TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
“Loài sư tử, và loài ngỗng đỏ, loài cò, loài bồ câu nhà,
loài chim cú, và loài chim gõ kiến, loài dơi, và loài đỉa,
loài rắn, và loài trăn nữa, vì thế phẩm được đặt tên.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài nhện đường nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài nhện đường sau khi thực hiện tấm che bằng màng lưới nhện ở đường lộ, nếu ở tại nơi ấy có con sâu, hoặc con ruồi, hoặc con bọ rầy bị vướng vào mạng lưới, thì nó tóm lấy con vật ấy và ăn ngấu nghiến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi thực hiện tấm che bằng màng lưới của sự thiết lập niệm ở sáu cánh cửa, nếu ở tại nơi ấy có những con ruồi phiền não bị bắt giữ, thì nên bị tiêu diệt ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài nhện đường nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Anuruddha nói đến:
‘Nên kiểm soát tâm ở tại sáu cánh cửa có sự thiết lập niệm cao quý tối thượng, nếu các phiền não bị vướng vào ở nơi ấy, chúng nên bị tiêu diệt bởi vị hành minh sát.’”
Câu hỏi về tính chất của loài nhện là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, ‘panthamakkaṭakassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, panthamakkaṭako panthe makkaṭajālavitānaṁ katvā yadi tattha jālake laggati kimi vā makkhikā vā paṭaṅgo vā, taṁ gahetvā bhakkhayati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena chasu dvāresu satipaṭṭhānajālavitānaṁ katvā yadi tattha kilesamakkhikā bajjhanti, tattheva ghātetabbā.
Idaṁ, mahārāja, panthamakkaṭakassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena anuruddhena—
‘Cittaṁ niyame chasu dvāresu,
Satipaṭṭhānavaruttame;
Kilesā tattha laggā ce,
Hantabbā te vipassinā’”ti.
Panthamakkaṭakaṅgapañho paṭhamo.
PTS vp En 351 PTS cs 1 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the road spider you say he ought to have, which is it?’
‘Just, O king, as the road spider weaves the curtain of its net on the road, and whatsoever is caught therein, whether worm, or fly, or beetle, that does he catch and eat; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, spread the curtain of the net of self-possession over the six doors (of his six senses), and if any of the flies of evil are caught therein, there should he seize them. This, O king, is the quality of the road spider he ought to have. For it was said, O king, by Anuruddha, the Elder:
“His heart should he shut in, at its six doors,
By self-possession, best and chief of gifts,
Should any evil thoughts be caught within,
Them by the sword of insight should he slay.”’
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
“Loài sư tử, và loài ngỗng đỏ, loài cò, loài bồ câu nhà,
loài chim cú, và loài chim gõ kiến, loài dơi, và loài đỉa,
loài rắn, và loài trăn nữa, vì thế phẩm được đặt tên.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài nhện đường nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài nhện đường sau khi thực hiện tấm che bằng màng lưới nhện ở đường lộ, nếu ở tại nơi ấy có con sâu, hoặc con ruồi, hoặc con bọ rầy bị vướng vào mạng lưới, thì nó tóm lấy con vật ấy và ăn ngấu nghiến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi thực hiện tấm che bằng màng lưới của sự thiết lập niệm ở sáu cánh cửa, nếu ở tại nơi ấy có những con ruồi phiền não bị bắt giữ, thì nên bị tiêu diệt ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài nhện đường nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Anuruddha nói đến:
‘Nên kiểm soát tâm ở tại sáu cánh cửa có sự thiết lập niệm cao quý tối thượng, nếu các phiền não bị vướng vào ở nơi ấy, chúng nên bị tiêu diệt bởi vị hành minh sát.’”
Câu hỏi về tính chất của loài nhện là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, ‘panthamakkaṭakassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, panthamakkaṭako panthe makkaṭajālavitānaṁ katvā yadi tattha jālake laggati kimi vā makkhikā vā paṭaṅgo vā, taṁ gahetvā bhakkhayati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena chasu dvāresu satipaṭṭhānajālavitānaṁ katvā yadi tattha kilesamakkhikā bajjhanti, tattheva ghātetabbā.
Idaṁ, mahārāja, panthamakkaṭakassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena anuruddhena—
‘Cittaṁ niyame chasu dvāresu,
Satipaṭṭhānavaruttame;
Kilesā tattha laggā ce,
Hantabbā te vipassinā’”ti.
Panthamakkaṭakaṅgapañho paṭhamo.