BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, phần lãnh thổ này được xa lánh tám điều sai trái đối với các nhà tư tưởng. Và trẫm ở thế gian là người bạn tối thắng của các nhà tư tưởng, trẫm có sự gìn giữ điều được bí mật. Trẫm sẽ gìn giữ điều được bí mật cho đến khi nào trẫm còn sống. Và tánh giác của trẫm đã đạt đến sự tiến triển nhờ vào tám lý do. Hiện nay người học trò thực hành đúng đắn như trẫm là khó kiếm được. Các vị thầy có hai mươi lăm đức tính của vị thầy đối với người học trò. Vị thầy nên thực hành đúng đắn các đức tính ấy. Là hai mươi lăm đức tính nào?
Thưa ngài, ở đây đối với người học trò vị thầy:
- nên thiết lập sự hộ trì một cách thường xuyên liên tục,
- nên biết sự thân cận hay không thân cận,
- nên biết tình trạng xao lãng hay không xao lãng,
- nên biết về trường hợp cho phép nằm,
- nên biết về sự bệnh hoạn,
- nên biết vật thực đã được nhận hay chưa được nhận,
- nên biết về cá tánh,
- nên phân phát vật đã có ở bình bát,
- nên an ủi rằng: ‘Chớ lo sợ, điều tốt lành sẽ đến cho con,’
- nên biết về sự tiếp xúc: ‘Nó tiếp xúc với nhân vật này,’
- nên biết về sự tiếp xúc ở trong làng,
- nên biết về sự tiếp xúc ở trong chỗ cư ngụ,
- không nên cười đùa giỡn hớt với người ấy,
- sau khi nhìn thấy yếu điểm nên nhẫn nại,
- nên là người có hành động thận trọng,
- nên là người có hành động không nhỏ mọn,
- nên là người có hành động không khuất lấp,
- nên là người có hành động không thừa thãi,
- nên thiết lập tâm của người đào tạo rằng: ‘Ta đào tạo người này về các ngành nghề,’
- nên thiết lập tâm về sự tiến triển: ‘Làm thế nào để người này không thể bị suy giảm?’
- nên thiết lập tâm: ‘Ta đào tạo người này trở nên mạnh mẽ với sự mạnh mẽ của việc học tập,’
- nên thiết lập tâm từ,
- không nên bỏ rơi trong các trường hợp bất hạnh,
- không nên xao lãng việc cần làm,
- nên sách tấn bằng pháp khi (học trò) bị lỗi lầm.
Thưa ngài, đây là hai mươi lăm đức tính của vị thầy được dành cho vị thầy. Xin ngài hãy thực hành đúng đắn đối với trẫm bằng các đức tính này. Thưa ngài, có điều hoài nghi đã sanh khởi đến trẫm: Có những câu hỏi đối chọi đã được thuyết giảng bởi đấng Chiến Thắng. Vào thời vị lai xa xôi, sẽ nảy sanh sự tranh cãi về chúng, và vào thời vị lai xa xôi, các bậc giác ngộ như ngài sẽ khó đạt được. Xin ngài hãy cho ý kiến về những câu hỏi ấy của trẫm vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác.”
Vị trưởng lão đã chấp thuận rằng: “Tốt lắm,” rồi đã làm sáng tỏ về mười đức tính cư sĩ dành cho người cư sĩ.
“Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ. Là mười đức tính gì? Tâu đại vương, ở đây người cư sĩ:
- là cùng vui cùng khổ với hội chúng,
- có Pháp là chủ,
- yêu thích việc san sẻ tùy theo khả năng,
- sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì nỗ lực cho sự phát triển,
- là người có chánh kiến, xa rời lễ hội náo nhiệt, không tuyên bố theo giáo chủ khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống,
- thân và khẩu của người này được gìn giữ,
- có sự vui thích trong sự hợp nhất, ưa thích sự hợp nhất, là người không ganh tỵ, và không thực hành giáo pháp theo cách dối trá,
- đã đi đến nương nhờ vào đức Phật,
- đã đi đến nương nhờ vào Giáo Pháp,
- đã đi đến nương nhờ vào Hội Chúng.
Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ.
Tất cả mười đức tính ấy được tìm thấy ở đại vương. Điều ấy được gắn bó, được đạt đến, là thích đáng, là phù hợp đối với đại vương là việc sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì đại vương mong muốn sự phát triển. Tôi cho phép đại vương. Đại vương hãy hỏi tôi một cách thoải mái.”
Dứt Lời Giảng về Phần Mở Đầu các Câu Hỏi Đối Chọi.
Thero “sādhū”ti sampaṭicchitvā dasa upāsakassa upāsakaguṇe paridīpesi.
“Dasa ime, mahārāja, upāsakassa upāsakaguṇā.
Katame dasa, idha, mahārāja, upāsako saṅghena samānasukhadukkho hoti, dhammādhipateyyo hoti, yathābalaṁ saṁvibhāgarato hoti, jinasāsanaparihāniṁ disvā abhivaḍḍhiyā vāyamati.
Sammādiṭṭhiko hoti, apagatakotūhalamaṅgaliko jīvitahetupi na aññaṁ satthāraṁ uddisati, kāyikavācasikañcassa rakkhitaṁ hoti, samaggārāmo hoti samaggarato, anusūyako hoti, na ca kuhanavasena sāsane carati, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti.
Ime kho, mahārāja, dasa upāsakassa upāsakaguṇā, te sabbe guṇā tayi saṁvijjanti, taṁ te yuttaṁ pattaṁ anucchavikaṁ patirūpaṁ yaṁ tvaṁ jinasāsanaparihāniṁ disvā abhivaḍḍhiṁ icchasi, karomi te okāsaṁ, puccha maṁ tvaṁ yathāsukhan”ti.
Meṇḍakapañhārambhakathā niṭṭhitā.
PTS cs 9 Then the Elder agreed to what he had said, and in his turn set out the ten good qualities which ought to be found in a lay disciple: ‘These ten, O king, are the virtues of a lay disciple. He suffers like pain and feels like joy as the Order does. He takes the Doctrine (Dhamma) as his master. He delights in giving so far as he is able to give. On seeing the religion (Dhamma) of the Conqueror decay, he does his best to revive it. He holds right views. Having no passion for excitement, he runs PTS vp En 144 not after any other teacher his life long. He keeps guard over himself in thought and deed. He delights in peace, is a lover of peace. He feels no jealousy, PTS vp Pali 95 and walks not in religion in a quarrelsome spirit. He takes his refuge in the Buddha, he takes his refuge in the Doctrine, he takes his refuge in the Order. These, great king, are the ten good qualities of a lay disciple. They exist all of them in you. Hence is it fit, and right, and becoming in you that, seeing the decay of the religion of the Conqueror, you desire its prosperity. I give you leave. Ask of me whatever you will.’
Here ends the introduction to the solving of dilemmas.
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, phần lãnh thổ này được xa lánh tám điều sai trái đối với các nhà tư tưởng. Và trẫm ở thế gian là người bạn tối thắng của các nhà tư tưởng, trẫm có sự gìn giữ điều được bí mật. Trẫm sẽ gìn giữ điều được bí mật cho đến khi nào trẫm còn sống. Và tánh giác của trẫm đã đạt đến sự tiến triển nhờ vào tám lý do. Hiện nay người học trò thực hành đúng đắn như trẫm là khó kiếm được. Các vị thầy có hai mươi lăm đức tính của vị thầy đối với người học trò. Vị thầy nên thực hành đúng đắn các đức tính ấy. Là hai mươi lăm đức tính nào?
Thưa ngài, ở đây đối với người học trò vị thầy:
- nên thiết lập sự hộ trì một cách thường xuyên liên tục,
- nên biết sự thân cận hay không thân cận,
- nên biết tình trạng xao lãng hay không xao lãng,
- nên biết về trường hợp cho phép nằm,
- nên biết về sự bệnh hoạn,
- nên biết vật thực đã được nhận hay chưa được nhận,
- nên biết về cá tánh,
- nên phân phát vật đã có ở bình bát,
- nên an ủi rằng: ‘Chớ lo sợ, điều tốt lành sẽ đến cho con,’
- nên biết về sự tiếp xúc: ‘Nó tiếp xúc với nhân vật này,’
- nên biết về sự tiếp xúc ở trong làng,
- nên biết về sự tiếp xúc ở trong chỗ cư ngụ,
- không nên cười đùa giỡn hớt với người ấy,
- sau khi nhìn thấy yếu điểm nên nhẫn nại,
- nên là người có hành động thận trọng,
- nên là người có hành động không nhỏ mọn,
- nên là người có hành động không khuất lấp,
- nên là người có hành động không thừa thãi,
- nên thiết lập tâm của người đào tạo rằng: ‘Ta đào tạo người này về các ngành nghề,’
- nên thiết lập tâm về sự tiến triển: ‘Làm thế nào để người này không thể bị suy giảm?’
- nên thiết lập tâm: ‘Ta đào tạo người này trở nên mạnh mẽ với sự mạnh mẽ của việc học tập,’
- nên thiết lập tâm từ,
- không nên bỏ rơi trong các trường hợp bất hạnh,
- không nên xao lãng việc cần làm,
- nên sách tấn bằng pháp khi (học trò) bị lỗi lầm.
Thưa ngài, đây là hai mươi lăm đức tính của vị thầy được dành cho vị thầy. Xin ngài hãy thực hành đúng đắn đối với trẫm bằng các đức tính này. Thưa ngài, có điều hoài nghi đã sanh khởi đến trẫm: Có những câu hỏi đối chọi đã được thuyết giảng bởi đấng Chiến Thắng. Vào thời vị lai xa xôi, sẽ nảy sanh sự tranh cãi về chúng, và vào thời vị lai xa xôi, các bậc giác ngộ như ngài sẽ khó đạt được. Xin ngài hãy cho ý kiến về những câu hỏi ấy của trẫm vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác.”
Vị trưởng lão đã chấp thuận rằng: “Tốt lắm,” rồi đã làm sáng tỏ về mười đức tính cư sĩ dành cho người cư sĩ.
“Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ. Là mười đức tính gì? Tâu đại vương, ở đây người cư sĩ:
- là cùng vui cùng khổ với hội chúng,
- có Pháp là chủ,
- yêu thích việc san sẻ tùy theo khả năng,
- sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì nỗ lực cho sự phát triển,
- là người có chánh kiến, xa rời lễ hội náo nhiệt, không tuyên bố theo giáo chủ khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống,
- thân và khẩu của người này được gìn giữ,
- có sự vui thích trong sự hợp nhất, ưa thích sự hợp nhất, là người không ganh tỵ, và không thực hành giáo pháp theo cách dối trá,
- đã đi đến nương nhờ vào đức Phật,
- đã đi đến nương nhờ vào Giáo Pháp,
- đã đi đến nương nhờ vào Hội Chúng.
Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ.
Tất cả mười đức tính ấy được tìm thấy ở đại vương. Điều ấy được gắn bó, được đạt đến, là thích đáng, là phù hợp đối với đại vương là việc sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì đại vương mong muốn sự phát triển. Tôi cho phép đại vương. Đại vương hãy hỏi tôi một cách thoải mái.”
Dứt Lời Giảng về Phần Mở Đầu các Câu Hỏi Đối Chọi.
Thero “sādhū”ti sampaṭicchitvā dasa upāsakassa upāsakaguṇe paridīpesi.
“Dasa ime, mahārāja, upāsakassa upāsakaguṇā.
Katame dasa, idha, mahārāja, upāsako saṅghena samānasukhadukkho hoti, dhammādhipateyyo hoti, yathābalaṁ saṁvibhāgarato hoti, jinasāsanaparihāniṁ disvā abhivaḍḍhiyā vāyamati.
Sammādiṭṭhiko hoti, apagatakotūhalamaṅgaliko jīvitahetupi na aññaṁ satthāraṁ uddisati, kāyikavācasikañcassa rakkhitaṁ hoti, samaggārāmo hoti samaggarato, anusūyako hoti, na ca kuhanavasena sāsane carati, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti.
Ime kho, mahārāja, dasa upāsakassa upāsakaguṇā, te sabbe guṇā tayi saṁvijjanti, taṁ te yuttaṁ pattaṁ anucchavikaṁ patirūpaṁ yaṁ tvaṁ jinasāsanaparihāniṁ disvā abhivaḍḍhiṁ icchasi, karomi te okāsaṁ, puccha maṁ tvaṁ yathāsukhan”ti.
Meṇḍakapañhārambhakathā niṭṭhitā.