BJT 264Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi, ta đã lớn lên trong căn nhà bằng sắt và đã được gọi với tên là Ayoghara.
BJT 265(Vua cha đã phán rằng:) “Này con, mạng sống của con được tiếp nhận một cách khó khăn, được nuôi dưỡng ở nơi bực bội. Ngay chính ngày hôm nay, con hãy cai quản toàn thể trái đất này
BJT 266cùng với cư dân trong xứ sở, luôn cả phố chợ, và loài người nữa.” Sau khi đảnh lễ vị Sát-đế-lỵ, ta đã chắp tay lên và đã nói lời này:
BJT 267“Bất cứ chúng sanh nào ở trên trái đất, dầu kém cỏi, cao quý, hoặc trung bình, lớn lên trong nhà của chính họ cùng với các thân quyến không cần sự bảo vệ.”
BJT 268(Rồi ta đã suy nghĩ rằng:) “Sự nuôi dưỡng này của ta ở trong nơi bực bội là hy hữu ở trên thế gian. Ta đã được lớn lên trong căn nhà bằng sắt thiếu hẳn ánh sáng mặt trăng và mặt trời.
BJT 269Có được tấm thân hối thối này sau khi rời khỏi bụng mẹ, từ đó ta lại bị ném vào căn nhà sắt khổ sở và kinh hãi hơn một lần nữa.
BJT 270Nếu sau khi đã đạt đến khổ đau vô cùng ghê rợn như thế ấy, nếu ta còn thích thú trong vương quyền thì ta là kẻ tồi tệ nhất trong số những kẻ ác xấu.”
BJT 271Ta nhàm chán xác thân, ta không mong muốn vương quyền, ta sẽ tầm cầu sự tịch diệt Niết-bàn là nơi tử thần không thể đày đọa.”
BJT 272Trong lúc đó đám đông đang kêu gào, ta đã suy nghĩ như vậy và đã đi vào khu rừng rậm, giống như con voi đã giật đứt xiềng xích.
BJT 273Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Ayoghara là phần thứ ba.
“Punāparaṁ yadā homi,
kāsirājassa atrajo;
Ayogharamhi saṁvaḍḍho,
nāmenāsi ayogharo.
‘Dukkhena jīvito laddho,
saṁpīḷe patiposito;
Ajjeva putta paṭipajja,
kevalaṁ vasudhaṁ imaṁ’.
Saraṭṭhakaṁ sanigamaṁ,
sajanaṁ vanditva khattiyaṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Ye keci mahiyā sattā,
hīnamukkaṭṭhamajjhimā;
Nirārakkhā sake gehe,
vaḍḍhanti sakañātibhi.
Idaṁ loke uttariyaṁ,
saṁpīḷe mama posanaṁ;
Ayogharamhi saṁvaḍḍho,
appabhe candasūriye.
Pūtikuṇapasampuṇṇā,
muccitvā mātukucchito;
Tato ghoratare dukkhe,
puna pakkhittayoghare.
Yadihaṁ tādisaṁ patvā,
dukkhaṁ paramadāruṇaṁ;
Rajjesu yadi rajjāmi,
pāpānaṁ uttamo siyaṁ.
Ukkaṇṭhitomhi kāyena,
rajjenamhi anatthiko;
Nibbutiṁ pariyesissaṁ,
yattha maṁ maccu na maddiye’.
Evāhaṁ cintayitvāna,
viravante mahājane;
Nāgova bandhanaṁ chetvā,
pāvisiṁ kānanaṁ vanaṁ.
Mātāpitā na me dessā,
napi me dessaṁ mahāyasaṁ;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā rajjaṁ pariccajin”ti.
Ayogharacariyaṁ tatiyaṁ.
“Then again when I was
the true-born son of the king of Kāsi,
I grew up in an iron house,
so I was named Ayoghara.
‘Your life has been a painful one,
as you’ve been raised in confinement.
Today, my son, rule
the entirety of this land.’
Having bowed to the citizens of country and town,
the king and his people,
I raised my joined palms
and said the following.
‘All the creatures of this earth—
low, middle, or high—
are unprotected in their own home,
in which they grew up with their families.
It was unique in the world
to be raised in confinement.
I grew up in an iron house,
scarcely lit by sun or moon.
Filled with rotting carcass,
I escaped my mother’s womb.
Then to a viler suffering
I was tossed in an iron house.
Having fallen into such
appallingly dreadful suffering,
if I desired kingships,
I’d be the worst of the worst.
I’m fed up with the body,
I have no need for kingship.
I shall seek quenching
where Death will not crush me.’
Reflecting in this way,
as the great crowd wailed,
like a bull elephant bursting his ropes,
I entered the forest grove.
I had no dislike of my parents,
nor did I dislike the great fame.
But because omniscience is precious to me,
that is why I forsook kingship.”
BJT 264Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi, ta đã lớn lên trong căn nhà bằng sắt và đã được gọi với tên là Ayoghara.
BJT 265(Vua cha đã phán rằng:) “Này con, mạng sống của con được tiếp nhận một cách khó khăn, được nuôi dưỡng ở nơi bực bội. Ngay chính ngày hôm nay, con hãy cai quản toàn thể trái đất này
BJT 266cùng với cư dân trong xứ sở, luôn cả phố chợ, và loài người nữa.” Sau khi đảnh lễ vị Sát-đế-lỵ, ta đã chắp tay lên và đã nói lời này:
BJT 267“Bất cứ chúng sanh nào ở trên trái đất, dầu kém cỏi, cao quý, hoặc trung bình, lớn lên trong nhà của chính họ cùng với các thân quyến không cần sự bảo vệ.”
BJT 268(Rồi ta đã suy nghĩ rằng:) “Sự nuôi dưỡng này của ta ở trong nơi bực bội là hy hữu ở trên thế gian. Ta đã được lớn lên trong căn nhà bằng sắt thiếu hẳn ánh sáng mặt trăng và mặt trời.
BJT 269Có được tấm thân hối thối này sau khi rời khỏi bụng mẹ, từ đó ta lại bị ném vào căn nhà sắt khổ sở và kinh hãi hơn một lần nữa.
BJT 270Nếu sau khi đã đạt đến khổ đau vô cùng ghê rợn như thế ấy, nếu ta còn thích thú trong vương quyền thì ta là kẻ tồi tệ nhất trong số những kẻ ác xấu.”
BJT 271Ta nhàm chán xác thân, ta không mong muốn vương quyền, ta sẽ tầm cầu sự tịch diệt Niết-bàn là nơi tử thần không thể đày đọa.”
BJT 272Trong lúc đó đám đông đang kêu gào, ta đã suy nghĩ như vậy và đã đi vào khu rừng rậm, giống như con voi đã giật đứt xiềng xích.
BJT 273Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Ayoghara là phần thứ ba.
“Punāparaṁ yadā homi,
kāsirājassa atrajo;
Ayogharamhi saṁvaḍḍho,
nāmenāsi ayogharo.
‘Dukkhena jīvito laddho,
saṁpīḷe patiposito;
Ajjeva putta paṭipajja,
kevalaṁ vasudhaṁ imaṁ’.
Saraṭṭhakaṁ sanigamaṁ,
sajanaṁ vanditva khattiyaṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Ye keci mahiyā sattā,
hīnamukkaṭṭhamajjhimā;
Nirārakkhā sake gehe,
vaḍḍhanti sakañātibhi.
Idaṁ loke uttariyaṁ,
saṁpīḷe mama posanaṁ;
Ayogharamhi saṁvaḍḍho,
appabhe candasūriye.
Pūtikuṇapasampuṇṇā,
muccitvā mātukucchito;
Tato ghoratare dukkhe,
puna pakkhittayoghare.
Yadihaṁ tādisaṁ patvā,
dukkhaṁ paramadāruṇaṁ;
Rajjesu yadi rajjāmi,
pāpānaṁ uttamo siyaṁ.
Ukkaṇṭhitomhi kāyena,
rajjenamhi anatthiko;
Nibbutiṁ pariyesissaṁ,
yattha maṁ maccu na maddiye’.
Evāhaṁ cintayitvāna,
viravante mahājane;
Nāgova bandhanaṁ chetvā,
pāvisiṁ kānanaṁ vanaṁ.
Mātāpitā na me dessā,
napi me dessaṁ mahāyasaṁ;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā rajjaṁ pariccajin”ti.
Ayogharacariyaṁ tatiyaṁ.