BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí.’ Và còn nữa, ở sự quy định về Luật Ngài đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’ Thưa ngài Nāgasena, về việc đức Thế Tôn bảo hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết sau khi Ngài đã tịch diệt, phải chăng các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết đã được quy định sai, hay là đã được quy định khi không có sự việc (xảy ra), sau khi đã không nhận biết? Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết’ là sai trái. Nếu ở sự quy định về Luật, đức Như Lai đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết,’ như thế thì lời nói: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, tinh vi, tế nhị, vô cùng khôn khéo, vô cùng sâu xa, khó phân giải. Nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy thể hiện sự triển khai về năng lực trí tuệ của ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí.’ Và ở sự quy định về Luật Ngài đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’ Tâu đại vương, đức Như Lai đã nói điều ấy trong khi thử thách các vị tỳ khưu rằng: ‘Sau khi Ta tịch diệt, các đệ tử của Ta, trong khi hết bị ràng buộc với Ta, thì sẽ loại bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết, hay là sẽ gắn bó?’ Tâu đại vương, giống như đức Chuyển Luân Vương có thể nói với các con trai như vầy: ‘Này các con, lãnh thổ rộng lớn này được bao bọc bởi đại dương ở tất cả các phương. Này các con, để duy trì chừng ấy (lãnh thổ) bằng binh lực là việc làm khó khăn. Này các con, sau khi ta băng hà các con hãy buông bỏ các khu vực biên địa.’ Tâu đại vương, phải chăng sau khi vua cha băng hà các hoàng tử có thể buông lơi tất cả các khu vực biên địa ấy là phần lãnh thổ đã nắm trong tay?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, các vị vua còn ham muốn nhiều hơn. Các hoàng tử vì lòng tham đối với vương quốc có thể tóm thâu lãnh thổ hai lần ba lần hơn thế nữa, làm sao họ có thể buông lơi phần lãnh thổ đã nắm trong tay?”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi thử thách các vị tỳ khưu đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’
Tâu đại vương, nhằm sự giải thoát hoàn toàn khổ đau, những người con trai của đức Phật với lòng tham muốn về Giáo Pháp có thể gìn giữ còn nhiều hơn một trăm năm mươi điều học, làm sao các vị lại buông lơi điều học đã được quy định theo truyền thống?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà đức Thế Tôn đã nói về ‘các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết,’ ở đây đám người này là mê muội, bị sanh khởi nỗi phân vân, bị tác động, bị khởi lên sự nghi ngờ. Các điều học nhỏ nhặt ấy là các điều nào? Các điều học tiểu tiết là các điều nào?”
“Tâu đại vương, điều học nhỏ nhặt là tội dukkaṭa (đã làm sai trái). Điều học tiểu tiết là tội dubbhāsita (đã nói sai trái). Hai loại này là các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết. Tâu đại vương, các vị đại trưởng lão trước đây đã nêu lên sự phân vân về điều này. Do đức Thế Tôn mà câu hỏi này đã được nêu ra; nó cũng đã gây ra sự không đồng nhất trong cuộc thảo luận về việc duy trì Giáo Pháp bởi các vị ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều bí ẩn của đấng Chiến Thắng bị bỏ quên bấy lâu, vào lúc này hôm nay đã được mở ra, đã được làm rõ ràng ở thế gian.”
Câu hỏi về các điều nhỏ nhặt và tiểu tiết là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti.
Puna ca vinayapaññattiyā evaṁ bhaṇitaṁ—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni duppaññattāni, udāhu avatthusmiṁ ajānitvā paññattāni, yaṁ bhagavā attano accayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanāpeti?
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti, tena hi ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena vinayapaññattiyā evaṁ bhaṇitaṁ—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti tena hi ‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho sukhumo nipuṇo gambhīro sugambhīro dunnijjhāpayo, so tavānuppatto, tattha te ñāṇabalavipphāraṁ dassehī”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti, vinayapaññattiyāpi evaṁ bhaṇitaṁ—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti, taṁ pana, mahārāja, tathāgato bhikkhū vīmaṁsamāno āha—
‘ukkalessanti nu kho mama sāvakā mayā vissajjāpīyamānā mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni, udāhu ādiyissantī’ti.
Yathā, mahārāja, cakkavattī rājā putte evaṁ vadeyya ‘ayaṁ kho, tātā, mahājanapado sabbadisāsu sāgarapariyanto, dukkaro, tātā, tāvatakena balena dhāretuṁ, etha tumhe, tātā, mamaccayena paccante paccante dese pajahathā’ti.
Api nu kho te, mahārāja, kumārā pituaccayena hatthagate janapade sabbe te paccante paccante dese muñceyyun”ti?
“Na hi, bhante, rājato, bhante, luddhatarā kumārā rajjalobhena taduttariṁ diguṇatiguṇaṁ janapadaṁ pariggaṇheyyuṁ, kiṁ pana te hatthagataṁ janapadaṁ muñceyyun”ti?
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato bhikkhū vīmaṁsamāno evamāha—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti.
Dukkhaparimuttiyā, mahārāja, buddhaputtā dhammalobhena aññampi uttariṁ diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ gopeyyuṁ, kiṁ pana pakatipaññattaṁ sikkhāpadaṁ muñceyyun”ti?
“Bhante nāgasena, yaṁ bhagavā āha—
‘khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’ti, etthāyaṁ jano sammūḷho vimatijāto adhikato saṁsayapakkhando.
Katamāni tāni khuddakāni sikkhāpadāni, katamāni anukhuddakāni sikkhāpadānī”ti?
“Dukkaṭaṁ, mahārāja, khuddakaṁ sikkhāpadaṁ, dubbhāsitaṁ anukhuddakaṁ sikkhāpadaṁ, imāni dve khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni, pubbakehipi, mahārāja, mahātherehi ettha vimati uppāditā, tehipi ekajjhaṁ na kato dhammasaṇṭhitipariyāye bhagavatā eso pañho upadiṭṭho”ti.
“Ciranikkhittaṁ, bhante nāgasena, jinarahassaṁ ajjetarahi loke vivaṭaṁ pākaṭaṁ katan”ti.
Khuddānukhuddakapañho paṭhamo.
PTS cs 1 ‘Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One: “It is by insight, O Bhikkhus, that I preach the law, not without insight.” On the other hand he said of the regulations of the Vinaya: “When I am gone, Ānanda, let the Order, if it should so wish, abolish all the lesser and minor precepts.” Were then these lesser and minor precepts wrongly laid down, or established in ignorance and without due cause, that the Blessed One allowed them to be revoked after his death? If the first statement had been true, the second would have been wrong. If the second statement were really made, PTS vp Pali 143 Then the first was false. This too is a double-headed problem, fine, subtle, abstruse, deep, profound, and hard to expound. It is now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 2 ‘In both cases, O king, the Blessed One said as you have declared. But in the second case it was to test the Bhikkhus that he said it, to try whether, if leave were granted them, they would, after his death, revoke the lesser and minor regulations, or still adhere to them. It runs as if a PTS vp En 203 king of kings were to say to his sons: “This great country, my children, reaches to the sea on every side. It is a hard thing to maintain it with the forces we have at our disposal. So when I am gone you had better, my children, abandon the outlying districts along the border.” Now would the princes, O king, on the death of their father, give up those outlying districts, provinces already in their power?’
‘No indeed, Sir. Kings are grasping. The princes might, in the lust of power, subjugate an extent of country twice or thrice the size of what they had, but they would never give up what they already possessed.’
‘Just so was it, O king, that the Tathāgata to test the Bhikkhus said: “When I am gone, Ānanda, let the Order, if it should so wish, abolish all the lesser and minor precepts.” But the sons of the Buddha, O king, in their lust after the law, and for emancipation from sorrow, might keep two hundred and fifty regulations, but would never give up any one that had been laid down in ordinary course.’
PTS cs 3 ‘Venerable Nāgasena, when the Blessed One referred to “lesser and minor precepts,” this people might therein PTS vp Pali 144 be bewildered, and fall into doubt, and find matter for discussion, and be lost in hesitation, as to which were the lesser, and which the minor precepts.’
‘The lesser errors in conduct, O king, are the lesser precepts, and the lesser errors in speech are the minor precepts: and these two together make up therefore “the lesser and minor precepts.” the PTS vp En 204 leading Elders too of old, O king, were in doubt about this matter, and they were not unanimous on the point at the Council held for the fixing of the text of the Scriptures. And the Blessed One foresaw that this problem would arise.’
‘Then this dark saying of the Conquerors, Nāgasena, which has lain hid so long, has been now to-day uncovered in the face of the world, and made clear to all.’
Here ends the problem as to the revocation of rules.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí.’ Và còn nữa, ở sự quy định về Luật Ngài đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’ Thưa ngài Nāgasena, về việc đức Thế Tôn bảo hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết sau khi Ngài đã tịch diệt, phải chăng các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết đã được quy định sai, hay là đã được quy định khi không có sự việc (xảy ra), sau khi đã không nhận biết? Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết’ là sai trái. Nếu ở sự quy định về Luật, đức Như Lai đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết,’ như thế thì lời nói: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, tinh vi, tế nhị, vô cùng khôn khéo, vô cùng sâu xa, khó phân giải. Nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy thể hiện sự triển khai về năng lực trí tuệ của ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí.’ Và ở sự quy định về Luật Ngài đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’ Tâu đại vương, đức Như Lai đã nói điều ấy trong khi thử thách các vị tỳ khưu rằng: ‘Sau khi Ta tịch diệt, các đệ tử của Ta, trong khi hết bị ràng buộc với Ta, thì sẽ loại bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết, hay là sẽ gắn bó?’ Tâu đại vương, giống như đức Chuyển Luân Vương có thể nói với các con trai như vầy: ‘Này các con, lãnh thổ rộng lớn này được bao bọc bởi đại dương ở tất cả các phương. Này các con, để duy trì chừng ấy (lãnh thổ) bằng binh lực là việc làm khó khăn. Này các con, sau khi ta băng hà các con hãy buông bỏ các khu vực biên địa.’ Tâu đại vương, phải chăng sau khi vua cha băng hà các hoàng tử có thể buông lơi tất cả các khu vực biên địa ấy là phần lãnh thổ đã nắm trong tay?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, các vị vua còn ham muốn nhiều hơn. Các hoàng tử vì lòng tham đối với vương quốc có thể tóm thâu lãnh thổ hai lần ba lần hơn thế nữa, làm sao họ có thể buông lơi phần lãnh thổ đã nắm trong tay?”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi thử thách các vị tỳ khưu đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’
Tâu đại vương, nhằm sự giải thoát hoàn toàn khổ đau, những người con trai của đức Phật với lòng tham muốn về Giáo Pháp có thể gìn giữ còn nhiều hơn một trăm năm mươi điều học, làm sao các vị lại buông lơi điều học đã được quy định theo truyền thống?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà đức Thế Tôn đã nói về ‘các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết,’ ở đây đám người này là mê muội, bị sanh khởi nỗi phân vân, bị tác động, bị khởi lên sự nghi ngờ. Các điều học nhỏ nhặt ấy là các điều nào? Các điều học tiểu tiết là các điều nào?”
“Tâu đại vương, điều học nhỏ nhặt là tội dukkaṭa (đã làm sai trái). Điều học tiểu tiết là tội dubbhāsita (đã nói sai trái). Hai loại này là các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết. Tâu đại vương, các vị đại trưởng lão trước đây đã nêu lên sự phân vân về điều này. Do đức Thế Tôn mà câu hỏi này đã được nêu ra; nó cũng đã gây ra sự không đồng nhất trong cuộc thảo luận về việc duy trì Giáo Pháp bởi các vị ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều bí ẩn của đấng Chiến Thắng bị bỏ quên bấy lâu, vào lúc này hôm nay đã được mở ra, đã được làm rõ ràng ở thế gian.”
Câu hỏi về các điều nhỏ nhặt và tiểu tiết là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti.
Puna ca vinayapaññattiyā evaṁ bhaṇitaṁ—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni duppaññattāni, udāhu avatthusmiṁ ajānitvā paññattāni, yaṁ bhagavā attano accayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanāpeti?
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti, tena hi ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena vinayapaññattiyā evaṁ bhaṇitaṁ—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti tena hi ‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho sukhumo nipuṇo gambhīro sugambhīro dunnijjhāpayo, so tavānuppatto, tattha te ñāṇabalavipphāraṁ dassehī”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi no anabhiññāyā’ti, vinayapaññattiyāpi evaṁ bhaṇitaṁ—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti, taṁ pana, mahārāja, tathāgato bhikkhū vīmaṁsamāno āha—
‘ukkalessanti nu kho mama sāvakā mayā vissajjāpīyamānā mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni, udāhu ādiyissantī’ti.
Yathā, mahārāja, cakkavattī rājā putte evaṁ vadeyya ‘ayaṁ kho, tātā, mahājanapado sabbadisāsu sāgarapariyanto, dukkaro, tātā, tāvatakena balena dhāretuṁ, etha tumhe, tātā, mamaccayena paccante paccante dese pajahathā’ti.
Api nu kho te, mahārāja, kumārā pituaccayena hatthagate janapade sabbe te paccante paccante dese muñceyyun”ti?
“Na hi, bhante, rājato, bhante, luddhatarā kumārā rajjalobhena taduttariṁ diguṇatiguṇaṁ janapadaṁ pariggaṇheyyuṁ, kiṁ pana te hatthagataṁ janapadaṁ muñceyyun”ti?
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato bhikkhū vīmaṁsamāno evamāha—
‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti.
Dukkhaparimuttiyā, mahārāja, buddhaputtā dhammalobhena aññampi uttariṁ diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ gopeyyuṁ, kiṁ pana pakatipaññattaṁ sikkhāpadaṁ muñceyyun”ti?
“Bhante nāgasena, yaṁ bhagavā āha—
‘khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’ti, etthāyaṁ jano sammūḷho vimatijāto adhikato saṁsayapakkhando.
Katamāni tāni khuddakāni sikkhāpadāni, katamāni anukhuddakāni sikkhāpadānī”ti?
“Dukkaṭaṁ, mahārāja, khuddakaṁ sikkhāpadaṁ, dubbhāsitaṁ anukhuddakaṁ sikkhāpadaṁ, imāni dve khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni, pubbakehipi, mahārāja, mahātherehi ettha vimati uppāditā, tehipi ekajjhaṁ na kato dhammasaṇṭhitipariyāye bhagavatā eso pañho upadiṭṭho”ti.
“Ciranikkhittaṁ, bhante nāgasena, jinarahassaṁ ajjetarahi loke vivaṭaṁ pākaṭaṁ katan”ti.
Khuddānukhuddakapañho paṭhamo.