BJT 312Vào một thời điểm khác nữa, khi ở tại Magadha, ta là con chim cút con, cánh chưa được mọc, còn non nớt, (như) là miếng thịt ở trong tổ.
BJT 313(Chim) mẹ tha (mồi) lại ở trong mỏ và nuôi dưỡng ta. Ta sống còn do sự tiếp xúc với chim mẹ; ta không có sức mạnh ở thân.
BJT 314Trong năm vào mùa nóng, có nạn cháy rừng bộc phát. Ngọn lửa cuộn khói đen tiến về hướng chúng tôi.
BJT 315Ngọn lửa lớn lao trong lúc gào thét đã tạo ra luồng khói này cuộn khói nọ. Trong khi lần lượt làm phát cháy, ngọn lửa đã tiến đến gần ta.
BJT 316Lo sợ vì sự ồ ạt của ngọn lửa, mẹ cha của ta trở nên kinh hãi, hoảng hốt, đã bỏ rơi ta lại ở trong tổ và đã giải thoát cho bản thân.
BJT 317Ta đã ra sức hai chân, hai cánh; ta không có sức mạnh ở thân. Ta đây không đi được. Khi ấy tại nơi ấy, ta đã suy nghĩ như vầy:
BJT 318“Bị kinh hãi, hoảng hốt, run sợ, ta có thể chạy đến gần cha mẹ, nhưng họ đã bỏ rơi ta và tẩu thoát. Ta nên hành động như thế nào ngày hôm nay?
BJT 319Đức hạnh của giới, sự chân thật, sự trong sạch, lòng bi mẫn hiện hữu ở trên đời; với sự chân thật ấy, ta có thể hiện hành động chân thật tối thắng.”
BJT 320Ta đã hướng về sức mạnh của Giáo Pháp, tưởng nhớ đến các đấng Chiến Thắng trước đây, và nương tựa vào sức mạnh của sự chân thật, ta đã thể hiện hành động chân thật rằng:
BJT 321“Có cánh không thể bay, có chân không thể đi. Mẹ cha đã lìa khỏi, lửa ơi hãy lui đi.”
BJT 322Với sự chân thật đã được thực hiện bởi ta, ngọn lửa cháy rực to lớn đã lùi trở lại mười sáu karīsa, giống như ngọn lửa đã gặp phải nước. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của chim cút con là phần thứ chín.
“Punāparaṁ yadā homi,
magadhe vaṭṭapotako;
Ajātapakkho taruṇo,
maṁsapesi kulāvake.
Mukhatuṇḍakenāharitvā,
mātā posayatī mamaṁ;
Tassā phassena jīvāmi,
natthi me kāyikaṁ balaṁ.
Saṁvacchare gimhasamaye,
davaḍāho padippati;
Upagacchati amhākaṁ,
pāvako kaṇhavattanī.
Dhamadhamāiti evaṁ,
saddāyanto mahāsikhī;
Anupubbena jhāpento,
aggi mamamupāgami.
Aggivegabhayātītā,
tasitā mātāpitā mama;
Kulāvake maṁ chaḍḍetvā,
attānaṁ parimocayuṁ.
Pāde pakkhe pajahāmi,
natthi me kāyikaṁ balaṁ;
Sohaṁ agatiko tattha,
evaṁ cintesahaṁ tadā.
‘Yesāhaṁ upadhāveyyaṁ,
bhīto tasitavedhito;
Te maṁ ohāya pakkantā,
kathaṁ me ajja kātave.
Atthi loke sīlaguṇo,
saccaṁ soceyyanuddayā;
Tena saccena kāhāmi,
saccakiriyamuttamaṁ.
Āvejjetvā dhammabalaṁ,
saritvā pubbake jine;
Saccabalamavassāya,
saccakiriyamakāsahaṁ.
Santi pakkhā apatanā,
santi pādā avañcanā;
Mātāpitā ca nikkhantā,
jātaveda paṭikkama’.
Sahasacce kate mayhaṁ,
Mahāpajjalito sikhī;
Vajjesi soḷasakarīsāni,
Udakaṁ patvā yathā sikhī;
Saccena me samo natthi,
Esā me saccapāramī”ti.
Vaṭṭapotakacariyaṁ navamaṁ.
“Then again when I was
a baby quail in Magadha,
I was young, with wings unsprouted,
just a scrap of meat in the nest.
With food she brought in her beak
my mother nurtured me.
I survived through her touch,
for I had no physical strength.
One year, in the hot season,
the forest caught fire.
It came towards us,
a conflagration with a blackened trail.
The fire roared and rumbled
with great crests of flame,
gradually burning
closer to me.
Alarmed and terrified at the fierce fire,
my mother and father
abandoned me in the nest,
saving themselves.
I beat my feet and wings,
but I had no physical strength.
When unable to leave,
I thought this there:
‘Those to whom I ought to run,
scared and trembling with fear,
have escaped, leaving me behind.
How should I act today?
There is the quality of virtue in the world,
truth, purity, and mercy.
By this truth I will make
a supreme declaration of truth.’
Inspired by the power of Dhamma,
recollecting the former Victors,
relying on the power of truth,
I made a declaration of truth.
‘I have wings that do not fly!
I have feet that do not walk!
Mother and father have fled!
Jātaveda the fire: go back!’
As I declared this truth
the great crested flames
withdrew sixteen leagues,
as if they had come to water.
There is no-one to equal my truthfulness:
this is my perfection of truth.”
BJT 312Vào một thời điểm khác nữa, khi ở tại Magadha, ta là con chim cút con, cánh chưa được mọc, còn non nớt, (như) là miếng thịt ở trong tổ.
BJT 313(Chim) mẹ tha (mồi) lại ở trong mỏ và nuôi dưỡng ta. Ta sống còn do sự tiếp xúc với chim mẹ; ta không có sức mạnh ở thân.
BJT 314Trong năm vào mùa nóng, có nạn cháy rừng bộc phát. Ngọn lửa cuộn khói đen tiến về hướng chúng tôi.
BJT 315Ngọn lửa lớn lao trong lúc gào thét đã tạo ra luồng khói này cuộn khói nọ. Trong khi lần lượt làm phát cháy, ngọn lửa đã tiến đến gần ta.
BJT 316Lo sợ vì sự ồ ạt của ngọn lửa, mẹ cha của ta trở nên kinh hãi, hoảng hốt, đã bỏ rơi ta lại ở trong tổ và đã giải thoát cho bản thân.
BJT 317Ta đã ra sức hai chân, hai cánh; ta không có sức mạnh ở thân. Ta đây không đi được. Khi ấy tại nơi ấy, ta đã suy nghĩ như vầy:
BJT 318“Bị kinh hãi, hoảng hốt, run sợ, ta có thể chạy đến gần cha mẹ, nhưng họ đã bỏ rơi ta và tẩu thoát. Ta nên hành động như thế nào ngày hôm nay?
BJT 319Đức hạnh của giới, sự chân thật, sự trong sạch, lòng bi mẫn hiện hữu ở trên đời; với sự chân thật ấy, ta có thể hiện hành động chân thật tối thắng.”
BJT 320Ta đã hướng về sức mạnh của Giáo Pháp, tưởng nhớ đến các đấng Chiến Thắng trước đây, và nương tựa vào sức mạnh của sự chân thật, ta đã thể hiện hành động chân thật rằng:
BJT 321“Có cánh không thể bay, có chân không thể đi. Mẹ cha đã lìa khỏi, lửa ơi hãy lui đi.”
BJT 322Với sự chân thật đã được thực hiện bởi ta, ngọn lửa cháy rực to lớn đã lùi trở lại mười sáu karīsa, giống như ngọn lửa đã gặp phải nước. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của chim cút con là phần thứ chín.
“Punāparaṁ yadā homi,
magadhe vaṭṭapotako;
Ajātapakkho taruṇo,
maṁsapesi kulāvake.
Mukhatuṇḍakenāharitvā,
mātā posayatī mamaṁ;
Tassā phassena jīvāmi,
natthi me kāyikaṁ balaṁ.
Saṁvacchare gimhasamaye,
davaḍāho padippati;
Upagacchati amhākaṁ,
pāvako kaṇhavattanī.
Dhamadhamāiti evaṁ,
saddāyanto mahāsikhī;
Anupubbena jhāpento,
aggi mamamupāgami.
Aggivegabhayātītā,
tasitā mātāpitā mama;
Kulāvake maṁ chaḍḍetvā,
attānaṁ parimocayuṁ.
Pāde pakkhe pajahāmi,
natthi me kāyikaṁ balaṁ;
Sohaṁ agatiko tattha,
evaṁ cintesahaṁ tadā.
‘Yesāhaṁ upadhāveyyaṁ,
bhīto tasitavedhito;
Te maṁ ohāya pakkantā,
kathaṁ me ajja kātave.
Atthi loke sīlaguṇo,
saccaṁ soceyyanuddayā;
Tena saccena kāhāmi,
saccakiriyamuttamaṁ.
Āvejjetvā dhammabalaṁ,
saritvā pubbake jine;
Saccabalamavassāya,
saccakiriyamakāsahaṁ.
Santi pakkhā apatanā,
santi pādā avañcanā;
Mātāpitā ca nikkhantā,
jātaveda paṭikkama’.
Sahasacce kate mayhaṁ,
Mahāpajjalito sikhī;
Vajjesi soḷasakarīsāni,
Udakaṁ patvā yathā sikhī;
Saccena me samo natthi,
Esā me saccapāramī”ti.
Vaṭṭapotakacariyaṁ navamaṁ.