“Các câu hỏi của đức vua Milinda được truyền đạt ở trong tập sách này gồm có hai trăm sáu mươi hai câu hỏi, được chia thành hai mươi hai phẩm, thuộc về sáu chương, như vậy là đầy đủ. Tuy nhiên còn có bốn mươi hai câu hỏi chưa được truyền đạt. Tổng cộng tất cả các câu hỏi đã được truyền đạt và chưa được truyền đạt là ba trăm lẻ bốn câu hỏi. Hết thảy tất cả được gọi tên là: ‘Các câu hỏi của đức vua Milinda.’
Vào lúc kết thúc các câu hỏi và các câu trả lời của đức vua và vị trưởng lão, đại địa cầu này, có phần đất rắn là tám mươi bốn trăm ngàn (8.400.000) do-tuần, được bao quanh bởi nước, đã rúng động theo sáu cách, các tia sét đã phóng ra, chư Thiên đã đổ xuống cơn mưa bông hoa thuộc cõi Trời, Đại Phạm Thiên đã thốt lời tán thán, ở giữa lòng đại dương đã có tiếng động lớn tợ như tiếng gầm của sấm ở đám mây đen. Như thế, đức vua Milinda ấy và đoàn hậu cung đã chắp tay cúi mình, đê đầu đảnh lễ.
Đức vua Milinda, có tâm mừng rỡ tột độ, đã trở thành người có sự hiểu biết về Giáo Pháp của đức Phật, không còn hoài nghi ở ba ngôi báu, thoát khỏi bụi rậm, không còn ương bướng, đã được tịnh tín tột độ ở các đức hạnh, ở sự xuất gia, ở sự khéo thực hành, và bốn oai nghi của vị trưởng lão, được tự tin, không còn mong cầu, sự ngã mạn và kiêu ngạo đã được diệt trừ, tợ như rắn chúa có răng nanh đã bị nhổ đi, (đức vua) đã nói như vầy:
‘Thưa ngài Nāgasena, lành thay, lành thay! Các câu hỏi có liên quan đến đức Phật đã được ngài trả lời. Ở Giáo Pháp này của đức Phật, ngoại trừ trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, không có ai khác tương đương ngài trong việc trả lời các câu hỏi. Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chấp nhận trẫm là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’
Từ đó, đức vua cùng với các đội binh lính phục vụ cho trưởng lão Nāgasena, cho xây dựng tu viện tên Milinda, sau đó dâng đến vị trưởng lão, rồi hộ độ bốn món vật dụng đến trưởng lão Nāgasena cùng với một trăm koṭi (một tỷ) vị tỳ khưu là các bậc Lậu Tận. Thêm nữa, sau khi đã được tịnh tín đối với trí tuệ của vị trưởng lão, sau khi đã trao lại vương quốc cho người con trai, đức vua đã rời nhà xuất gia sống không nhà, đã làm tăng trưởng pháp minh sát, và đã đạt được phẩm vị A-la-hán.” Vì thế, đã được nói rằng:
“Trí tuệ được ca tụng ở thế gian, việc thuyết giảng nhằm việc duy trì Chánh Pháp, sau khi trừ diệt sự phân vân bằng trí tuệ, các bậc sáng trí đạt được sự an tịnh.
Trí tuệ đứng vững ở trên vai của người nào, ở người nào niệm không thiếu sót, người ấy chính là bậc tối cao, vô thượng, nhận lãnh phần đặc biệt của sự cúng dường.
Chính vì thế, con người sáng trí, trong khi nhận thức về mục đích của bản thân, nên cúng dường các bậc có trí tuệ, ví như cúng dường ngôi bảo tháp là nơi đáng được cúng dường.”
“Vị đại trưởng lão tên Doṇi sống ở thành phố Doṇi thuộc xứ Laṅkā đã viết lại (tập sách) đã được xếp đặt khéo léo theo như đã được nghe,
Câu hỏi của đức vua Milinda và câu trả lời của vị Nāgasena, bởi vì Milinda có trí tuệ lớn lao và vị Nāgasena vô cùng sáng trí.
Do việc làm phước thiện này, mong rằng từ chốn này tôi đi đến cõi Trởi Đẩu Xuất, và ở ngày vị lai tôi có thể gặp (đức Phật) Metteyya, và có thể lắng nghe Giáo Pháp tối thượng.”
‘MILINDA VẤN ĐẠO’ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
Iti chasu kaṇḍesu bāvīsativaggapatimaṇḍitesu dvāsaṭṭhiadhikā dvesatā imasmiṁ potthake āgatā milindapañhā samattā, anāgatā ca pana dvācattālīsā honti, āgatā ca anāgatā ca sabbā samodhānetvā catūhi adhikā tisatapañhā honti, sabbāva milindapañhāti saṅkhaṁ gacchanti.
Rañño ca therassa ca pucchāvisajjanāvasāne caturāsītisatasahassayojanabahalā udakapariyantaṁ katvā ayaṁ mahāpathavī chadhā kampittha, vijjullatā nicchariṁsu, devatā dibbapupphavassaṁ pavassiṁsu, mahābrahmā sādhukāramadāsi, mahāsamuddakucchiyaṁ meghatthanitanigghoso viya mahāghoso ahosi, iti so milindo rājā ca orodhagaṇā ca sirasā añjaliṁ paṇāmetvā vandiṁsu.
Milindo rājā ativiya pamuditahadayo sumathitamānahadayo buddhasāsane sāramatino ratanattaye sunikkaṅkho niggumbo nitthaddho hutvā therassa guṇesu pabbajjāsu paṭipadāiriyāpathesu ca ativiya pasanno vissattho nirālayo nihatamānatthambho uddhaṭadāṭho viya bhujagindo evamāha—
“sādhu, bhante nāgasena, buddhavisayo pañho tayā visajjito, imasmiṁ buddhasāsane ṭhapetvā dhammasenāpatiṁ sāriputtattheraṁ añño tayā sadiso pañhavisajjane natthi, khamatha, bhante nāgasena, mama accayaṁ, upāsakaṁ maṁ, bhante nāgasena, dhāretha ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Tadā rājā saha balakāyehi nāgasenattheraṁ payirupāsitvā milindaṁ nāma vihāraṁ kāretvā therassa niyyātetvā catūhi paccayehi nāgasenaṁ koṭisatehi bhikkhūhi saddhiṁ paricari, punapi therassa paññāya pasīditvā puttassa rajjaṁ niyyātetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā vipassanaṁ vaḍḍhetvā arahattaṁ pāpuṇi, tena vuttaṁ—
“Paññā pasatthā lokasmiṁ,
katā saddhammaṭṭhitiyā;
Paññāya vimatiṁ hantvā,
santiṁ papponti paṇḍitā.
Yasmiṁ khandhe ṭhitā paññā,
sati tattha anūnakā;
Pūjā visesassādhāro,
aggo seṭṭho anuttaro;
Tasmā hi paṇḍito poso,
sampassaṁ hitamattano;
Paññavantaṁbhipūjeyya,
cetiyaṁ viya sādaro”ti.
Laṅkāyaṁ doṇinagare,
vasatā doṇināminā;
Mahātherena lekhitvā,
suṭṭhapitaṁ yathāsutaṁ;
Milindarājapañho ca,
nāgasenavisajjanaṁ;
Milindo hi mahāpañño,
nāgaseno supaṇḍito.
Iminā puññakammena,
Ito gacchāmi tussitaṁ;
Metteyyaṁnāgate passe,
Suṇeyyaṁ dhammamuttamanti.
Milindapañho niṭṭhito.
PTS cs 19 On the conclusion of this putting of puzzles and giving of solutions between the king and the Elder, this great earth, eighty-four thousand leagues in extent, shook six times even to its ocean boundary, the lightnings flashed, the gods poured down a rainfall of flowers from heaven, Mahā Brahmā himself signified his applause, and there was a mighty roar like the crashing and thundering of a storm in the mighty deep. And on beholding that wonder, the five hundred high ministers of the king, and all the inhabitants of the city of Sāgala who were there, and the women of the king’s palace, bowed down before Nāgasena, the great teacher, raising their clasped hands to their foreheads, and departed thence.
PTS cs 20 PTS vp Pali 420 But Milinda the king was filled with joy of heart, and all pride was suppressed within him. And he became aware of the virtue that lay in the religion of the Buddhas, he ceased to have any doubt at all in the Three Gems, he tarried no longer in the jungle of heresy, he renounced all obstinacy; and pleased beyond measure at the high PTS vp En 374 qualities of the Elder, at the excellence of his manners befitting a recluse, he become filled with confidence, and free from cravings, and all his pride and self-righteousness left his heart; and like a cobra deprived of its fangs he said: ‘Most excellent, most excellent, venerable Nāgasena! the puzzles, worthy of a Buddha to solve, have you made clear. There is none like you, amongst all the followers of the Buddha, in the solution of problems, save only Sāriputta, the Elder, himself, the Commander of the Faith. Pardon me, venerable Nāgasena, my faults. May the venerable Nāgasena accept me as a supporter of the faith, as a true convert from to-day onwards as long as life shall last!’
PTS cs 21 Thenceforward the king and his mighty men continued in paying honour to Nāgasena. And the king had a Vihāra built called ‘The Milinda Vihāra,’ and handed it over to Nāgasena, the Elder, and waited upon him and all the multitude of the Arahat Bhikshus of whom he was the chief with the four requisites of the Bhikshu’s life. And afterwards, taking delight in the wisdom of the Elder, he handed over his kingdom to his son, and abandoning the household life for the houseless state, grew great in insight, and himself attained to Arahatship! Therefore is it said:
‘Wisdom is magnified o’er all the world,
And preaching for the endurance of the Faith.
When they, by wisdom, have put doubt aside
The wise reach upward to that Tranquil State.
That man in whom wisdom is firmly set,
And mindful self-possession never fails,
He is the best of those who gifts receive,
The chief of men to whom distinction’s given. PTS vp En 375
Let therefore able men, in due regard
To their own welfare, honour those who’re wise—
Worthy of honour like the sacred pile
Beneath whose solid dome the bones of the great dead lie.’
Here ends the book of the puzzles and the solutions of Milinda and Nāgasena.
“Các câu hỏi của đức vua Milinda được truyền đạt ở trong tập sách này gồm có hai trăm sáu mươi hai câu hỏi, được chia thành hai mươi hai phẩm, thuộc về sáu chương, như vậy là đầy đủ. Tuy nhiên còn có bốn mươi hai câu hỏi chưa được truyền đạt. Tổng cộng tất cả các câu hỏi đã được truyền đạt và chưa được truyền đạt là ba trăm lẻ bốn câu hỏi. Hết thảy tất cả được gọi tên là: ‘Các câu hỏi của đức vua Milinda.’
Vào lúc kết thúc các câu hỏi và các câu trả lời của đức vua và vị trưởng lão, đại địa cầu này, có phần đất rắn là tám mươi bốn trăm ngàn (8.400.000) do-tuần, được bao quanh bởi nước, đã rúng động theo sáu cách, các tia sét đã phóng ra, chư Thiên đã đổ xuống cơn mưa bông hoa thuộc cõi Trời, Đại Phạm Thiên đã thốt lời tán thán, ở giữa lòng đại dương đã có tiếng động lớn tợ như tiếng gầm của sấm ở đám mây đen. Như thế, đức vua Milinda ấy và đoàn hậu cung đã chắp tay cúi mình, đê đầu đảnh lễ.
Đức vua Milinda, có tâm mừng rỡ tột độ, đã trở thành người có sự hiểu biết về Giáo Pháp của đức Phật, không còn hoài nghi ở ba ngôi báu, thoát khỏi bụi rậm, không còn ương bướng, đã được tịnh tín tột độ ở các đức hạnh, ở sự xuất gia, ở sự khéo thực hành, và bốn oai nghi của vị trưởng lão, được tự tin, không còn mong cầu, sự ngã mạn và kiêu ngạo đã được diệt trừ, tợ như rắn chúa có răng nanh đã bị nhổ đi, (đức vua) đã nói như vầy:
‘Thưa ngài Nāgasena, lành thay, lành thay! Các câu hỏi có liên quan đến đức Phật đã được ngài trả lời. Ở Giáo Pháp này của đức Phật, ngoại trừ trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, không có ai khác tương đương ngài trong việc trả lời các câu hỏi. Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chấp nhận trẫm là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’
Từ đó, đức vua cùng với các đội binh lính phục vụ cho trưởng lão Nāgasena, cho xây dựng tu viện tên Milinda, sau đó dâng đến vị trưởng lão, rồi hộ độ bốn món vật dụng đến trưởng lão Nāgasena cùng với một trăm koṭi (một tỷ) vị tỳ khưu là các bậc Lậu Tận. Thêm nữa, sau khi đã được tịnh tín đối với trí tuệ của vị trưởng lão, sau khi đã trao lại vương quốc cho người con trai, đức vua đã rời nhà xuất gia sống không nhà, đã làm tăng trưởng pháp minh sát, và đã đạt được phẩm vị A-la-hán.” Vì thế, đã được nói rằng:
“Trí tuệ được ca tụng ở thế gian, việc thuyết giảng nhằm việc duy trì Chánh Pháp, sau khi trừ diệt sự phân vân bằng trí tuệ, các bậc sáng trí đạt được sự an tịnh.
Trí tuệ đứng vững ở trên vai của người nào, ở người nào niệm không thiếu sót, người ấy chính là bậc tối cao, vô thượng, nhận lãnh phần đặc biệt của sự cúng dường.
Chính vì thế, con người sáng trí, trong khi nhận thức về mục đích của bản thân, nên cúng dường các bậc có trí tuệ, ví như cúng dường ngôi bảo tháp là nơi đáng được cúng dường.”
“Vị đại trưởng lão tên Doṇi sống ở thành phố Doṇi thuộc xứ Laṅkā đã viết lại (tập sách) đã được xếp đặt khéo léo theo như đã được nghe,
Câu hỏi của đức vua Milinda và câu trả lời của vị Nāgasena, bởi vì Milinda có trí tuệ lớn lao và vị Nāgasena vô cùng sáng trí.
Do việc làm phước thiện này, mong rằng từ chốn này tôi đi đến cõi Trởi Đẩu Xuất, và ở ngày vị lai tôi có thể gặp (đức Phật) Metteyya, và có thể lắng nghe Giáo Pháp tối thượng.”
‘MILINDA VẤN ĐẠO’ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
Iti chasu kaṇḍesu bāvīsativaggapatimaṇḍitesu dvāsaṭṭhiadhikā dvesatā imasmiṁ potthake āgatā milindapañhā samattā, anāgatā ca pana dvācattālīsā honti, āgatā ca anāgatā ca sabbā samodhānetvā catūhi adhikā tisatapañhā honti, sabbāva milindapañhāti saṅkhaṁ gacchanti.
Rañño ca therassa ca pucchāvisajjanāvasāne caturāsītisatasahassayojanabahalā udakapariyantaṁ katvā ayaṁ mahāpathavī chadhā kampittha, vijjullatā nicchariṁsu, devatā dibbapupphavassaṁ pavassiṁsu, mahābrahmā sādhukāramadāsi, mahāsamuddakucchiyaṁ meghatthanitanigghoso viya mahāghoso ahosi, iti so milindo rājā ca orodhagaṇā ca sirasā añjaliṁ paṇāmetvā vandiṁsu.
Milindo rājā ativiya pamuditahadayo sumathitamānahadayo buddhasāsane sāramatino ratanattaye sunikkaṅkho niggumbo nitthaddho hutvā therassa guṇesu pabbajjāsu paṭipadāiriyāpathesu ca ativiya pasanno vissattho nirālayo nihatamānatthambho uddhaṭadāṭho viya bhujagindo evamāha—
“sādhu, bhante nāgasena, buddhavisayo pañho tayā visajjito, imasmiṁ buddhasāsane ṭhapetvā dhammasenāpatiṁ sāriputtattheraṁ añño tayā sadiso pañhavisajjane natthi, khamatha, bhante nāgasena, mama accayaṁ, upāsakaṁ maṁ, bhante nāgasena, dhāretha ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Tadā rājā saha balakāyehi nāgasenattheraṁ payirupāsitvā milindaṁ nāma vihāraṁ kāretvā therassa niyyātetvā catūhi paccayehi nāgasenaṁ koṭisatehi bhikkhūhi saddhiṁ paricari, punapi therassa paññāya pasīditvā puttassa rajjaṁ niyyātetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā vipassanaṁ vaḍḍhetvā arahattaṁ pāpuṇi, tena vuttaṁ—
“Paññā pasatthā lokasmiṁ,
katā saddhammaṭṭhitiyā;
Paññāya vimatiṁ hantvā,
santiṁ papponti paṇḍitā.
Yasmiṁ khandhe ṭhitā paññā,
sati tattha anūnakā;
Pūjā visesassādhāro,
aggo seṭṭho anuttaro;
Tasmā hi paṇḍito poso,
sampassaṁ hitamattano;
Paññavantaṁbhipūjeyya,
cetiyaṁ viya sādaro”ti.
Laṅkāyaṁ doṇinagare,
vasatā doṇināminā;
Mahātherena lekhitvā,
suṭṭhapitaṁ yathāsutaṁ;
Milindarājapañho ca,
nāgasenavisajjanaṁ;
Milindo hi mahāpañño,
nāgaseno supaṇḍito.
Iminā puññakammena,
Ito gacchāmi tussitaṁ;
Metteyyaṁnāgate passe,
Suṇeyyaṁ dhammamuttamanti.
Milindapañho niṭṭhito.