Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
SC 2Tôn giả Trung Tín Kātyāyana đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ chân Thế Tôn bằng đầu, rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Tôn giả Trung Tín Kātyāyana bạch Thế Tôn rằng:
SC 3“Bạch Thế Tôn, người ta nói ‘Chánh kiến, chánh kiến’. Bạch Thế Tôn, chánh kiến là gì? Như Lai dạy sự hiểu biết về chánh kiến đến mức độ nào?”
SC 4Khi được hỏi vậy, Thế Tôn nói với Trung Tín Kātyāyana rằng:
SC 5“Này Kātyāyana, thông thường thế gian này nương tựa vào hai cực hữu và vô. Thế gian này nương tựa vào hữu và vô nên bị dính mắc, chấp thủ và ràng buộc. Và khuynh hướng cố chấp của tâm để nắm giữ và bám víu này, họ không nắm giữ, không chấp nhận, không khăng khăng hay có khuynh hướng nói: ‘Đây là tự ngã của tôi’. Sự sanh khởi này là sự sanh khởi của khổ; sự diệt tận này là sự diệt tận của khổ—ở đây, người ấy không nghi ngờ, không do dự, và có tri kiến độc lập về điều này.”
SC 6“Này Kātyāyana, theo cách này có chánh kiến. Theo cách này, Như Lai dạy sự hiểu biết về chánh kiến.”
SC 7“Vì sao vậy? Này Kātyāyana, sự sanh khởi trong thế gian, được thấy và hiểu đúng như thật, cho thấy không có vô trong thế gian. Này Kātyāyana, sự diệt tận trong thế gian, được thấy và hiểu đúng như thật, cho thấy không có hữu thường còn trong thế gian.”
SC 8“Như vậy, tránh cả hai cực đoan, Như Lai dạy Pháp bằng Trung đạo.”
SC 9“Đó là: cái này có, cái kia có; cái này sanh, cái kia sanh. Với vô minh làm duyên, có hành...” như đã nói về sự sanh khởi và diệt tận.
SC 10Trong khi nghe sự thuyết giảng Pháp này, t��m của Tôn giả Trung Tín Kātyāyana được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không chấp thủ. SC 1The Bhagavan was staying in Nādikā in the Guñjakā House.
SC 2Venerable Faithful-Kātyāyana went to the Bhagavan. Having approached, he saluted the Bhagavan’s feet with his head, and stood to one side. Standing to one side Faithful Kātyāyana said this to the Bhagavan:
SC 3“‘Right-view, right view’ is said Sir. In what way is there right-view? To what extent does the Tathāgata teach the understanding of right-view?”
SC 4That said, the bhagavan said to Faithful Kātyāyana:
SC 5“Generally, Kātyāyana, this world relies on a duality of existence and non-existence. This world which relies on existence and non-existence is attached, grasping and bound. And this obstinate tendency of the mind to grasp and cling they don’t hold, they don’t accept, insist on or have a tendency to say: this is my self. This arising is disappointment arising; ceasing is disappointment ceasing—here he has no doubt, no uncertainty, and has independent knowledge of this.”
SC 6“In this way there is right-view, Kātyāyana. In this way the Tathāgata teaches the understanding of right-view.”
SC 7“Why is that? Arising in the world, Kātyayana, seen and correctly understood just as it is, shows there is no non-existence in the world. Cessation in the world, Kātyayana, seen and correctly understood just as it is, shows there is no permanent existence in the world.”
SC 8“Thus avoiding both extremes the Tathāgata teaches a dharma by the middle path.
SC 9“That is: this being, that becomes; with the arising of this, that arises. With ignorance as condition there is volition ...” as before for arising and cessation.
SC 10While hearing this exposition of the Dharma the mind of venerable Faithful Kātyāyana was liberated from the taints through non-clinging.
SC 2Tôn giả Trung Tín Kātyāyana đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ chân Thế Tôn bằng đầu, rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Tôn giả Trung Tín Kātyāyana bạch Thế Tôn rằng:
SC 3“Bạch Thế Tôn, người ta nói ‘Chánh kiến, chánh kiến’. Bạch Thế Tôn, chánh kiến là gì? Như Lai dạy sự hiểu biết về chánh kiến đến mức độ nào?”
SC 4Khi được hỏi vậy, Thế Tôn nói với Trung Tín Kātyāyana rằng:
SC 5“Này Kātyāyana, thông thường thế gian này nương tựa vào hai cực hữu và vô. Thế gian này nương tựa vào hữu và vô nên bị dính mắc, chấp thủ và ràng buộc. Và khuynh hướng cố chấp của tâm để nắm giữ và bám víu này, họ không nắm giữ, không chấp nhận, không khăng khăng hay có khuynh hướng nói: ‘Đây là tự ngã của tôi’. Sự sanh khởi này là sự sanh khởi của khổ; sự diệt tận này là sự diệt tận của khổ—ở đây, người ấy không nghi ngờ, không do dự, và có tri kiến độc lập về điều này.”
SC 6“Này Kātyāyana, theo cách này có chánh kiến. Theo cách này, Như Lai dạy sự hiểu biết về chánh kiến.”
SC 7“Vì sao vậy? Này Kātyāyana, sự sanh khởi trong thế gian, được thấy và hiểu đúng như thật, cho thấy không có vô trong thế gian. Này Kātyāyana, sự diệt tận trong thế gian, được thấy và hiểu đúng như thật, cho thấy không có hữu thường còn trong thế gian.”
SC 8“Như vậy, tránh cả hai cực đoan, Như Lai dạy Pháp bằng Trung đạo.”
SC 9“Đó là: cái này có, cái kia có; cái này sanh, cái kia sanh. Với vô minh làm duyên, có hành...” như đã nói về sự sanh khởi và diệt tận.
SC 10Trong khi nghe sự thuyết giảng Pháp này, t��m của Tôn giả Trung Tín Kātyāyana được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không chấp thủ.
SC 1The Bhagavan was staying in Nādikā in the Guñjakā House.
SC 2Venerable Faithful-Kātyāyana went to the Bhagavan. Having approached, he saluted the Bhagavan’s feet with his head, and stood to one side. Standing to one side Faithful Kātyāyana said this to the Bhagavan:
SC 3“‘Right-view, right view’ is said Sir. In what way is there right-view? To what extent does the Tathāgata teach the understanding of right-view?”
SC 4That said, the bhagavan said to Faithful Kātyāyana:
SC 5“Generally, Kātyāyana, this world relies on a duality of existence and non-existence. This world which relies on existence and non-existence is attached, grasping and bound. And this obstinate tendency of the mind to grasp and cling they don’t hold, they don’t accept, insist on or have a tendency to say: this is my self. This arising is disappointment arising; ceasing is disappointment ceasing—here he has no doubt, no uncertainty, and has independent knowledge of this.”
SC 6“In this way there is right-view, Kātyāyana. In this way the Tathāgata teaches the understanding of right-view.”
SC 7“Why is that? Arising in the world, Kātyayana, seen and correctly understood just as it is, shows there is no non-existence in the world. Cessation in the world, Kātyayana, seen and correctly understood just as it is, shows there is no permanent existence in the world.”
SC 8“Thus avoiding both extremes the Tathāgata teaches a dharma by the middle path.
SC 9“That is: this being, that becomes; with the arising of this, that arises. With ignorance as condition there is volition ...” as before for arising and cessation.
SC 10While hearing this exposition of the Dharma the mind of venerable Faithful Kātyāyana was liberated from the taints through non-clinging.