhassa pahānāya vāyamathā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana paccuppannassa dukkhassa pahānāya vāyamathā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Yadi tumhe na atītassa dukkhassa pahānāya vāyamatha, na anāgatassa dukkhassa pahānāya vāyamatha, na paccuppannassa dukkhassa pahānāya vāyamatha, atha kimatthāya vāyamathā”ti.
Thero āha—
“‘kinti, mahārāja, idañca dukkhaṁ nirujjheyya, aññañca dukkhaṁ nuppajjeyyā’ti etadatthāya vāyamāmā”ti.
“Atthi pana te, bhante nāgasena, anāgataṁ dukkhan”ti?
“Natthi, mahārājā”ti.
“Tumhe kho, bhante nāgasena, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ dukkhānaṁ pahānāya vāyamathā”ti?
“Atthi pana te, mahārāja, keci paṭirājāno paccatthikā paccāmittā paccupaṭṭhitā hontī”ti?
“Āma, bhante, atthī”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, tadā tumhe parikhaṁ khaṇāpeyyātha, pākāraṁ cināpeyyātha gopuraṁ kārāpeyyātha, aṭṭālakaṁ kārāpeyyātha, dhaññaṁ atiharāpeyyāthā”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Kiṁ tumhe, mahārāja, tadā hatthismiṁ sikkheyyātha, assasmiṁ sikkheyyātha, rathasmiṁ sikkheyyātha, dhanusmiṁ sikkheyyātha, tharusmiṁ sikkheyyāthā”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ sikkhitaṁ hotī”ti.
“Kissatthāyā”ti?
“Anāgatānaṁ, bhante, bhayānaṁ paṭibāhanatthāyā”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, atthi anāgataṁ bhayan”ti?
“Natthi, bhante”ti.
“Tumhe ca kho, mahārāja, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ bhayānaṁ paṭibāhanatthāya paṭiyādethā”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadā tvaṁ pipāsito bhaveyyāsi, tadā tvaṁ udapānaṁ khaṇāpeyyāsi, pokkharaṇiṁ khaṇāpeyyāsi, taḷākaṁ khaṇāpeyyāsi ‘pānīyaṁ pivissāmī’”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Kissatthāyā”ti?
“Anāgatānaṁ, bhante, pipāsānaṁ paṭibāhanatthāya paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Atthi pana, mahārāja, anāgatā pipāsā”ti?
“Natthi, bhante”ti.
“Tumhe kho, mahārāja, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ pipāsānaṁ paṭibāhanatthāya taṁ paṭiyādethā”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadā tvaṁ bubhukkhito bhaveyyāsi, tadā tvaṁ khettaṁ kasāpeyyāsi, sāliṁ vapāpeyyāsi ‘bhattaṁ bhuñjissāmī’”ti?
“Na hi, bhante, paṭikacceva taṁ paṭiyattaṁ hotī”ti.
“Kissatthāyā”ti.
“Anāgatānaṁ, bhante, bubhukkhānaṁ paṭibāhanatthāyā”ti.
“Atthi pana, mahārāja, anāgatā bubhukkhā”ti?
“Natthi, bhante”ti.
“Tumhe kho, mahārāja, atipaṇḍitā, ye tumhe asantānaṁ anāgatānaṁ bubhukkhānaṁ paṭibāhanatthāya paṭiyādethā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Dukkhappahānavāyamapañho tatiyo.