BJT 4529Trước đây, tôi đã là người thợ rừng có sự quan tâm (phụng dưỡng) đến cha và mẹ. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng, tôi không biết đến điều tốt lành.
BJT 4530Do lòng thương tưởng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhãn, đã lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.
BJT 4531Và sau khi nhìn thấy ba (dấu) bàn chân đã đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.
BJT 4532Sau khi nhìn thấy cây koraṇḍamọc ở trên đất đã được trổ hoa, tôi đã hái một số (bông hoa) và đã cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.
BJT 4533Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 4534Nơi chốn nào tôi đi tái sanh là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi là người có màu da của bông hoa koraṇḍavà có cả vẻ sáng ngời nữa.
BJT 4535Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường ở bàn chân.
BJT 4536Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4537Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4538Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Koraṇḍapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya là phần thứ năm.
“Vanakammiko pure āsiṁ,
pitumātumatenahaṁ;
Pasumārena jīvāmi,
kusalaṁ me na vijjati.
Mama āsayasāmantā,
tisso lokagganāyako;
Padāni tīṇi dassesi,
anukampāya cakkhumā.
Akkante ca pade disvā,
tissanāmassa satthuno;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
pade cittaṁ pasādayiṁ.
Koraṇḍaṁ pupphitaṁ disvā,
pādapaṁ dharaṇīruhaṁ;
Sakosakaṁ gahetvāna,
padaseṭṭhamapūjayiṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Koraṇḍavaṇṇakoyeva,
suppabhāso bhavāmahaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
padapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā koraṇḍapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Koraṇḍapupphiyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 4529 I was then a forest-worker,
as were father and grandfathers.
Earning my living killing beasts,
no wholesomeness exists for me. Verse 1
Walt 4530 In the area where I lived,
Tissa, Chief Leader of the World,
Eyeful One, compassionately
showed me three of his own footsteps. Verse 2
Walt 4531 And having seen the stepping feet
of the Teacher known as Tissa,
happy, and with a happy heart,
I pleased my heart about his feet. Verse 3
Walt 4532 Seeing a koraṇḍa in bloom,
foot-drinker growing in the earth,
taking a sprig with flowers, I
did pūja to those best of feet. Verse 4
Walt 4533 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 5
Walt 4534 In whichever womb I’m reborn,
whether it’s human or divine,
I’m the color of koraṇḍa,
and radiantly beautiful. Verse 6
Walt 4535 In the ninety-two aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of worshipping feet. Verse 7
Walt 4536 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 8
Walt 4537 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Walt 4538 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Thus indeed Venerable Koraṇḍapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Koraṇḍapupphiya Thera is finished.
BJT 4529Trước đây, tôi đã là người thợ rừng có sự quan tâm (phụng dưỡng) đến cha và mẹ. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng, tôi không biết đến điều tốt lành.
BJT 4530Do lòng thương tưởng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhãn, đã lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.
BJT 4531Và sau khi nhìn thấy ba (dấu) bàn chân đã đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.
BJT 4532Sau khi nhìn thấy cây koraṇḍamọc ở trên đất đã được trổ hoa, tôi đã hái một số (bông hoa) và đã cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.
BJT 4533Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 4534Nơi chốn nào tôi đi tái sanh là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi là người có màu da của bông hoa koraṇḍavà có cả vẻ sáng ngời nữa.
BJT 4535Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường ở bàn chân.
BJT 4536Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4537Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4538Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Koraṇḍapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya là phần thứ năm.
“Vanakammiko pure āsiṁ,
pitumātumatenahaṁ;
Pasumārena jīvāmi,
kusalaṁ me na vijjati.
Mama āsayasāmantā,
tisso lokagganāyako;
Padāni tīṇi dassesi,
anukampāya cakkhumā.
Akkante ca pade disvā,
tissanāmassa satthuno;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
pade cittaṁ pasādayiṁ.
Koraṇḍaṁ pupphitaṁ disvā,
pādapaṁ dharaṇīruhaṁ;
Sakosakaṁ gahetvāna,
padaseṭṭhamapūjayiṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Koraṇḍavaṇṇakoyeva,
suppabhāso bhavāmahaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
padapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā koraṇḍapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Koraṇḍapupphiyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.