BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Bốn tính chất của người thợ săn nên được hành trì,’ bốn tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người thợ săn thì ít ngủ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên ít ngủ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của người thợ săn nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn thì trói buộc tâm chỉ ở các con thú. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên trói buộc tâm chỉ ở các đối tượng (của đề mục thiền). Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của người thợ săn nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn biết thời điểm của công việc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha nên biết thời điểm của việc thiền tịnh: ‘Giờ này là của thiền tịnh, giờ này là của việc xuất ly.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của người thợ săn nên được hành trì.
BJT 4Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn sau khi nhìn thấy con thú thì sanh khởi sự vui mừng rằng: ‘Ta sẽ đạt được con này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha nên thích thú với các đối tượng (của đề mục thiền), nên sanh khởi sự vui mừng rằng: ‘Ta sẽ chứng đắc sự thành đạt hơn nữa.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ tư của người thợ săn nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Mogharāja nói đến:
‘Sau khi đạt được các đối tượng (của đề mục thiền), vị tỳ khưu có bản tánh cương quyết nên sanh khởi sự vui mừng hơn nữa rằng: ‘Ta sẽ chứng đắc hơn nữa.’”
Câu hỏi về tính chất của người thợ săn là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ‘māgavikassa cattāri aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni cattāri aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, māgaviko appamiddho hoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena appamiddhena bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, māgaviko migesuyeva cittaṁ upanibandhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ārammaṇesuyeva cittaṁ upanibandhitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, māgaviko kālaṁ kammassa jānāti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paṭisallānassa kālo jānitabbo ‘ayaṁ kālo paṭisallānassa, ayaṁ kālo nikkhamanāyā’ti.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, māgaviko migaṁ disvā hāsamabhijaneti ‘imaṁ lacchāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ārammaṇe abhiramitabbaṁ, hāsamabhijanetabbaṁ ‘uttariṁ visesamadhigacchissāmī’ti.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa catutthaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena mogharājena—
‘Ārammaṇe labhitvāna,
Pahitattena bhikkhunā;
Bhiyyo hāso janetabbo,
Adhigacchissāmi uttarin’”ti.
Māgavikaṅgapañho aṭṭhamo.
PTS cs 20 PTS vp Pali 412 ‘Venerable Nāgasena, those four qualities of the hunter you say he ought to have, which are they?’
‘Just, O king, as the hunter is indefatigable, so also, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, be indefatigable. This, O king, is the first quality of the hunter he ought to have.
PTS cs 21 ‘And again, O king, just as the hunter keeps his attention fixed on the deer; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, keep his PTS vp En 359 attention fixed on the particular object which is the subject of his thought. This, O king, is the second quality of the hunter he ought to have.
PTS cs 22 ‘And again, O king, just as the hunter knows the right time for his work; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, know the right time for retirement, saying to himself: “Now is the right time to retire. Now is the right time to come out of retirement.” This, O king, is the third quality of the hunter he ought to have.
PTS cs 23 ‘And again, O king, just as the hunter on catching sight of a deer experiences joy at the thought: “Him shall I get!” just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, rejoice at the sight of an object for contemplation, and experience joy at the thought: “Thereby shall I grasp the specific idea of which I am in search.” This, O king, is the fourth quality of the hunter he ought to have. For it was said, O king, by Mogharāja, the Elder: PTS vp En 360
“The recluse who, with mind on Nirvāṇa bent,
Has acquired an object his thoughts to guide,
Should be filled with exceeding joy at the hope:
’By this my uttermost aim shall I gain.’”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Bốn tính chất của người thợ săn nên được hành trì,’ bốn tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người thợ săn thì ít ngủ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên ít ngủ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của người thợ săn nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn thì trói buộc tâm chỉ ở các con thú. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên trói buộc tâm chỉ ở các đối tượng (của đề mục thiền). Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của người thợ săn nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn biết thời điểm của công việc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha nên biết thời điểm của việc thiền tịnh: ‘Giờ này là của thiền tịnh, giờ này là của việc xuất ly.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của người thợ săn nên được hành trì.
BJT 4Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn sau khi nhìn thấy con thú thì sanh khởi sự vui mừng rằng: ‘Ta sẽ đạt được con này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha nên thích thú với các đối tượng (của đề mục thiền), nên sanh khởi sự vui mừng rằng: ‘Ta sẽ chứng đắc sự thành đạt hơn nữa.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ tư của người thợ săn nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Mogharāja nói đến:
‘Sau khi đạt được các đối tượng (của đề mục thiền), vị tỳ khưu có bản tánh cương quyết nên sanh khởi sự vui mừng hơn nữa rằng: ‘Ta sẽ chứng đắc hơn nữa.’”
Câu hỏi về tính chất của người thợ săn là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ‘māgavikassa cattāri aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni cattāri aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, māgaviko appamiddho hoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena appamiddhena bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, māgaviko migesuyeva cittaṁ upanibandhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ārammaṇesuyeva cittaṁ upanibandhitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, māgaviko kālaṁ kammassa jānāti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paṭisallānassa kālo jānitabbo ‘ayaṁ kālo paṭisallānassa, ayaṁ kālo nikkhamanāyā’ti.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, māgaviko migaṁ disvā hāsamabhijaneti ‘imaṁ lacchāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ārammaṇe abhiramitabbaṁ, hāsamabhijanetabbaṁ ‘uttariṁ visesamadhigacchissāmī’ti.
Idaṁ, mahārāja, māgavikassa catutthaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena mogharājena—
‘Ārammaṇe labhitvāna,
Pahitattena bhikkhunā;
Bhiyyo hāso janetabbo,
Adhigacchissāmi uttarin’”ti.
Māgavikaṅgapañho aṭṭhamo.