BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: —Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là:—Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta,’ như thế thì trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài nói rằng: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm,’ lời nói ấy là sai trái.
Nếu trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm,’ như thế thì lời nói rằng:—Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: —Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta.’ Và trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm.’ Tâu đại vương, ở câu hỏi này, một ý nghĩa có sự thiếu sót, một ý nghĩa không có sự thiếu sót. Tâu đại vương, đức Như Lai không phụ thuộc vào tập thể, trái lại tập thể phụ thuộc vào đức Như Lai. Tâu đại vương, điều này là quan niệm chung: ‘tôi,’ ‘của tôi,’ điều này không phải là ý nghĩa tuyệt đối. Tâu đại vương, đối với đức Như Lai việc được lìa xa là điều ưa thích, việc được lìa xa là điều yêu mến. Đối với đức Như Lai không có sự nắm giữ như là ‘của tôi.’ Tuy nhiên, do sự bám víu mà có sự nương nhờ. Tâu đại vương, giống như địa cầu đất là nơi nâng đỡ cho các chúng sanh có sự cư ngụ ở mặt đất. Và các chúng sanh này cư ngụ ở địa cầu. Nhưng đại địa cầu không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai là nơi nâng đỡ cho tất cả chúng sanh, và ban cho chỗ ẩn náu. Và các chúng sanh này có đức Như Lai là chốn nâng đỡ. Nhưng đức Như Lai không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như đám mây to lớn khổng lồ trong khi đổ mưa thì ban cho sự tăng trưởng của cỏ, cây, thú vật, loài người, rồi duy trì sự tiếp nối. Và tất cả các chúng sanh này có sự sinh tồn nhờ vào mưa, nhưng đám mây lớn không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai làm sanh ra và duy trì các pháp thiện đối với tất cả các chúng sanh, và tất cả các chúng sanh này có sự sinh tồn nhờ có đấng Đạo Sư, nhưng đức Như Lai không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Điều ấy có nguyên nhân là gì? Sự dứt bỏ đối với tà kiến về bản thân (tùy ngã kiến).”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ bằng nhiều cách thức với nhiều lý lẽ, điều thâm sâu đã được làm rõ, nút thắt đã được mở ra, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị đổ vỡ, (Pháp) nhãn đã được sanh khởi cho những người con trai của đấng Chiến Thắng.”
Câu hỏi về việc quản trị hội chúng tỳ khưu là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti.
Puna ca metteyyassa bhagavato sabhāvaguṇaṁ paridīpayamānena bhagavatā evaṁ bhaṇitaṁ—
‘so anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpi ahaṁ etarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti, tena hi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘so anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpi ahaṁ etarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmī’ti, tena hi ‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti tampi vacanaṁ micchā, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti.
Puna ca metteyyassāpi bhagavato sabhāvaguṇaṁ paridīpayamānena bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘so anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpi ahaṁ etarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmī’ti.
Etasmiñca, mahārāja, pañhe eko attho sāvaseso, eko attho niravaseso.
Na, mahārāja, tathāgato parisāya anugāmiko, parisā pana tathāgatassa anugāmikā.
Sammuti, mahārāja, esā ‘ahan’ti ‘mamā’ti, na paramattho eso, vigataṁ, mahārāja, tathāgatassa pemaṁ, vigato sineho, ‘mayhan’tipi tathāgatassa gahaṇaṁ natthi, upādāya pana avassayo hoti.
Yathā, mahārāja, pathavī bhūmaṭṭhānaṁ sattānaṁ patiṭṭhā hoti upassayaṁ, pathaviṭṭhā cete sattā, na ca mahāpathaviyā ‘mayhete’ti apekkhā hoti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbasattānaṁ patiṭṭhā hoti upassayaṁ, tathāgataṭṭhā cete sattā, na ca tathāgatassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, mahatimahāmegho abhivassanto tiṇarukkhapasumanussānaṁ vuḍḍhiṁ deti santatiṁ anupāleti.
Vuṭṭhūpajīvino cete sattā sabbe, na ca mahāmeghassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti.
Evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbasattānaṁ kusaladhamme janeti anupāleti, satthūpajīvino cete sattā sabbe, na ca tathāgatassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti.
Taṁ kissa hetu?
Attānudiṭṭhiyā pahīnattā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho bahuvidhehi kāraṇehi, gambhīro uttānīkato, gaṇṭhi bhinno, gahanaṁ agahanaṁ kataṁ, andhakāro āloko kato, bhaggā paravādā, jinaputtānaṁ cakkhuṁ uppāditan”ti.
Bhikkhusaṅghapariharaṇapañho sattamo.
PTS cs 29 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One: “Now the Tathāgata thinks not, Ānanda, that is he who should lead the brotherhood, or that the Order is dependent upon him.” But on the other hand when describing the virtues and the nature of Metteyya, the Blessed One, he said thus: “He will be the leader of a brotherhood several thousands in number, as I am now the leader of a brotherhood several hundreds in number.” If the first statement be right, then the second is wrong. If the second passage is right, the first must be false. This too is a double-pointed problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 30 ‘You quote both passages correctly, O king. But in the dilemma that you put the sense in the one passage is inclusive, in the other it is not. It is not the Tathāgata, O king, who seeks after a following, but the followers who seek after him. PTS vp En 226 PTS vp Pali 160 It is a mere commonly received opinion, O king, that “This is I,” or “This is mine,” it is not a transcendental truth. Attachment is a frame of mind put away by the Tathāgata, he has put away clinging, he is free from the delusion that “This is mine,” he lives only to be a help to others. Just as the earth, O king, is a support to the beings in the world, and an asylum to them, and they depend upon it, but the broad earth has no longing after them in the idea that “These belong to me"—just so is the Tathāgata a support and an asylum to all beings, but has no longing after them in the idea that “These belong to me.” And just as a mighty rain cloud, O king, pours out its rain, and gives nourishment to grass and trees, to cattle and to men, and maintains the lineage thereof, and all these creatures depend for their livelihood upon its rain, but the cloud has no feelings of longing in the idea that “These are mine"—just so does the Tathāgata give all beings to know what are good qualities and maintains them in goodness, and all beings have their life in him, but the Tathāgata has no feelings of longing in the idea that “These are mine.” And why is it so? Because of his having abandoned all self-regard.’
‘Very good, Nāgasena! the problem has been well solved by variety of examples. The jungle has been made open, the darkness has been turned PTS vp En 227 to light, the arguments of the adversaries have been broken down, insight has been awakened in the sons of the Conqueror.
Here ends the dilemma as to the Buddha and his following.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: —Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là:—Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta,’ như thế thì trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài nói rằng: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm,’ lời nói ấy là sai trái.
Nếu trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm,’ như thế thì lời nói rằng:—Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: —Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta.’ Và trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm.’ Tâu đại vương, ở câu hỏi này, một ý nghĩa có sự thiếu sót, một ý nghĩa không có sự thiếu sót. Tâu đại vương, đức Như Lai không phụ thuộc vào tập thể, trái lại tập thể phụ thuộc vào đức Như Lai. Tâu đại vương, điều này là quan niệm chung: ‘tôi,’ ‘của tôi,’ điều này không phải là ý nghĩa tuyệt đối. Tâu đại vương, đối với đức Như Lai việc được lìa xa là điều ưa thích, việc được lìa xa là điều yêu mến. Đối với đức Như Lai không có sự nắm giữ như là ‘của tôi.’ Tuy nhiên, do sự bám víu mà có sự nương nhờ. Tâu đại vương, giống như địa cầu đất là nơi nâng đỡ cho các chúng sanh có sự cư ngụ ở mặt đất. Và các chúng sanh này cư ngụ ở địa cầu. Nhưng đại địa cầu không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai là nơi nâng đỡ cho tất cả chúng sanh, và ban cho chỗ ẩn náu. Và các chúng sanh này có đức Như Lai là chốn nâng đỡ. Nhưng đức Như Lai không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như đám mây to lớn khổng lồ trong khi đổ mưa thì ban cho sự tăng trưởng của cỏ, cây, thú vật, loài người, rồi duy trì sự tiếp nối. Và tất cả các chúng sanh này có sự sinh tồn nhờ vào mưa, nhưng đám mây lớn không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai làm sanh ra và duy trì các pháp thiện đối với tất cả các chúng sanh, và tất cả các chúng sanh này có sự sinh tồn nhờ có đấng Đạo Sư, nhưng đức Như Lai không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Điều ấy có nguyên nhân là gì? Sự dứt bỏ đối với tà kiến về bản thân (tùy ngã kiến).”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ bằng nhiều cách thức với nhiều lý lẽ, điều thâm sâu đã được làm rõ, nút thắt đã được mở ra, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị đổ vỡ, (Pháp) nhãn đã được sanh khởi cho những người con trai của đấng Chiến Thắng.”
Câu hỏi về việc quản trị hội chúng tỳ khưu là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti.
Puna ca metteyyassa bhagavato sabhāvaguṇaṁ paridīpayamānena bhagavatā evaṁ bhaṇitaṁ—
‘so anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpi ahaṁ etarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti, tena hi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘so anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpi ahaṁ etarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmī’ti, tena hi ‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti tampi vacanaṁ micchā, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti “ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti vā, “mamuddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā’ti.
Puna ca metteyyassāpi bhagavato sabhāvaguṇaṁ paridīpayamānena bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘so anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpi ahaṁ etarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmī’ti.
Etasmiñca, mahārāja, pañhe eko attho sāvaseso, eko attho niravaseso.
Na, mahārāja, tathāgato parisāya anugāmiko, parisā pana tathāgatassa anugāmikā.
Sammuti, mahārāja, esā ‘ahan’ti ‘mamā’ti, na paramattho eso, vigataṁ, mahārāja, tathāgatassa pemaṁ, vigato sineho, ‘mayhan’tipi tathāgatassa gahaṇaṁ natthi, upādāya pana avassayo hoti.
Yathā, mahārāja, pathavī bhūmaṭṭhānaṁ sattānaṁ patiṭṭhā hoti upassayaṁ, pathaviṭṭhā cete sattā, na ca mahāpathaviyā ‘mayhete’ti apekkhā hoti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbasattānaṁ patiṭṭhā hoti upassayaṁ, tathāgataṭṭhā cete sattā, na ca tathāgatassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, mahatimahāmegho abhivassanto tiṇarukkhapasumanussānaṁ vuḍḍhiṁ deti santatiṁ anupāleti.
Vuṭṭhūpajīvino cete sattā sabbe, na ca mahāmeghassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti.
Evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbasattānaṁ kusaladhamme janeti anupāleti, satthūpajīvino cete sattā sabbe, na ca tathāgatassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti.
Taṁ kissa hetu?
Attānudiṭṭhiyā pahīnattā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho bahuvidhehi kāraṇehi, gambhīro uttānīkato, gaṇṭhi bhinno, gahanaṁ agahanaṁ kataṁ, andhakāro āloko kato, bhaggā paravādā, jinaputtānaṁ cakkhuṁ uppāditan”ti.
Bhikkhusaṅghapariharaṇapañho sattamo.