Ở HÀNH ĐỘNG ÁC CỦA NGƯỜI KHÔNG BIẾT
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Người nào giết hại mạng sống trong khi không biết, người ấy tạo ra tội trầm trọng hơn.’ Và thêm nữa, ở phần quy định về Luật đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Người không biết thì không vi phạm tội.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu người giết hại mạng sống trong khi không biết thì tạo ra tội trầm trọng hơn, như thế thì lời nói rằng: ‘Người không biết thì không vi phạm tội’ là sai trái. Nếu người không biết thì không vi phạm tội, như thế thì lời nói rằng: ‘Người giết hại mạng sống trong khi không biết thì tạo ra tội trầm trọng hơn’cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, khó vượt trội, khó vượt qua, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Người nào giết hại mạng sống trong khi không biết, người ấy tạo ra tội trầm trọng hơn.’ Và thêm nữa, ở phần quy định về Luật đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Người không biết thì không vi phạm tội.’ Tuy nhiên, trường hợp ấy có sự khác biệt về ý nghĩa. Sự khác biệt về ý nghĩa ở đây là thế nào? Tâu đại vương, có loại tội vi phạm có sự nhận thức, có loại tội vi phạm không có sự nhận thức. Tâu đại vương, điều đã được đức Thế Tôn nói rằng: ‘Người không biết thì không vi phạm tội’ có liên quan đến loại tội ấy, là loại tội vi phạm có sự nhận thức.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc có nhiều tội
ở hành động ác của người không biết là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘yo ajānanto pāṇātipātaṁ karoti, so balavataraṁ apuññaṁ pasavatī’ti.
Puna ca bhagavatā vinayapaññattiyā bhaṇitaṁ—
‘anāpatti ajānantassā’ti.
Yadi, bhante nāgasena, ajānitvā pāṇātipātaṁ karonto balavataraṁ apuññaṁ pasavati, tena hi ‘anāpatti ajānantassā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi anāpatti ajānantassa, tena hi ‘ajānitvā pāṇātipātaṁ karonto balavataraṁ apuññaṁ pasavatī’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho duruttaro duratikkamo tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘yo ajānanto pāṇātipātaṁ karoti, so balavataraṁ apuññaṁ pasavatī’ti.
Puna ca vinayapaññattiyā bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘anāpatti ajānantassā’ti.
Tattha atthantaraṁ atthi.
Katamaṁ atthantaraṁ?
Atthi, mahārāja, āpatti saññāvimokkhā, atthi āpatti nosaññāvimokkhā.
Yāyaṁ, mahārāja, āpatti saññāvimokkhā, taṁ āpattiṁ ārabbha bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘anāpatti ajānantassā’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Apuññapañho chaṭṭho.
PTS vp En 224 PTS cs 27 ‘Venerable Nāgasena, your people say: “Whosoever deprives a living being of life, without knowing that he does so, he accumulates very serious demerit.” But on the other hand it was laid down by the Blessed One in the Vinaya: “There is no offence to him who acts in ignorance.” If the first passage is correct, the other must be false; and if the second is right, the first must be wrong. This too is a double-pointed problem, hard to master, hard to overcome. It is now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 28 ‘Both the passages you quote, O king, were spoken by the Blessed One. But there is a difference between the sense of the two. And what is that difference? PTS vp Pali 159 There is a kind of offence which is committed without the co-operation of the mind, and there is another kind which has that co-operation. It was with respect to the first of the PTS vp En 225 two that the Blessed One said: “’There is no offence to him who acts in ignorance.”’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to sins in ignorance.
Ở HÀNH ĐỘNG ÁC CỦA NGƯỜI KHÔNG BIẾT
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Người nào giết hại mạng sống trong khi không biết, người ấy tạo ra tội trầm trọng hơn.’ Và thêm nữa, ở phần quy định về Luật đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Người không biết thì không vi phạm tội.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu người giết hại mạng sống trong khi không biết thì tạo ra tội trầm trọng hơn, như thế thì lời nói rằng: ‘Người không biết thì không vi phạm tội’ là sai trái. Nếu người không biết thì không vi phạm tội, như thế thì lời nói rằng: ‘Người giết hại mạng sống trong khi không biết thì tạo ra tội trầm trọng hơn’cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, khó vượt trội, khó vượt qua, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Người nào giết hại mạng sống trong khi không biết, người ấy tạo ra tội trầm trọng hơn.’ Và thêm nữa, ở phần quy định về Luật đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Người không biết thì không vi phạm tội.’ Tuy nhiên, trường hợp ấy có sự khác biệt về ý nghĩa. Sự khác biệt về ý nghĩa ở đây là thế nào? Tâu đại vương, có loại tội vi phạm có sự nhận thức, có loại tội vi phạm không có sự nhận thức. Tâu đại vương, điều đã được đức Thế Tôn nói rằng: ‘Người không biết thì không vi phạm tội’ có liên quan đến loại tội ấy, là loại tội vi phạm có sự nhận thức.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc có nhiều tội
ở hành động ác của người không biết là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘yo ajānanto pāṇātipātaṁ karoti, so balavataraṁ apuññaṁ pasavatī’ti.
Puna ca bhagavatā vinayapaññattiyā bhaṇitaṁ—
‘anāpatti ajānantassā’ti.
Yadi, bhante nāgasena, ajānitvā pāṇātipātaṁ karonto balavataraṁ apuññaṁ pasavati, tena hi ‘anāpatti ajānantassā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi anāpatti ajānantassa, tena hi ‘ajānitvā pāṇātipātaṁ karonto balavataraṁ apuññaṁ pasavatī’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho duruttaro duratikkamo tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘yo ajānanto pāṇātipātaṁ karoti, so balavataraṁ apuññaṁ pasavatī’ti.
Puna ca vinayapaññattiyā bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘anāpatti ajānantassā’ti.
Tattha atthantaraṁ atthi.
Katamaṁ atthantaraṁ?
Atthi, mahārāja, āpatti saññāvimokkhā, atthi āpatti nosaññāvimokkhā.
Yāyaṁ, mahārāja, āpatti saññāvimokkhā, taṁ āpattiṁ ārabbha bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘anāpatti ajānantassā’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Apuññapañho chaṭṭho.