BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Bốn tính chất của người cung thủ nên được hành trì,’ bốn tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người cung thủ, trong khi bắn những mũi tên, thì thiết lập vững chắc hai bàn chân ở trái đất, giữ đầu gối ngay thẳng, đặt bao tên ở thắt lưng, kềm cứng thân hình, nâng hai bàn tay lên ở chỗ tiếp xúc, kìm chặt nắm tay, làm cho các ngón tay không có lỗ hổng, nâng cổ lên, khép lại mắt và miệng, ngắm thẳng mục tiêu, làm sanh khởi niềm vui rằng: ‘Ta sẽ xuyên thủng.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thiết lập hai bàn chân tinh tấn ở trái đất là giới, nên giữ sự kham nhẫn và khoan dung được ngay thẳng, nên đặt tâm ở sự phòng hộ, nên đưa bản thân vào sự thu thúc và sự kềm chế, nên kìm chặt ước muốn và sự say đắm, nên làm cho tâm không có lỗ hổng ở sự tác ý đúng đường lối, nên nâng sự tinh tấn lên, nên khép lại sáu cánh cửa (giác quan), nên thiết lập niệm, nên làm sanh khởi niềm vui rằng: ‘Ta sẽ xuyên thủng tất cả phiền não bằng mũi tên trí tuệ.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của người cung thủ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người cung thủ mang theo vật uốn thẳng để làm ngay thẳng cây tên bị cong, bị vẹo, bị quẹo. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên mang theo vật uốn thẳng là sự thiết lập niệm ở thân này để làm ngay thẳng cái tâm bị cong, bị vẹo, bị quẹo. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của người cung thủ nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người cung thủ chuyên chú ở mục tiêu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở thân này. Tâu đại vương, vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở thân này như thế nào? Nên chuyên chú là vô thường, là cơn bệnh … (như trên) … là ghẻ, là mụt nhọt, là tai ương, là tật nguyền, là cái khác, là tiêu hoại, là tai họa, là bất hạnh, là sợ hãi, là nguy hiểm, là thay đổi, là mảnh mai, là không bền, là không nơi nương tựa, là không nơi trú ẩn, là không nơi nương nhờ, là trạng thái không có nơi nương nhờ, là rỗng không, là trống không, là bất lợi, là không có lõi, là gốc gác của tai ương, là kẻ giết hại, là có sự rò rỉ, là bị tạo tác, là có bản chất sanh ra, là có bản chất già, là có bản chất bệnh, là có bản chất chết, là có bản chất sầu muộn, là có bản chất than vãn, là có bản chất thất vọng, là có bản chất phiền não. Tâu đại vương, vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở thân này như thế. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của người cung thủ nên được hành trì.
BJT 4Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn chuyên chú sáng chiều. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở đối tượng (của đề mục thiền) sáng chiều. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ tư của người thợ săn nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp nói đến:
‘Giống như người cung thủ chuyên chú sáng chiều, trong khi không bê trễ việc chuyên chú, đạt được bữa ăn và tiền lương.
Tương tợ y như thế, người con trai của đức Phật thực hành sự chuyên chú ở thân, trong khi không bê trễ việc chuyên chú ở thân, chứng đắc phẩm vị A-la-hán.’”
Câu hỏi về tính chất của người cung thủ là thứ bảy.
Phẩm chum nước là phẩm thứ bảy.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
“Chum nước, và sắt đen, cái lọng che, thửa ruộng, và thuốc giải độc, với vật thực, và người cung thủ, đã được các bậc hiểu biết nói đến.”
CÂU HỎI GIẢNG VỀ CÁC VÍ DỤ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
“Bhante nāgasena, ‘issāsassa cattāri aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni cattāri aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, issāso sare pātayanto ubho pāde pathaviyaṁ daḷhaṁ patiṭṭhāpeti, jaṇṇuavekallaṁ karoti, sarakalāpaṁ kaṭisandhimhi ṭhapeti, kāyaṁ upatthaddhaṁ karoti, dve hatthe sandhiṭṭhānaṁ āropeti, muṭṭhiṁ pīḷayati, aṅguliyo nirantaraṁ karoti, gīvaṁ paggaṇhāti, cakkhūni mukhañca pidahati, nimittaṁ ujuṁ karoti, hāsamuppādeti ‘vijjhissāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sīlapathaviyaṁ vīriyapāde patiṭṭhāpetabbaṁ, khantisoraccaṁ avekallaṁ kātabbaṁ, saṁvare cittaṁ ṭhapetabbaṁ, saṁyamaniyame attā upanetabbo, icchā mucchā pīḷayitabbā, yoniso manasikāre cittaṁ nirantaraṁ kātabbaṁ, vīriyaṁ paggahetabbaṁ, cha dvārā pidahitabbā, sati upaṭṭhapetabbā, hāsamuppādetabbaṁ ‘sabbakilese ñāṇanārācena vijjhissāmī’ti.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, issāso āḷakaṁ pariharati vaṅkajimhakuṭilanārācassa ujukaraṇāya;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye satipaṭṭhānaāḷakaṁ pariharitabbaṁ vaṅkajimhakuṭilacittassa ujukaraṇāya.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, issāso lakkhe upāseti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye upāsitabbaṁ.
Kathaṁ, mahārāja yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye upāsitabbaṁ?
Aniccato upāsitabbaṁ, dukkhato upāsitabbaṁ, anattato upāsitabbaṁ, rogato …pe…
gaṇḍato …
sallato …
aghato …
ābādhato …
parato …
palokato …
ītito …
upaddavato …
bhayato …
upasaggato …
calato …
pabhaṅguto …
addhuvato …
atāṇato …
aleṇato …
asaraṇato …
rittato …
tucchato …
suññato …
ādīnavato …
vipariṇāmadhammato …
asārato …
aghamūlato …
vadhakato …
vibhavato …
sāsavato …
saṅkhatato …
mārāmisato …
jātidhammato …
jarādhammato …
byādhidhammato …
maraṇadhammato …
sokadhammato …
paridevadhammato …
upāyāsadhammato …
saṅkilesadhammato …
evaṁ kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye upāsitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, issāso sāyaṁ pātaṁ upāsati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sāyaṁ pātaṁ ārammaṇe upāsitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa catutthaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Yathā issāsako nāma,
sāyaṁ pātaṁ upāsati;
Upāsanaṁ ariñcanto,
labhate bhattavetanaṁ.
Tatheva buddhaputtopi,
Karoti kāyupāsanaṁ;
Kāyupāsanaṁ ariñcanto,
Arahattamadhigacchatī’”ti.
Issāsaṅgapañho sattamo.
Kumbhavaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Kumbho ca kāḷāyaso ca,
chattaṁ khettañca agado;
Bhojanena ca issāso,
vuttaṁ dāni vidūhīti.
Opammakathāpañho niṭṭhito.
PTS cs 15 PTS vp Pali 418 ‘Venerable Nāgasena, those four qualities of the archer you say he ought to take, which are they?’
Just, O king, as the archer, when discharging PTS vp En 370 his arrows, plants both his feet firmly on the ground, keeps his knees straight, hangs his quiver against the narrow part of his waist, keeps his whole body steady, places both his hands firmly on the point of junction (of the arrow on the bow), closes his fists, leaves no openings between his fingers, stretches out his neck, shuts his mouth and one eye, and takes aim in joy at the thought: “I shall hit it ;” just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, plant firmly the feet of his zeal on the basis of righteousness, keep intact his kindness and tenderness of heart, fix his mind on subjugation of the senses, keep himself steady by self-restraint and performance of duty, suppress excitement and sense of faintness, by continual thoughtfulness let no openings remain in his mind, reach forward in zeal, shut the six doors (of the five senses and the mind), and continue mindful and thoughtful in joy at the thought: “By the javelin of my knowledge will I slay all my evil dispositions.” This, O king, is the first of the qualities of the archer he ought to have.
PTS cs 16 ‘And again, O king, as the archer carries a vice for straightening out bent and crooked and PTS vp En 371 uneven arrows; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, carry about with him, so long as he is in the body, the vice of mindfulness and thoughtfulness, wherewith he may straighten out any crooked and bent and shifty ideas. This, O king, is the second of the qualities of the archer he ought to have.
PTS cs 17 ‘And again, O king, as the archer practises at a target; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, practise, so long as he is in the body. And how, O king, should he practise? He should practise himself in the idea of the impermanence of all things, of the sorrow inherent in individuality, in the absence in any thing or creature of any abiding principle (any soul); in the ideas of the diseases, sores, pains, aches, and ailments of the body that follow in the train of the necessary conditions of individuality; in the ideas of its dependence on others, and of its certain disintegration ; in the ideas of the calamities, dangers, fears, and misfortunes to which it is subject; of its instability under the changing conditions of life; of its liability to dissolution, its want of firmness, its being no true place of refuge, no cave of security, no home of protection, no right object of trust; of its vanity, emptiness, danger, and insubstantiality PTS vp Pali 419 ; of its being the source of pains and subject to PTS vp En 372 punishments and full of impurity, a mongrel compound of conditions and qualities that have no coherence; of its being the food alike of evil and of the Evil One ; of its inherent liability to rebirths, old age, disease, and death, to griefs, lamentations, despair; and of the corruption of the cravings and delusions that are never absent from it. This, O king, is the third of the qualities of the archer he ought to have.
PTS cs 18 ‘And again, O king, just as the archer practises early and late; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, practise meditation early and late. For it was said, O king, by Sāriputta, the Elder, the Commander of the Faith:
“Early and late the true archer will practise,
’Tis only by never neglecting his art,
That he earns the reward and the wage of his skill.
So the sons of the Buddha, too, practise their art.
It is just by never neglecting in thought
The conditions of life in this bodily frame
That they gain the rich fruits which the Arahats love.”’
Here ends the fifth riddle, the riddle of the archer.
Here end the two hundred and sixty-two questions of Milinda, as handed down in the Book 1n its six parts, adorned with twenty-two chapters. Now those which have not been handed down are forty- PTS vp En 373 two. Taking together all those that have been, and those that have not been, handed down, there are three hundred plus four, all of which are reckoned as ‘Questions of Milinda.’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Bốn tính chất của người cung thủ nên được hành trì,’ bốn tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người cung thủ, trong khi bắn những mũi tên, thì thiết lập vững chắc hai bàn chân ở trái đất, giữ đầu gối ngay thẳng, đặt bao tên ở thắt lưng, kềm cứng thân hình, nâng hai bàn tay lên ở chỗ tiếp xúc, kìm chặt nắm tay, làm cho các ngón tay không có lỗ hổng, nâng cổ lên, khép lại mắt và miệng, ngắm thẳng mục tiêu, làm sanh khởi niềm vui rằng: ‘Ta sẽ xuyên thủng.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thiết lập hai bàn chân tinh tấn ở trái đất là giới, nên giữ sự kham nhẫn và khoan dung được ngay thẳng, nên đặt tâm ở sự phòng hộ, nên đưa bản thân vào sự thu thúc và sự kềm chế, nên kìm chặt ước muốn và sự say đắm, nên làm cho tâm không có lỗ hổng ở sự tác ý đúng đường lối, nên nâng sự tinh tấn lên, nên khép lại sáu cánh cửa (giác quan), nên thiết lập niệm, nên làm sanh khởi niềm vui rằng: ‘Ta sẽ xuyên thủng tất cả phiền não bằng mũi tên trí tuệ.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của người cung thủ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người cung thủ mang theo vật uốn thẳng để làm ngay thẳng cây tên bị cong, bị vẹo, bị quẹo. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên mang theo vật uốn thẳng là sự thiết lập niệm ở thân này để làm ngay thẳng cái tâm bị cong, bị vẹo, bị quẹo. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của người cung thủ nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người cung thủ chuyên chú ở mục tiêu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở thân này. Tâu đại vương, vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở thân này như thế nào? Nên chuyên chú là vô thường, là cơn bệnh … (như trên) … là ghẻ, là mụt nhọt, là tai ương, là tật nguyền, là cái khác, là tiêu hoại, là tai họa, là bất hạnh, là sợ hãi, là nguy hiểm, là thay đổi, là mảnh mai, là không bền, là không nơi nương tựa, là không nơi trú ẩn, là không nơi nương nhờ, là trạng thái không có nơi nương nhờ, là rỗng không, là trống không, là bất lợi, là không có lõi, là gốc gác của tai ương, là kẻ giết hại, là có sự rò rỉ, là bị tạo tác, là có bản chất sanh ra, là có bản chất già, là có bản chất bệnh, là có bản chất chết, là có bản chất sầu muộn, là có bản chất than vãn, là có bản chất thất vọng, là có bản chất phiền não. Tâu đại vương, vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở thân này như thế. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của người cung thủ nên được hành trì.
BJT 4Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người thợ săn chuyên chú sáng chiều. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên chuyên chú ở đối tượng (của đề mục thiền) sáng chiều. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ tư của người thợ săn nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp nói đến:
‘Giống như người cung thủ chuyên chú sáng chiều, trong khi không bê trễ việc chuyên chú, đạt được bữa ăn và tiền lương.
Tương tợ y như thế, người con trai của đức Phật thực hành sự chuyên chú ở thân, trong khi không bê trễ việc chuyên chú ở thân, chứng đắc phẩm vị A-la-hán.’”
Câu hỏi về tính chất của người cung thủ là thứ bảy.
Phẩm chum nước là phẩm thứ bảy.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
“Chum nước, và sắt đen, cái lọng che, thửa ruộng, và thuốc giải độc, với vật thực, và người cung thủ, đã được các bậc hiểu biết nói đến.”
CÂU HỎI GIẢNG VỀ CÁC VÍ DỤ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
“Bhante nāgasena, ‘issāsassa cattāri aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni cattāri aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, issāso sare pātayanto ubho pāde pathaviyaṁ daḷhaṁ patiṭṭhāpeti, jaṇṇuavekallaṁ karoti, sarakalāpaṁ kaṭisandhimhi ṭhapeti, kāyaṁ upatthaddhaṁ karoti, dve hatthe sandhiṭṭhānaṁ āropeti, muṭṭhiṁ pīḷayati, aṅguliyo nirantaraṁ karoti, gīvaṁ paggaṇhāti, cakkhūni mukhañca pidahati, nimittaṁ ujuṁ karoti, hāsamuppādeti ‘vijjhissāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sīlapathaviyaṁ vīriyapāde patiṭṭhāpetabbaṁ, khantisoraccaṁ avekallaṁ kātabbaṁ, saṁvare cittaṁ ṭhapetabbaṁ, saṁyamaniyame attā upanetabbo, icchā mucchā pīḷayitabbā, yoniso manasikāre cittaṁ nirantaraṁ kātabbaṁ, vīriyaṁ paggahetabbaṁ, cha dvārā pidahitabbā, sati upaṭṭhapetabbā, hāsamuppādetabbaṁ ‘sabbakilese ñāṇanārācena vijjhissāmī’ti.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, issāso āḷakaṁ pariharati vaṅkajimhakuṭilanārācassa ujukaraṇāya;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye satipaṭṭhānaāḷakaṁ pariharitabbaṁ vaṅkajimhakuṭilacittassa ujukaraṇāya.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, issāso lakkhe upāseti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye upāsitabbaṁ.
Kathaṁ, mahārāja yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye upāsitabbaṁ?
Aniccato upāsitabbaṁ, dukkhato upāsitabbaṁ, anattato upāsitabbaṁ, rogato …pe…
gaṇḍato …
sallato …
aghato …
ābādhato …
parato …
palokato …
ītito …
upaddavato …
bhayato …
upasaggato …
calato …
pabhaṅguto …
addhuvato …
atāṇato …
aleṇato …
asaraṇato …
rittato …
tucchato …
suññato …
ādīnavato …
vipariṇāmadhammato …
asārato …
aghamūlato …
vadhakato …
vibhavato …
sāsavato …
saṅkhatato …
mārāmisato …
jātidhammato …
jarādhammato …
byādhidhammato …
maraṇadhammato …
sokadhammato …
paridevadhammato …
upāyāsadhammato …
saṅkilesadhammato …
evaṁ kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena imasmiṁ kāye upāsitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, issāso sāyaṁ pātaṁ upāsati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sāyaṁ pātaṁ ārammaṇe upāsitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, issāsassa catutthaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Yathā issāsako nāma,
sāyaṁ pātaṁ upāsati;
Upāsanaṁ ariñcanto,
labhate bhattavetanaṁ.
Tatheva buddhaputtopi,
Karoti kāyupāsanaṁ;
Kāyupāsanaṁ ariñcanto,
Arahattamadhigacchatī’”ti.
Issāsaṅgapañho sattamo.
Kumbhavaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Kumbho ca kāḷāyaso ca,
chattaṁ khettañca agado;
Bhojanena ca issāso,
vuttaṁ dāni vidūhīti.
Opammakathāpañho niṭṭhito.