BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của vị Sakka nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như vị Sakka đạt được sự an lạc toàn diện. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thích thú với sự an lạc toàn diện của cuộc sống tách biệt. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của vị Sakka nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vị Sakka sau khi nhìn thấy chư Thiên thì tiếp đón và tạo ra niềm vui (cho họ). Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên tiếp đón cái tâm ý không trì trệ, không thụ động, được an tịnh ở các thiện pháp, nên tạo ra niềm vui, nên khơi dậy, nên gắng sức, nên nỗ lực. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của vị Sakka nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, sự bất mãn không sanh khởi ở vị Sakka. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, ở căn nhà trống vắng, không nên làm sanh khởi sự bất mãn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của vị Sakka nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Subhūti nói đến:
‘Bạch đấng Đại Hùng, kể từ khi con đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ngài, con biết chắc chắn là không có ý nghĩ nào có liên hệ đến dục lạc đã được sanh khởi.’”
Câu hỏi về tính chất của vị Sakka là thứ chín.
“Bhante nāgasena, ‘sakkassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, sakko ekantasukhasamappito;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ekantapavivekasukhābhiratena bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, sakkassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, sakko deve disvā paggaṇhāti, hāsamabhijaneti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kusalesu dhammesu alīnamatanditaṁ santaṁ mānasaṁ paggahetabbaṁ, hāsamabhijanetabbaṁ, uṭṭhahitabbaṁ ghaṭitabbaṁ vāyamitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, sakkassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, sakkassa anabhirati nuppajjati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena suññāgāre anabhirati na uppādetabbā.
Idaṁ, mahārāja, sakkassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena subhūtinā—
‘Sāsane te mahāvīra,
yato pabbajito ahaṁ;
Nābhijānāmi uppannaṁ,
mānasaṁ kāmasaṁhitan’”ti.
Sakkaṅgapañho navamo.
PTS cs 43 ‘Venerable Nāgasena, the three qualities of Sakka (the king of the gods) which you say he ought to take, which are they?’
‘Just, O king, as Sakka enjoys perfect bliss; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, rejoice in the perfect bliss of retirement. This, O king, is the first quality of Sakka he ought to have.
PTS cs 44 ‘And again, O king, as when Sakka when he sees his gods around him keeps them in his favour, fills them with joy; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, keep his mind detached, alert, and tranquil, should make joy spring up within him, should rouse himself, exert himself, be full of zeal. PTS vp Pali 391 This, O king is the second quality of Sakka he ought to have. PTS vp En 323
PTS cs 45 ‘And again, O king, as Sakka feels no discontent; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, never allow himself to become discontented with solitude. This, O king, is the third quality of Sakka he ought to have. For it was said, O king, by Subhūti, the Elder:
“Since I, great hero, have renounced the world,
According to the doctrine that you teach,
I will not grant that any thought of lust
Or craving care has risen in my breast.”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của vị Sakka nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như vị Sakka đạt được sự an lạc toàn diện. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thích thú với sự an lạc toàn diện của cuộc sống tách biệt. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của vị Sakka nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vị Sakka sau khi nhìn thấy chư Thiên thì tiếp đón và tạo ra niềm vui (cho họ). Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên tiếp đón cái tâm ý không trì trệ, không thụ động, được an tịnh ở các thiện pháp, nên tạo ra niềm vui, nên khơi dậy, nên gắng sức, nên nỗ lực. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của vị Sakka nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, sự bất mãn không sanh khởi ở vị Sakka. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, ở căn nhà trống vắng, không nên làm sanh khởi sự bất mãn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của vị Sakka nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Subhūti nói đến:
‘Bạch đấng Đại Hùng, kể từ khi con đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ngài, con biết chắc chắn là không có ý nghĩ nào có liên hệ đến dục lạc đã được sanh khởi.’”
Câu hỏi về tính chất của vị Sakka là thứ chín.
“Bhante nāgasena, ‘sakkassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, sakko ekantasukhasamappito;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ekantapavivekasukhābhiratena bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, sakkassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, sakko deve disvā paggaṇhāti, hāsamabhijaneti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kusalesu dhammesu alīnamatanditaṁ santaṁ mānasaṁ paggahetabbaṁ, hāsamabhijanetabbaṁ, uṭṭhahitabbaṁ ghaṭitabbaṁ vāyamitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, sakkassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, sakkassa anabhirati nuppajjati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena suññāgāre anabhirati na uppādetabbā.
Idaṁ, mahārāja, sakkassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena subhūtinā—
‘Sāsane te mahāvīra,
yato pabbajito ahaṁ;
Nābhijānāmi uppannaṁ,
mānasaṁ kāmasaṁhitan’”ti.
Sakkaṅgapañho navamo.