BJT 323Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài cá ở trong cái hồ rộng lớn. Và nước ở trong hồ bị khô cạn vào mùa nắng, dưới sự đốt cháy của ánh mặt trời.
BJT 324Do đó, các con quạ, các con diều hâu, các con cò, các con chim ưng và chim ó đã đáp xuống, ăn các con cá ban ngày lẫn ban đêm.
BJT 325Tại nơi ấy, cùng với các thân quyến ta đã bị áp bức, và ta đã suy nghĩ như vầy: “Vậy thì bằng cách nào để ta có thể giải thoát cho thân quyến khỏi khổ đau?”
BJT 326Sau khi xem xét ý nghĩa của các pháp, ta đã nhận ra sự chân thật là nơi nương tựa. Căn cứ vào sự chân thật, ta đã cởi bỏ thảm họa bị diệt chủng ấy cho các thân quyến.
BJT 327Sau khi hồi tưởng về thiện pháp, ta đã suy nghiệm về chân lý tuyệt đối. Ta đã thể hiện hành động chân thật là pháp bền vững và thường còn ở thế gian rằng:
BJT 328“Kể từ lúc ta nhớ được về bản thân, kể từ khi ta đạt đến sự hiểu biết, ta không biết đến việc đã cố ý hãm hại dầu chỉ một sanh mạng. Do lời nói chân thật này, xin Thần Mây hãy đổ mưa xuống.
BJT 329Hỡi Thần Mây, hãy vang lên tiếng sấm, hãy làm tiêu tan kho lương dự trữ của loài quạ, hãy vây hãm loài quạ bằng sự buồn rầu, hãy giải thoát loài cá khỏi nỗi phiền muộn.”
BJT 330Đồng lúc với sự chân thật cao quý được thể hiện, Thần Mây đã gầm lên tiếng sấm và trong giây lát đã đổ mưa xuống, làm tràn ngập vùng đất liền và trũng thấp.
BJT 331Sau khi thể hiện sự tinh tấn tột đỉnh là pháp chân thật cao quý có hình thức như thế, (có sự) tin cậy vào năng lực và uy quyền của sự chân thật, ta đã làm cho đám mây lớn đổ mưa xuống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của vua cá là phần thứ mười.
“Punāparaṁ yadā homi,
maccharājā mahāsare;
Uṇhe sūriyasantāpe,
sare udaka khīyatha.
Tato kākā ca gijjhā ca,
kaṅkā kulalasenakā;
Bhakkhayanti divārattiṁ,
macche upanisīdiya.
Evaṁ cintesahaṁ tattha,
saha ñātīhi pīḷito;
‘Kena nu kho upāyena,
ñātī dukkhā pamocaye’.
Vicintayitvā dhammatthaṁ,
saccaṁ addasa passayaṁ;
Sacce ṭhatvā pamocesiṁ,
ñātīnaṁ taṁ atikkhayaṁ.
Anussaritvā sataṁ dhammaṁ,
paramatthaṁ vicintayaṁ;
Akāsiṁ saccakiriyaṁ,
yaṁ loke dhuvasassataṁ.
‘Yato sarāmi attānaṁ,
yato pattosmi viññutaṁ;
Nābhijānāmi sañcicca,
ekapāṇampi hiṁsitaṁ.
Etena saccavajjena,
pajjunno abhivassatu;
Abhitthanaya pajjunna,
nidhiṁ kākassa nāsaya;
Kākaṁ sokāya randhehi,
macche sokā pamocaya’.
Saha kate saccavare,
pajjunno abhigajjiya;
Thalaṁ ninnañca pūrento,
khaṇena abhivassatha.
Evarūpaṁ saccavaraṁ,
katvā vīriyamuttamaṁ;
Vassāpesiṁ mahāmeghaṁ,
saccatejabalassito;
Saccena me samo natthi,
esā me saccapāramī”ti.
Maccharājacariyaṁ dasamaṁ.
“Then again when I was
a fish king in a great lake,
in the heat of the sun
the water in the lake evaporated.
Then crows and vultures,
herons, hawks, and falcons,
perched near the fish
and devoured them day and night.
There I had the following thought,
being harassed with my relatives:
‘By what means
can I free my relatives from this suffering?’
Considering the value of the Dhamma,
I saw the truth as a support.
Standing in the truth,
I freed my relatives from that holocaust.
Recollecting the true Dhamma,
considered the ultimate goal,
I made a declaration of truth
that would last eternally in the world.
‘So long as I can recall myself,
since I became aware,
I do not recall deliberately
harming even a single living creature.
By this declaration of truth,
may Pajjuna rain down!
Thunder forth, Pajjuna!
Disperse the trove of the crow!
Subject the crow to sorrow,
and free the fish from sorrow!’
As this excellent truth was declared,
Pajjuna thundered forth.
In an instant the rain poured down,
soaking the uplands and valleys.
Having made such supreme effort
for this excellent truth,
I made the great cloud pour down,
relying on the force of the power of truth.
There is no-one to equal my truthfulness:
this is my perfection of truth.”
BJT 323Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài cá ở trong cái hồ rộng lớn. Và nước ở trong hồ bị khô cạn vào mùa nắng, dưới sự đốt cháy của ánh mặt trời.
BJT 324Do đó, các con quạ, các con diều hâu, các con cò, các con chim ưng và chim ó đã đáp xuống, ăn các con cá ban ngày lẫn ban đêm.
BJT 325Tại nơi ấy, cùng với các thân quyến ta đã bị áp bức, và ta đã suy nghĩ như vầy: “Vậy thì bằng cách nào để ta có thể giải thoát cho thân quyến khỏi khổ đau?”
BJT 326Sau khi xem xét ý nghĩa của các pháp, ta đã nhận ra sự chân thật là nơi nương tựa. Căn cứ vào sự chân thật, ta đã cởi bỏ thảm họa bị diệt chủng ấy cho các thân quyến.
BJT 327Sau khi hồi tưởng về thiện pháp, ta đã suy nghiệm về chân lý tuyệt đối. Ta đã thể hiện hành động chân thật là pháp bền vững và thường còn ở thế gian rằng:
BJT 328“Kể từ lúc ta nhớ được về bản thân, kể từ khi ta đạt đến sự hiểu biết, ta không biết đến việc đã cố ý hãm hại dầu chỉ một sanh mạng. Do lời nói chân thật này, xin Thần Mây hãy đổ mưa xuống.
BJT 329Hỡi Thần Mây, hãy vang lên tiếng sấm, hãy làm tiêu tan kho lương dự trữ của loài quạ, hãy vây hãm loài quạ bằng sự buồn rầu, hãy giải thoát loài cá khỏi nỗi phiền muộn.”
BJT 330Đồng lúc với sự chân thật cao quý được thể hiện, Thần Mây đã gầm lên tiếng sấm và trong giây lát đã đổ mưa xuống, làm tràn ngập vùng đất liền và trũng thấp.
BJT 331Sau khi thể hiện sự tinh tấn tột đỉnh là pháp chân thật cao quý có hình thức như thế, (có sự) tin cậy vào năng lực và uy quyền của sự chân thật, ta đã làm cho đám mây lớn đổ mưa xuống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của vua cá là phần thứ mười.
“Punāparaṁ yadā homi,
maccharājā mahāsare;
Uṇhe sūriyasantāpe,
sare udaka khīyatha.
Tato kākā ca gijjhā ca,
kaṅkā kulalasenakā;
Bhakkhayanti divārattiṁ,
macche upanisīdiya.
Evaṁ cintesahaṁ tattha,
saha ñātīhi pīḷito;
‘Kena nu kho upāyena,
ñātī dukkhā pamocaye’.
Vicintayitvā dhammatthaṁ,
saccaṁ addasa passayaṁ;
Sacce ṭhatvā pamocesiṁ,
ñātīnaṁ taṁ atikkhayaṁ.
Anussaritvā sataṁ dhammaṁ,
paramatthaṁ vicintayaṁ;
Akāsiṁ saccakiriyaṁ,
yaṁ loke dhuvasassataṁ.
‘Yato sarāmi attānaṁ,
yato pattosmi viññutaṁ;
Nābhijānāmi sañcicca,
ekapāṇampi hiṁsitaṁ.
Etena saccavajjena,
pajjunno abhivassatu;
Abhitthanaya pajjunna,
nidhiṁ kākassa nāsaya;
Kākaṁ sokāya randhehi,
macche sokā pamocaya’.
Saha kate saccavare,
pajjunno abhigajjiya;
Thalaṁ ninnañca pūrento,
khaṇena abhivassatha.
Evarūpaṁ saccavaraṁ,
katvā vīriyamuttamaṁ;
Vassāpesiṁ mahāmeghaṁ,
saccatejabalassito;
Saccena me samo natthi,
esā me saccapāramī”ti.
Maccharājacariyaṁ dasamaṁ.