BJT 332Vào một thời điểm khác nữa, khi là vị ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, ta đã sống không được hoan hỷ hơn năm mươi năm.
BJT 333Không ai biết tâm ý không hoan hỷ này của ta. Ta đã không nói ra với ai cả và sự không hoan hỷ diễn tiến ở trong tâm ý của ta.
BJT 334Bà-la-môn Maṇḍabya, bạn của ta, là một vị đại ẩn sĩ đã bị thọ lãnh (hành phạt) cắm cọc nhọn do trả quả của nghiệp quá khứ.
BJT 335Ta đã chăm sóc và đã phục hồi sức khỏe cho vị ấy. Sau khi cáo từ, ta đã trở về lại chốn ẩn cư của mình.
BJT 336Người bạn Bà-la-môn của ta đã đưa vợ và đứa con trai nhỏ đến. Ba người cùng đi và đã đi đến với tư thế của những người khách.
BJT 337Trong lúc ta đang ngồi tại chốn ẩn cư của mình chuyện trò với những người ấy, đứa bé trai đã ném trái banh và làm cho làm con rắn có nọc độc giận dữ.
BJT 338Sau đó, trong lúc dõi theo lộ trình di chuyển của trái banh, đứa bé trai ấy đã chạm bàn tay vào đầu của con rắn độc.
BJT 339Do sự đụng chạm của đứa bé, con rắn đã trở nên giận dữ. Ỷ lại vào sức mạnh của nọc độc, bị bực bội với sự bực bội cùng tột, con rắn ngay lập tức đã cắn đứa bé.
BJT 340Khi bị cắn bởi con rắn độc, đứa bé đã ngã xuống ở trên nền đất. Vì điều ấy, ta đã trở nên đau buồn; nỗi buồn đau ấy đã tác động đến ta.
BJT 341Sau khi an ủi họ (là những người) đang bị đau khổ, đang bị mũi tên sầu muộn, ta đã thể hiện hành động chân thật tột đỉnh cao quý tối thượng lần đầu tiên rằng:
BJT 342“Là người mong mỏi phước thiện, ta đã thực hành Phạm hạnh với tâm tín thành chỉ được bảy ngày. Từ đó về sau, Phạm hạnh của ta là năm mươi năm và thêm nữa.
BJT 343Ta thực hành (Phạm hạnh) không có nhiệt tình, chỉ qua ngày. Do lời nói chân thật này, hãy có được sự tốt lành, chất độc hãy được tiêu trừ, và Yaññadatta hãy sống.”
BJT 344Với sự chân thật của ta đã được thể hiện, đứa bé Bà-la-môn bị run rẩy bởi sức mạnh của nọc độc đã được tỉnh lại, đã đứng lên, không tật bệnh. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kaṇhadīpāyana là phần thứ mười một.
“Punāparaṁ yadā homi,
kaṇhadīpāyano isi;
Paropaññāsavassāni,
anabhiratocariṁ ahaṁ.
Na koci etaṁ jānāti,
Anabhiratimanaṁ mama;
Ahañhi kassaci nācikkhiṁ,
Arati me carati mānase.
Sabrahmacārī maṇḍabyo,
sahāyo me mahāisi;
Pubbakammasamāyutto,
sūlamāropanaṁ labhi.
Tamahaṁ upaṭṭhahitvāna,
ārogyamanupāpayiṁ;
Āpucchitvāna āgañchiṁ,
yaṁ mayhaṁ sakamassamaṁ.
Sahāyo brāhmaṇo mayhaṁ,
bhariyaṁ ādāya puttakaṁ;
Tayo janā samāgantvā,
āgañchuṁ pāhunāgataṁ.
Sammodamāno tehi saha,
nisinno sakamassame;
Dārako vaṭṭamanukkhipaṁ,
āsīvisamakopayi.
Tato so vaṭṭagataṁ maggaṁ,
anvesanto kumārako;
Āsīvisassa hatthena,
uttamaṅgaṁ parāmasi.
Tassa āmasane kuddho,
sappo visabalassito;
Kupito paramakopena,
aḍaṁsi dārakaṁ khaṇe.
Sahadaṭṭho āsīvisena,
dārako papati bhūmiyaṁ;
Tenāhaṁ dukkhito āsiṁ,
mama vāhasi taṁ dukkhaṁ.
Tyāhaṁ assāsayitvāna,
dukkhite sokasallite;
Paṭhamaṁ akāsiṁ kiriyaṁ,
aggaṁ saccaṁ varuttamaṁ.
‘Sattāhamevāhaṁ pasannacitto,
Puññatthiko acariṁ brahmacariyaṁ;
Athāparaṁ yaṁ caritaṁ mamedaṁ,
Vassāni paññāsasamādhikāni.
Akāmako vāhi ahaṁ carāmi,
Etena saccena suvatthi hotu;
Hataṁ visaṁ jīvatu yaññadatto’.
Saha sacce kate mayhaṁ,
visavegena vedhito;
Abujjhitvāna vuṭṭhāsi,
arogo cāsi māṇavo;
Saccena me samo natthi,
esā me saccapāramī”ti.
Kaṇhadīpāyanacariyaṁ ekādasamaṁ.
“Then again when I was
the seer Dark Light,
for more than fifty years
I lived dissatisfied.
No-one knew of this
dissatisfaction of mine,
for I mentioned it to no-one,
it only went on in my mind.
Maṇḍabya, a spiritual companion
and friend of mine was a great seer.
Bound to a deed in a past life,
he got impaled on a stake.
I nursed him
and brought him back to health.
Asking leave, I returned
to my own hermitage.
A brahmin friend of mine,
bringing wife and child,
came to me, all three of them,
as my guests.
As I exchanged greetings with them,
seated in my own hermitage,
the boy threw a ball
and angered a viper.
Then the boy, looking which way
the ball had gone,
touched the viper’s head
with his hand.
Angered at his touch,
the snake, relying on its potent poison,
completely enraged,
bit the boy right away.
When bitten by the viper,
the boy fainted on the ground.
It made me distraught,
the pain became as if mine.
Comforting the parents,
in their suffering and sorrow,
I made the first act,
the original, supreme declaration of truth:
‘For just seven days with a mind of faith
I led the spiritual life seeking merit.
My life since then,
for fifty years or more,
I have lived unwillingly.
By this truth, may he be well!
May the poison die! May Yaññadatta live!’
As I declared this truth,
the boy trembling with poison,
awoke and got up,
the brahmin youth was well.
There is no-one to equal my truthfulness:
this is my perfection of truth.”
BJT 332Vào một thời điểm khác nữa, khi là vị ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, ta đã sống không được hoan hỷ hơn năm mươi năm.
BJT 333Không ai biết tâm ý không hoan hỷ này của ta. Ta đã không nói ra với ai cả và sự không hoan hỷ diễn tiến ở trong tâm ý của ta.
BJT 334Bà-la-môn Maṇḍabya, bạn của ta, là một vị đại ẩn sĩ đã bị thọ lãnh (hành phạt) cắm cọc nhọn do trả quả của nghiệp quá khứ.
BJT 335Ta đã chăm sóc và đã phục hồi sức khỏe cho vị ấy. Sau khi cáo từ, ta đã trở về lại chốn ẩn cư của mình.
BJT 336Người bạn Bà-la-môn của ta đã đưa vợ và đứa con trai nhỏ đến. Ba người cùng đi và đã đi đến với tư thế của những người khách.
BJT 337Trong lúc ta đang ngồi tại chốn ẩn cư của mình chuyện trò với những người ấy, đứa bé trai đã ném trái banh và làm cho làm con rắn có nọc độc giận dữ.
BJT 338Sau đó, trong lúc dõi theo lộ trình di chuyển của trái banh, đứa bé trai ấy đã chạm bàn tay vào đầu của con rắn độc.
BJT 339Do sự đụng chạm của đứa bé, con rắn đã trở nên giận dữ. Ỷ lại vào sức mạnh của nọc độc, bị bực bội với sự bực bội cùng tột, con rắn ngay lập tức đã cắn đứa bé.
BJT 340Khi bị cắn bởi con rắn độc, đứa bé đã ngã xuống ở trên nền đất. Vì điều ấy, ta đã trở nên đau buồn; nỗi buồn đau ấy đã tác động đến ta.
BJT 341Sau khi an ủi họ (là những người) đang bị đau khổ, đang bị mũi tên sầu muộn, ta đã thể hiện hành động chân thật tột đỉnh cao quý tối thượng lần đầu tiên rằng:
BJT 342“Là người mong mỏi phước thiện, ta đã thực hành Phạm hạnh với tâm tín thành chỉ được bảy ngày. Từ đó về sau, Phạm hạnh của ta là năm mươi năm và thêm nữa.
BJT 343Ta thực hành (Phạm hạnh) không có nhiệt tình, chỉ qua ngày. Do lời nói chân thật này, hãy có được sự tốt lành, chất độc hãy được tiêu trừ, và Yaññadatta hãy sống.”
BJT 344Với sự chân thật của ta đã được thể hiện, đứa bé Bà-la-môn bị run rẩy bởi sức mạnh của nọc độc đã được tỉnh lại, đã đứng lên, không tật bệnh. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kaṇhadīpāyana là phần thứ mười một.
“Punāparaṁ yadā homi,
kaṇhadīpāyano isi;
Paropaññāsavassāni,
anabhiratocariṁ ahaṁ.
Na koci etaṁ jānāti,
Anabhiratimanaṁ mama;
Ahañhi kassaci nācikkhiṁ,
Arati me carati mānase.
Sabrahmacārī maṇḍabyo,
sahāyo me mahāisi;
Pubbakammasamāyutto,
sūlamāropanaṁ labhi.
Tamahaṁ upaṭṭhahitvāna,
ārogyamanupāpayiṁ;
Āpucchitvāna āgañchiṁ,
yaṁ mayhaṁ sakamassamaṁ.
Sahāyo brāhmaṇo mayhaṁ,
bhariyaṁ ādāya puttakaṁ;
Tayo janā samāgantvā,
āgañchuṁ pāhunāgataṁ.
Sammodamāno tehi saha,
nisinno sakamassame;
Dārako vaṭṭamanukkhipaṁ,
āsīvisamakopayi.
Tato so vaṭṭagataṁ maggaṁ,
anvesanto kumārako;
Āsīvisassa hatthena,
uttamaṅgaṁ parāmasi.
Tassa āmasane kuddho,
sappo visabalassito;
Kupito paramakopena,
aḍaṁsi dārakaṁ khaṇe.
Sahadaṭṭho āsīvisena,
dārako papati bhūmiyaṁ;
Tenāhaṁ dukkhito āsiṁ,
mama vāhasi taṁ dukkhaṁ.
Tyāhaṁ assāsayitvāna,
dukkhite sokasallite;
Paṭhamaṁ akāsiṁ kiriyaṁ,
aggaṁ saccaṁ varuttamaṁ.
‘Sattāhamevāhaṁ pasannacitto,
Puññatthiko acariṁ brahmacariyaṁ;
Athāparaṁ yaṁ caritaṁ mamedaṁ,
Vassāni paññāsasamādhikāni.
Akāmako vāhi ahaṁ carāmi,
Etena saccena suvatthi hotu;
Hataṁ visaṁ jīvatu yaññadatto’.
Saha sacce kate mayhaṁ,
visavegena vedhito;
Abujjhitvāna vuṭṭhāsi,
arogo cāsi māṇavo;
Saccena me samo natthi,
esā me saccapāramī”ti.
Kaṇhadīpāyanacariyaṁ ekādasamaṁ.