BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Người tại gia nào đạt đến phẩm vị A-la-hán, đối với vị này chỉ có hai lối đi không có lối khác: xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn; ngày ấy là không thể vượt qua.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu vị ấy, trong ngày hôm ấy, không có được thầy tuyên ngôn, hoặc thầy tế độ, hoặc y và bình bát, có phải vị A-la-hán ấy có thể tự mình xuất gia, hoặc có thể để cho ngày ấy trôi qua? Hoặc có vị nào khác, là A-la-hán, có thần thông, đi đến rồi cho vị ấy xuất gia? Hoặc có thể viên tịch Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, vị A-la-hán ấy không thể tự mình xuất gia, trong khi tự mình xuất gia thì phạm vào việc trộm cắp (hình tướng). Và không thể để cho ngày ấy trôi qua. Nếu có thể hoặc không thể có việc đi đến của vị A-la-hán khác, thì sẽ viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì bản thể an tịnh của vị A-la-hán là bị bỏ đi, bởi vì có sự lấy đi mạng sống của vị đã chứng đắc.”
“Tâu đại vương, hình tướng tại gia là không tương xứng. Khi hình tướng là không tương xứng, do tính chất yếu ớt của hình tướng, người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của phẩm vị A-la-hán, điều ấy là sự sai trái của hình tướng tại gia, tức là tính chất yếu ớt của hình tướng.
Tâu đại vương, giống như vật thực là vật hộ trì tuổi thọ, là vật duy trì mạng sống của tất cả chúng sanh, nhưng lại lấy đi mạng sống của người có bao tử không điều hòa, có sự hấp thụ trì trệ yếu đuối, vì không tiêu hóa được. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của vật thực, điều ấy là sự sai trái của bao tử, tức là tính chất yếu ớt của lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi hình tướng là không tương xứng, do tính chất yếu ớt của hình tướng, người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của phẩm vị A-la-hán, điều ấy là sự sai trái của hình tướng tại gia, tức là tính chất yếu ớt của hình tướng.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như cọng cỏ nhỏ nhoi khi bị tảng đá nặng đặt lên trên, thì bị dập nát, đổ xuống vì tính chất yếu ớt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán, vì hình tướng ấy không thể nâng đỡ phẩm vị A-la-hán, nên (phải) xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam không có sức mạnh, yếu đuối, có dòng dõi thấp kém, phước báu nhỏ nhoi, sau khi đạt được vương quốc to lớn khổng lồ, trong khoảnh khắc sẽ sụp đổ, tiêu hoại, thối lui, không thể duy trì vương quyền. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán, vì hình tướng ấy không thể nâng đỡ phẩm vị A-la-hán, nên (phải) xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về người tại gia chứng A-la-hán là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘yo gihī arahattaṁ patto, dve vāssa gatiyo bhavanti anaññā, tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Na so divaso sakkā atikkametun’ti.
Sace so, bhante nāgasena, tasmiṁ divase ācariyaṁ vā upajjhāyaṁ vā pattacīvaraṁ vā na labhetha, api nu kho so arahā sayaṁ vā pabbajeyya divasaṁ vā atikkameyya, añño koci arahā iddhimā āgantvā taṁ pabbājeyya vā parinibbāyeyya vā”ti?
“Na so, mahārāja, arahā sayaṁ pabbajeyya, sayaṁ pabbajanto theyyaṁ āpajjati, na ca divasaṁ atikkameyya, aññassa arahantassa āgamanaṁ bhaveyya vā na vā bhaveyya, tasmiṁyeva divase parinibbāyeyyā”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, arahattassa santabhāvo vijahito hoti, yena adhigatassa jīvitahāro bhavatī”ti.
“Visamaṁ, mahārāja, gihiliṅgaṁ, visame liṅge liṅgadubbalatāya arahattaṁ patto gihī tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Neso, mahārāja, doso arahattassa, gihiliṅgasseveso doso yadidaṁ liṅgadubbalatā.
Yathā, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ āyupālakaṁ jīvitarakkhakaṁ visamakoṭṭhassa mandadubbalagahaṇikassa avipākena jīvitaṁ harati.
Neso, mahārāja, doso bhojanassa, koṭṭhasseveso doso yadidaṁ aggidubbalatā.
Evameva kho, mahārāja, visame liṅge liṅgadubbalatāya arahattaṁ patto gihī tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Neso, mahārāja, doso arahattassa, gihiliṅgasseveso doso yadidaṁ liṅgadubbalatā.
Yathā vā pana, mahārāja, parittaṁ tiṇasalākaṁ upari garuke pāsāṇe ṭhapite dubbalatāya bhijjitvā patati;
evameva kho, mahārāja, arahattaṁ patto gihī tena liṅgena arahattaṁ dhāretuṁ asakkonto tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso abalo dubbalo nihīnajacco parittapuñño mahatimahārajjaṁ labhitvā khaṇena paripatati paridhaṁsati osakkati, na sakkoti issariyaṁ dhāretuṁ;
evameva kho, mahārāja, arahattaṁ patto gihī tena liṅgena arahattaṁ dhāretuṁ na sakkoti, tena kāraṇena tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Khīṇāsavabhāvapañho dutiyo.
PTS cs 7 ‘Venerable Nāgasena, your people say:
“Whosoever has attained, as a layman, to Arahatship, one of two conditions are possible to him, and no other—either that very day he enters the Order, or he dies away, for beyond that day he cannot last.”
PTS vp Pali 265 ‘Now if, Nāgasena, he could not, on that day, procure a teacher or preceptor, or a bowl and set of robes, would he then, being an Arahat, admit himself, or would he live over the day, or would some other Arahat suddenly appear by the power of Iddhi and admit him, or would he die away?’
‘He could not, O king, because he is an Arahat, admit himself. For any one admitting himself to PTS vp En 97 The Order is guilty of theft. And he could not last beyond that day. Whether another Arahat should happen, or not, to arrive, on that very day would he die away.’
‘Then, Nāgasena, by whatever means attained, the holy condition of Arahatship is thereby also lost, for destruction of life is involved in it.’
PTS cs 8 ‘It is the condition of laymanship which is at fault, O king. In that faulty condition, and by reason of the weakness of the condition itself, the layman who, as such, has attained to Arahatship must either, that very day, enter the Order or die away. That is not the fault of Arahatship, O king. It is laymanship that is at fault, through not being strong enough.
‘Just, O king, as food, that guards the growth and protects the life of all beings, will, through indigestion, take away the life of one whose stomach is unequal to it, whose internal fire is low and weak—just so if a layman attains Arahatship when in that condition unequal to it, then by reason of the weakness of the condition he must, that very day, either enter the Order or die away.
‘Or just, O king, as a tiny blade of grass when a heavy rock is placed upon it will, through its weakness, break off and give way—just so when a layman attains Arahatship, then, unable to support Arahatship in that condition, he must, that very day, either enter the Order or die away.
‘Or just, O king, as a poor weak fellow of low birth and little ability, if he came into possession of PTS vp En 98 a great and mighty kingdom, would be unable to support the dignity of it —just so if a layman attains to Arahatship, then is he unable, in that condition, to support it. PTS vp Pali 266 And that is the reason why he must, on that very day, either enter the Order or die away.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the lay Arahat.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Người tại gia nào đạt đến phẩm vị A-la-hán, đối với vị này chỉ có hai lối đi không có lối khác: xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn; ngày ấy là không thể vượt qua.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu vị ấy, trong ngày hôm ấy, không có được thầy tuyên ngôn, hoặc thầy tế độ, hoặc y và bình bát, có phải vị A-la-hán ấy có thể tự mình xuất gia, hoặc có thể để cho ngày ấy trôi qua? Hoặc có vị nào khác, là A-la-hán, có thần thông, đi đến rồi cho vị ấy xuất gia? Hoặc có thể viên tịch Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, vị A-la-hán ấy không thể tự mình xuất gia, trong khi tự mình xuất gia thì phạm vào việc trộm cắp (hình tướng). Và không thể để cho ngày ấy trôi qua. Nếu có thể hoặc không thể có việc đi đến của vị A-la-hán khác, thì sẽ viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì bản thể an tịnh của vị A-la-hán là bị bỏ đi, bởi vì có sự lấy đi mạng sống của vị đã chứng đắc.”
“Tâu đại vương, hình tướng tại gia là không tương xứng. Khi hình tướng là không tương xứng, do tính chất yếu ớt của hình tướng, người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của phẩm vị A-la-hán, điều ấy là sự sai trái của hình tướng tại gia, tức là tính chất yếu ớt của hình tướng.
Tâu đại vương, giống như vật thực là vật hộ trì tuổi thọ, là vật duy trì mạng sống của tất cả chúng sanh, nhưng lại lấy đi mạng sống của người có bao tử không điều hòa, có sự hấp thụ trì trệ yếu đuối, vì không tiêu hóa được. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của vật thực, điều ấy là sự sai trái của bao tử, tức là tính chất yếu ớt của lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi hình tướng là không tương xứng, do tính chất yếu ớt của hình tướng, người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của phẩm vị A-la-hán, điều ấy là sự sai trái của hình tướng tại gia, tức là tính chất yếu ớt của hình tướng.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như cọng cỏ nhỏ nhoi khi bị tảng đá nặng đặt lên trên, thì bị dập nát, đổ xuống vì tính chất yếu ớt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán, vì hình tướng ấy không thể nâng đỡ phẩm vị A-la-hán, nên (phải) xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam không có sức mạnh, yếu đuối, có dòng dõi thấp kém, phước báu nhỏ nhoi, sau khi đạt được vương quốc to lớn khổng lồ, trong khoảnh khắc sẽ sụp đổ, tiêu hoại, thối lui, không thể duy trì vương quyền. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán, vì hình tướng ấy không thể nâng đỡ phẩm vị A-la-hán, nên (phải) xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về người tại gia chứng A-la-hán là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘yo gihī arahattaṁ patto, dve vāssa gatiyo bhavanti anaññā, tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Na so divaso sakkā atikkametun’ti.
Sace so, bhante nāgasena, tasmiṁ divase ācariyaṁ vā upajjhāyaṁ vā pattacīvaraṁ vā na labhetha, api nu kho so arahā sayaṁ vā pabbajeyya divasaṁ vā atikkameyya, añño koci arahā iddhimā āgantvā taṁ pabbājeyya vā parinibbāyeyya vā”ti?
“Na so, mahārāja, arahā sayaṁ pabbajeyya, sayaṁ pabbajanto theyyaṁ āpajjati, na ca divasaṁ atikkameyya, aññassa arahantassa āgamanaṁ bhaveyya vā na vā bhaveyya, tasmiṁyeva divase parinibbāyeyyā”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, arahattassa santabhāvo vijahito hoti, yena adhigatassa jīvitahāro bhavatī”ti.
“Visamaṁ, mahārāja, gihiliṅgaṁ, visame liṅge liṅgadubbalatāya arahattaṁ patto gihī tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Neso, mahārāja, doso arahattassa, gihiliṅgasseveso doso yadidaṁ liṅgadubbalatā.
Yathā, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ āyupālakaṁ jīvitarakkhakaṁ visamakoṭṭhassa mandadubbalagahaṇikassa avipākena jīvitaṁ harati.
Neso, mahārāja, doso bhojanassa, koṭṭhasseveso doso yadidaṁ aggidubbalatā.
Evameva kho, mahārāja, visame liṅge liṅgadubbalatāya arahattaṁ patto gihī tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Neso, mahārāja, doso arahattassa, gihiliṅgasseveso doso yadidaṁ liṅgadubbalatā.
Yathā vā pana, mahārāja, parittaṁ tiṇasalākaṁ upari garuke pāsāṇe ṭhapite dubbalatāya bhijjitvā patati;
evameva kho, mahārāja, arahattaṁ patto gihī tena liṅgena arahattaṁ dhāretuṁ asakkonto tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso abalo dubbalo nihīnajacco parittapuñño mahatimahārajjaṁ labhitvā khaṇena paripatati paridhaṁsati osakkati, na sakkoti issariyaṁ dhāretuṁ;
evameva kho, mahārāja, arahattaṁ patto gihī tena liṅgena arahattaṁ dhāretuṁ na sakkoti, tena kāraṇena tasmiṁyeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Khīṇāsavabhāvapañho dutiyo.