BJT 5263Trước đây, tôi đã là người thợ rừng cùng với cha và ông. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng. Điều tốt lành của tôi là không có.
BJT 5264Do lòng thương tưởng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhãn, đã lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.
BJT 5265Và sau khi nhìn thấy ba (dấu) bàn chân đã đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.
BJT 5266Sau khi nhìn thấy cây koraṇḍamọc ở trên đất đã được trổ hoa, tôi đã hái một nhúm (bông hoa) và đã cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.
BJT 5267Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5268Nơi chốn nào tôi sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi có làn da (màu bông hoa) koraṇḍa, tôi có được vẻ ngời sáng.
BJT 5269Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường (dấu) bàn chân (đức Phật).
BJT 5270Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5271Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5272Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Koraṇḍapupphiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya là phần thứ ba.
“Vanakammiko pure āsiṁ,
pitumātumatenahaṁ;
Pasumārena jīvāmi,
kusalaṁ me na vijjati.
Mama āsayasāmantā,
tisso lokagganāyako;
Padāni tīṇi dassesi,
anukampāya cakkhumā.
Akkante ca pade disvā,
tissanāmassa satthuno;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
pade cittaṁ pasādayiṁ.
Koraṇḍaṁ pupphitaṁ disvā,
pādapaṁ dharaṇīruhaṁ;
Sakosakaṁ gahetvāna,
padaseṭṭhamapūjayiṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Koraṇḍakachavi homi,
suppabhāso bhavāmahaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
padapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā koraṇḍapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Koraṇḍapupphiyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 5263 I was then a forest-worker,
as were father and grandfathers.
Earning my living killing beasts,
no wholesomeness exists for me. Verse 1
Walt 5264 In the area where I lived,
Tissa, Chief Leader of the World,
Eyeful One, compassionately
showed me three of his own footsteps. Verse 2
Walt 5265 And having seen the stepping feet
of the Teacher known as Tissa,
happy, and with a happy heart,
I pleased my heart about his feet. Verse 3
Walt 5266 Seeing a koraṇḍa in bloom,
foot-drinker growing in the earth,
taking a sprig with flowers, I
did pūja to those best of feet. Verse 4
Walt 5267 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 5
Walt 5268 In whichever womb I’m reborn,
whether it’s human or divine,
I have koraṇḍa-colored skin;
I’m radiantly beautiful. Verse 6
Walt 5269 In the ninety-two aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of worshipping feet. Verse 7
Walt 5270 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 8
Walt 5271 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Walt 5272 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Thus indeed Venerable Koraṇḍapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Koraṇḍapupphiya Thera is finished.
BJT 5263Trước đây, tôi đã là người thợ rừng cùng với cha và ông. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng. Điều tốt lành của tôi là không có.
BJT 5264Do lòng thương tưởng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhãn, đã lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.
BJT 5265Và sau khi nhìn thấy ba (dấu) bàn chân đã đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.
BJT 5266Sau khi nhìn thấy cây koraṇḍamọc ở trên đất đã được trổ hoa, tôi đã hái một nhúm (bông hoa) và đã cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.
BJT 5267Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5268Nơi chốn nào tôi sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi có làn da (màu bông hoa) koraṇḍa, tôi có được vẻ ngời sáng.
BJT 5269Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường (dấu) bàn chân (đức Phật).
BJT 5270Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5271Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5272Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Koraṇḍapupphiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya là phần thứ ba.
“Vanakammiko pure āsiṁ,
pitumātumatenahaṁ;
Pasumārena jīvāmi,
kusalaṁ me na vijjati.
Mama āsayasāmantā,
tisso lokagganāyako;
Padāni tīṇi dassesi,
anukampāya cakkhumā.
Akkante ca pade disvā,
tissanāmassa satthuno;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
pade cittaṁ pasādayiṁ.
Koraṇḍaṁ pupphitaṁ disvā,
pādapaṁ dharaṇīruhaṁ;
Sakosakaṁ gahetvāna,
padaseṭṭhamapūjayiṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Koraṇḍakachavi homi,
suppabhāso bhavāmahaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
padapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā koraṇḍapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Koraṇḍapupphiyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.