BJT 242Khi ta là hoàng tử Yudhañjaya có danh tiếng vô lượng, ta đã động tâm sau khi nhìn thấy giọt sương mai bị tiêu tan dưới ánh nắng mặt trời.
BJT 243Sau khi trầm tư về chính điều ấy, ta đã làm cho nỗi động tâm tăng trưởng. Ta đã cúi lạy mẹ cha và xin phép xuất gia.
BJT 244Họ cùng với các thị dân và các cư dân của xứ sở, hai tay chắp lại, thỉnh cầu ta rằng: “Này con, ngay ngày hôm nay con hãy cai quản lãnh địa rộng lớn, tiến triển, và thịnh vượng.”
BJT 245Trong khi họ, có cả đức vua, có cả phi tần, có thị dân, có cư dân của xứ sở, đang khóc lóc thảm thương, bởi vì ta đã xuất gia, không lưu luyến.
BJT 246Trong khi từ bỏ toàn bộ trái đất, vương quốc, quyến thuộc, người hầu, và danh vọng, ta đã không suy nghĩ (đến điều gì khác) với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 247Me cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Yudhañjaya là phần thứ nhất.
“Yadāhaṁ amitayaso,
Rājaputto yudhañjayo;
Ussāvabinduṁ sūriyātape,
Patitaṁ disvāna saṁvijiṁ.
Taññevādhipatiṁ katvā,
saṁvegamanubrūhayiṁ;
Mātāpitū ca vanditvā,
pabbajjamanuyācahaṁ.
Yācanti maṁ pañjalikā,
sanegamā saraṭṭhakā;
‘Ajjeva putta paṭipajja,
iddhaṁ phītaṁ mahāmahiṁ’.
Sarājake sahorodhe,
sanegame saraṭṭhake;
Karuṇaṁ paridevante,
anapekkhova pariccajiṁ.
Kevalaṁ pathaviṁ rajjaṁ,
ñātiparijanaṁ yasaṁ;
Cajamāno na cintesiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Mātāpitā na me dessā,
napi me dessaṁ mahāyasaṁ;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā rajjaṁ pariccajin”ti.
Yudhañjayacariyaṁ paṭhamaṁ.
“When I was Prince Yudhañjaya
of infinite fame,
I was stirred with urgency on seeing
a fallen dewdrop in the heat of the sun.
Taking that to be of prime importance,
I fostered that urgency.
I bowed to my mother and father,
and begged permission to go forth.
With joined palms,
along with the citizens of town and country, they asked,
‘This very day, rule this great land,
so successful and prosperous.’
The King and the Queens,
with the citizens of town and country,
cried pitifully,
as I forsook unconcerned.
Kingship over the entire earth,
family, retinue, and fame—
I gave them up without a second thought,
because it was solely for awakening.
I had no dislike of my parents,
nor did I dislike the great fame.
But because omniscience is precious to me,
that is why I forsook kingship.”
BJT 242Khi ta là hoàng tử Yudhañjaya có danh tiếng vô lượng, ta đã động tâm sau khi nhìn thấy giọt sương mai bị tiêu tan dưới ánh nắng mặt trời.
BJT 243Sau khi trầm tư về chính điều ấy, ta đã làm cho nỗi động tâm tăng trưởng. Ta đã cúi lạy mẹ cha và xin phép xuất gia.
BJT 244Họ cùng với các thị dân và các cư dân của xứ sở, hai tay chắp lại, thỉnh cầu ta rằng: “Này con, ngay ngày hôm nay con hãy cai quản lãnh địa rộng lớn, tiến triển, và thịnh vượng.”
BJT 245Trong khi họ, có cả đức vua, có cả phi tần, có thị dân, có cư dân của xứ sở, đang khóc lóc thảm thương, bởi vì ta đã xuất gia, không lưu luyến.
BJT 246Trong khi từ bỏ toàn bộ trái đất, vương quốc, quyến thuộc, người hầu, và danh vọng, ta đã không suy nghĩ (đến điều gì khác) với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 247Me cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Yudhañjaya là phần thứ nhất.
“Yadāhaṁ amitayaso,
Rājaputto yudhañjayo;
Ussāvabinduṁ sūriyātape,
Patitaṁ disvāna saṁvijiṁ.
Taññevādhipatiṁ katvā,
saṁvegamanubrūhayiṁ;
Mātāpitū ca vanditvā,
pabbajjamanuyācahaṁ.
Yācanti maṁ pañjalikā,
sanegamā saraṭṭhakā;
‘Ajjeva putta paṭipajja,
iddhaṁ phītaṁ mahāmahiṁ’.
Sarājake sahorodhe,
sanegame saraṭṭhake;
Karuṇaṁ paridevante,
anapekkhova pariccajiṁ.
Kevalaṁ pathaviṁ rajjaṁ,
ñātiparijanaṁ yasaṁ;
Cajamāno na cintesiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Mātāpitā na me dessā,
napi me dessaṁ mahāyasaṁ;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā rajjaṁ pariccajin”ti.
Yudhañjayacariyaṁ paṭhamaṁ.