BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, những người đã là những vị thầy ở thời quá khứ của các người thầy thuốc, tức là: Nārada, Dhammantarī, Aṅgīrasa, Kapila, Kaṇḍaraggi, Sāma, Atula, Pubbakaccāyana. Tất cả các vị thầy này cùng một lúc biết một cách trọn vẹn về tất cả các điều ấy là về sự phát sanh của bệnh, sự khởi đầu, bản chất, nguồn sanh khởi, cách chữa trị, việc cần làm, thành công hay không thành công (nghĩ rằng): ‘Ở cơ thể này chừng này thứ bệnh sẽ phát sanh,’ sau đó gom chung lại một mối rồi buộc lại sợi chỉ (đầu mối). Tất cả những vị này không phải là các bậc Toàn Tri. Trái lại, đức Thế Tôn, trong khi là đấng Toàn Tri, với trí tuệ của vị Phật biết được sự việc ở vị lai rằng: ‘Trong chừng này sự việc, sẽ phải quy định chừng này điều học,’ sau khi xác định tại sao Ngài đã không quy định điều học một cách toàn diện? Đến khi mỗi một sự việc đã được sanh khởi, tiếng xấu đã rõ rệt, sự sai trái đã lan rộng, đã đi xa, trong khi dân chúng phàn nàn, rồi vào từng thời điểm một Ngài đã quy định điều học cho các đệ tử?”
BJT 2“Tâu đại vương, đối với đức Như Lai, điều này đã được biết đến: ‘Vào lúc này, trong lúc những người này đang phàn nàn, một trăm năm mươi điều học có tính cách phụ trội sẽ phải được quy định.’ Tuy nhiên, đức Như Lai đã khởi ý như vầy:—Nếu Ta sẽ quy định một trăm năm mươi điều học có tính cách phụ trội vào một lúc, số đông người sẽ có sự hoảng sợ: ‘Ở đây, có nhiều việc cần phải gin giữ. Quả là việc khó khăn để xuất gia ở Giáo Pháp của Sa-môn Gotama.’ Thậm chí những người có ý định xuất gia cũng sẽ không xuất gia. Và họ sẽ không tin vào lời nói của Ta. Trong khi không tin tưởng, những người ấy sẽ đi đến chốn đọa đày. Đến khi mỗi một sự việc đã được sanh khởi, sau khi làm cho họ nhận thức nhờ vào sự thuyết giảng Giáo Pháp, khi sự sai trái đã rõ rệt, thì ta sẽ quy định điều học.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu đối với chư Phật! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường đối với chư Phật! Trí Toàn Tri của đức Như Lai lớn lao đến thế! Thưa ngài Nāgasena, điều này là như vậy, ý nghĩa này đã khéo được giải thích bởi đức Như Lai. Sau khi nghe rằng: ‘Ở đây, có nhiều việc cần phải gìn giữ,’ sự hoảng sợ có thể sanh khởi ở chúng sanh, thậm chí không có đến một người có thể xuất gia ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự quy định điều học là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ye te ahesuṁ tikicchakānaṁ pubbakā ācariyā seyyathidaṁ—
nārado dhammantarī aṅgiraso kapilo kaṇḍaraggi sāmo atulo pubbakaccāyano, sabbepete ācariyā sakiṁyeva roguppattiñca nidānañca sabhāvañca samuṭṭhānañca tikicchañca kiriyañca siddhāsiddhañca sabbaṁ taṁ niravasesaṁ jānitvā ‘imasmiṁ kāye ettakā rogā uppajjissantī’ti ekappahārena kalāpaggāhaṁ karitvā suttaṁ bandhiṁsu, asabbaññuno ete sabbe, kissa pana tathāgato sabbaññū samāno anāgataṁ kiriyaṁ buddhañāṇena jānitvā ‘ettake nāma vatthusmiṁ ettakaṁ nāma sikkhāpadaṁ paññapetabbaṁ bhavissatī’ti paricchinditvā anavasesato sikkhāpadaṁ na paññapesi, uppannuppanne vatthusmiṁ ayase pākaṭe dose vitthārike puthugate ujjhāyantesu manussesu tasmiṁ tasmiṁ kāle sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapesī”ti?
“Ñātametaṁ, mahārāja, tathāgatassa ‘imasmiṁ samaye imesu manussesu sādhikaṁ diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ paññapetabbaṁ bhavissatī’ti, api ca tathāgatassa evaṁ ahosi ‘sace kho ahaṁ sādhikaṁ diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ ekappahāraṁ paññapessāmi, mahājano santāsamāpajjissati “bahukaṁ idha rakkhitabbaṁ, dukkaraṁ vata bho samaṇassa gotamassa sāsane pabbajitun”ti, pabbajitukāmāpi na pabbajissanti, vacanañca me na saddahissanti, asaddahantā te manussā apāyagāmino bhavissanti uppannuppanne vatthusmiṁ dhammadesanāya viññāpetvā pākaṭe dose sikkhāpadaṁ paññapessāmī’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, abbhutaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, yāva mahantaṁ tathāgatassa sabbaññutañāṇaṁ, evametaṁ, bhante nāgasena, suniddiṭṭho eso attho tathāgatena, ‘bahukaṁ idha sikkhitabban’ti sutvā sattānaṁ santāso uppajjeyya, ekopi jinasāsane na pabbajeyya, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Anavasesasikkhāpadapañho aṭṭhamo.
PTS cs 20 ‘Venerable Nāgasena, those who were teachers of the doctors in times gone by—Nārada, and Dhammantari, and Aṅgīrasa, and Kapila, and Kaṇḍaraggisāma, and Atula, and Pubba Kaccāyana —all these teachers knowing thoroughly, and of themselves, and without any omission, the rise of disease and its cause and nature and progress and cure and treatment and management —each of them composed his treatise en bloc, taking time by the forelock, and pointing out that in such and such a body such and such a disease would arise. Now no one of these PTS vp En 110 was omniscient. Why then did not the Tathāgata, who was omniscient, and who knew by his insight of a Buddha what would happen in the future, determining in advance that for such and such an occasion such and such a rule would be required, lay down the whole code of rules at once; instead of laying them down to his disciples from time to time as each occasion arose, when the disgrace (of the wrong act) had been already noised abroad, when the evil was already wide spread and grown great, when the people were already filled with indignation ?’
PTS cs 21 ‘The Tathāgata, O king, knew very well that in fulness of time the whole of the hundred and fifty Rules would have to be laid down to those men. But the Tathāgata, O king, thought thus: “If I were to lay down the whole of the hundred and fifty Rules at once the people would be filled with fear PTS vp Pali 273 , those of them who were willing to enter the Order would refrain from doing so, saying, ‘How much is there here to be observed! how difficult a thing is it to enter religion according to the system of the Samaṇa Gotama’—they would not trust my words, and through their want of faith they would be liable to rebirth in states of woe. As occasion arises therefore, illustrating it with a religious discourse, will I lay down, when the evil has become manifest, each Rule.”’
‘A wonderful thing is it in the Buddhas, Nāgasena, and a most marvellous that the omniscience of the Tathāgata should be so great. That is just so, PTS vp En 111 venerable Nāgasena. This matter was well understood by the Tathāgata—how that hearing that so much was to be observed, men would have been so filled with fear that not a single one would have entered religion according to the system of the Conquerors. That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the method in which the Rules were laid down.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, những người đã là những vị thầy ở thời quá khứ của các người thầy thuốc, tức là: Nārada, Dhammantarī, Aṅgīrasa, Kapila, Kaṇḍaraggi, Sāma, Atula, Pubbakaccāyana. Tất cả các vị thầy này cùng một lúc biết một cách trọn vẹn về tất cả các điều ấy là về sự phát sanh của bệnh, sự khởi đầu, bản chất, nguồn sanh khởi, cách chữa trị, việc cần làm, thành công hay không thành công (nghĩ rằng): ‘Ở cơ thể này chừng này thứ bệnh sẽ phát sanh,’ sau đó gom chung lại một mối rồi buộc lại sợi chỉ (đầu mối). Tất cả những vị này không phải là các bậc Toàn Tri. Trái lại, đức Thế Tôn, trong khi là đấng Toàn Tri, với trí tuệ của vị Phật biết được sự việc ở vị lai rằng: ‘Trong chừng này sự việc, sẽ phải quy định chừng này điều học,’ sau khi xác định tại sao Ngài đã không quy định điều học một cách toàn diện? Đến khi mỗi một sự việc đã được sanh khởi, tiếng xấu đã rõ rệt, sự sai trái đã lan rộng, đã đi xa, trong khi dân chúng phàn nàn, rồi vào từng thời điểm một Ngài đã quy định điều học cho các đệ tử?”
BJT 2“Tâu đại vương, đối với đức Như Lai, điều này đã được biết đến: ‘Vào lúc này, trong lúc những người này đang phàn nàn, một trăm năm mươi điều học có tính cách phụ trội sẽ phải được quy định.’ Tuy nhiên, đức Như Lai đã khởi ý như vầy:—Nếu Ta sẽ quy định một trăm năm mươi điều học có tính cách phụ trội vào một lúc, số đông người sẽ có sự hoảng sợ: ‘Ở đây, có nhiều việc cần phải gin giữ. Quả là việc khó khăn để xuất gia ở Giáo Pháp của Sa-môn Gotama.’ Thậm chí những người có ý định xuất gia cũng sẽ không xuất gia. Và họ sẽ không tin vào lời nói của Ta. Trong khi không tin tưởng, những người ấy sẽ đi đến chốn đọa đày. Đến khi mỗi một sự việc đã được sanh khởi, sau khi làm cho họ nhận thức nhờ vào sự thuyết giảng Giáo Pháp, khi sự sai trái đã rõ rệt, thì ta sẽ quy định điều học.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu đối với chư Phật! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường đối với chư Phật! Trí Toàn Tri của đức Như Lai lớn lao đến thế! Thưa ngài Nāgasena, điều này là như vậy, ý nghĩa này đã khéo được giải thích bởi đức Như Lai. Sau khi nghe rằng: ‘Ở đây, có nhiều việc cần phải gìn giữ,’ sự hoảng sợ có thể sanh khởi ở chúng sanh, thậm chí không có đến một người có thể xuất gia ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự quy định điều học là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ye te ahesuṁ tikicchakānaṁ pubbakā ācariyā seyyathidaṁ—
nārado dhammantarī aṅgiraso kapilo kaṇḍaraggi sāmo atulo pubbakaccāyano, sabbepete ācariyā sakiṁyeva roguppattiñca nidānañca sabhāvañca samuṭṭhānañca tikicchañca kiriyañca siddhāsiddhañca sabbaṁ taṁ niravasesaṁ jānitvā ‘imasmiṁ kāye ettakā rogā uppajjissantī’ti ekappahārena kalāpaggāhaṁ karitvā suttaṁ bandhiṁsu, asabbaññuno ete sabbe, kissa pana tathāgato sabbaññū samāno anāgataṁ kiriyaṁ buddhañāṇena jānitvā ‘ettake nāma vatthusmiṁ ettakaṁ nāma sikkhāpadaṁ paññapetabbaṁ bhavissatī’ti paricchinditvā anavasesato sikkhāpadaṁ na paññapesi, uppannuppanne vatthusmiṁ ayase pākaṭe dose vitthārike puthugate ujjhāyantesu manussesu tasmiṁ tasmiṁ kāle sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapesī”ti?
“Ñātametaṁ, mahārāja, tathāgatassa ‘imasmiṁ samaye imesu manussesu sādhikaṁ diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ paññapetabbaṁ bhavissatī’ti, api ca tathāgatassa evaṁ ahosi ‘sace kho ahaṁ sādhikaṁ diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ ekappahāraṁ paññapessāmi, mahājano santāsamāpajjissati “bahukaṁ idha rakkhitabbaṁ, dukkaraṁ vata bho samaṇassa gotamassa sāsane pabbajitun”ti, pabbajitukāmāpi na pabbajissanti, vacanañca me na saddahissanti, asaddahantā te manussā apāyagāmino bhavissanti uppannuppanne vatthusmiṁ dhammadesanāya viññāpetvā pākaṭe dose sikkhāpadaṁ paññapessāmī’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, abbhutaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, yāva mahantaṁ tathāgatassa sabbaññutañāṇaṁ, evametaṁ, bhante nāgasena, suniddiṭṭho eso attho tathāgatena, ‘bahukaṁ idha sikkhitabban’ti sutvā sattānaṁ santāso uppajjeyya, ekopi jinasāsane na pabbajeyya, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Anavasesasikkhāpadapañho aṭṭhamo.