ĐỐI VỚI NĂNG LỰC CỦA THẦN THÔNG
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp. Này Ānanda, Như Lai trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Từ nay cho đến hết ba tháng, Như Lai sẽ viên tịch Niết Bàn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp,’ như thế thì giới hạn ba tháng là sai trái. Nếu việc giới hạn ba tháng là sự thật, như thế thì lời nói rằng: ‘có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp’ là sai trái. Đối với các đức Như Lai, không có việc đã phát biểu về điều không có cơ sở. Chư Phật Thế Tôn có lời nói không rồ dại, có lời nói chân thật, có lời nói không hai nghĩa. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, thâm sâu, vô cùng khôn khéo, khó phân giải. Nó được dành cho ngài. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Xin ngài hãy đánh đổ học thuyết của những kẻ khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Và giới hạn ba tháng đã được nói đến. Và hơn nữa, kiếp ấy được gọi là kiếp của tuổi thọ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn không phải là đang tán dương năng lực của bản thân mà đã nói như vậy. Tuy nhiên, tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi đang tán dương năng lực của thần thông mà đã nói như vậy: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Tâu đại vương, giống như con ngựa thuần chủng của đức vua có sự di chuyển nhanh với tốc độ của gió. Đức vua trong khi tán dương năng lực về tốc độ của con ngựa có thể nói ở giữa dân chúng gồm có thị dân, dân chúng, nhân công, binh lính, Bà-la-môn, gia chủ, và các quan đại thần như vầy: ‘Này các khanh, con ngựa quý giá này của trẫm trong khi mong muốn có thể đi dọc theo trái đất được bao quanh bởi nước của biển cả rồi đi về đây trong giây lát.’ Dầu không phô bày sự di chuyển nhanh chóng cho hội chúng ấy, nhưng sự nhanh chóng ấy của nó được biết đến, và nó có khả năng đi dọc theo trái đất được bao quanh bởi nước của biển cả trong giây lát.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn không phải là đang tán dương năng lực của bản thân mà đã nói như vậy. Tuy nhiên, điều ấy đã được nói (bởi đức Thế Tôn) sau khi ngồi xuống ở giữa các vị A-la-hán có ba Minh, sáu Thắng Trí, không ô nhiễm, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, cùng với chư Thiên và nhân loại rằng: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp. Này Ānanda, Như Lai trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Tâu đại vương, và năng lực thần thông ấy của đức Thế Tôn được biết đến, và đức Thế Tôn có khả năng tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp nhờ vào năng lực thần thông. Nhưng đức Thế Tôn không phô bày năng lực thần thông cho hội chúng ấy. Tâu đại vương, đức Thế Tôn không có mong muốn đối với tất cả các hữu, và đối với đức Thế Tôn tất cả các hữu là bị chê trách. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, cũng như phân bò dầu chỉ chút ít cũng có mùi thối, này các tỳ khưu, tương tợ y như thế Ta không ca ngợi về sự hiện hữu dầu chỉ chút ít, thậm chí chỉ là thời gian của một khảy móng tay.’ Tâu đại vương, sau khi xem tất cả các hữu, các cảnh giới, và các nguồn đưa đến tái sanh là tương đương với phân bò, phải chăng đức Thế Tôn còn thể hiện sự ước muốn và tham đắm ở các hữu thông qua năng lực của thần thông?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy trong khi tán dương năng lực của thần thông đức Thế Tôn đã gầm lên tiếng rống sư tử của bậc Giác Ngộ có hình thức như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự nhận thức
đối với năng lực của thần thông là thứ mười.
Phẩm Năng Lực của Thần Thông là phẩm thứ nhất.
(Ở phẩm này có mười câu hỏi)
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti, tena hi temāsaparicchedo micchā.
Yadi, bhante, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti, tena hi ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Natthi tathāgatānaṁ aṭṭhāne gajjitaṁ.
Amoghavacanā buddhā bhagavanto tathavacanā advejjhavacanā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro sunipuṇo dunnijjhāpayo tavānuppatto, bhindetaṁ diṭṭhijālaṁ, ekaṁse ṭhapaya, bhinda paravādan”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti, temāsaparicchedo ca bhaṇito, so ca pana kappo āyukappo vuccati.
Na, mahārāja, bhagavā attano balaṁ kittayamāno evamāha, iddhibalaṁ pana, mahārāja, bhagavā parikittayamāno evamāha—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti.
Yathā, mahārāja, rañño assājānīyo bhaveyya sīghagati anilajavo, tassa rājā javabalaṁ parikittayanto sanegamajānapadabhaṭabalabrāhmaṇagahapatikaamaccajanamajjhe evaṁ vadeyya ‘ākaṅkhamāno me, bho, ayaṁ hayavaro sāgarajalapariyantaṁ mahiṁ anuvicaritvā khaṇena idhāgaccheyyā’ti, na ca taṁ javagatiṁ tassaṁ parisāyaṁ dasseyya, vijjati ca so javo tassa, samattho ca so khaṇena sāgarajalapariyantaṁ mahiṁ anuvicarituṁ.
Evameva kho, mahārāja, bhagavā attano iddhibalaṁ parikittayamāno evamāha, tampi tevijjānaṁ chaḷabhiññānaṁ arahantānaṁ vimalakhīṇāsavānaṁ devamanussānañca majjhe nisīditvā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Vijjati ca taṁ, mahārāja, iddhibalaṁ bhagavato, samattho ca bhagavā iddhibalena kappaṁ vā ṭhātuṁ kappāvasesaṁ vā, na ca bhagavā taṁ iddhibalaṁ tassaṁ parisāyaṁ dasseti, anatthiko, mahārāja, bhagavā sabbabhavehi, garahitā ca tathāgatassa sabbabhavā.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘seyyathāpi, bhikkhave, appamattakopi gūtho duggandho hoti;
evameva kho ahaṁ, bhikkhave, appamattakampi bhavaṁ na vaṇṇemi antamaso accharāsaṅghātamattampī’ti api nu kho, mahārāja, bhagavā sabbabhavagatiyoniyo gūthasamaṁ disvā iddhibalaṁ nissāya bhavesu chandarāgaṁ kareyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, bhagavā iddhibalaṁ parikittayamāno evarūpaṁ buddhasīhanādamabhinadī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Iddhibaladassanapañho dasamo.
Iddhibalavaggo paṭhamo.
Imasmiṁ vagge dasa pañhā.
PTS cs 71 ‘Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One: “The Tathāgata, Ānanda, has thought out and thoroughly practised, developed, accumulated, and ascended to the very height of the four paths to saintship, and so mastered them as to be able to use them as a means of mental advancement, and as a basis for edification—and he therefore, Ānanda, PTS vp En 199 should he desire it, might remain alive for a Kalpa, or for that portion of a Kalpa which has yet to run.” And again he said: “At the end of three months from this time the Tathāgata will die.” If the first of these statements were true, then the limit of three months must have been false. If the second were true, PTS vp Pali 141 Then the first must have been false. For the Tathāgatas boast not without an occasion, the Blessed Buddhas speak no misleading words, but they utter truth, and speak sincerely. This too is a double-headed dilemma, profound, subtle, hard to expound. It is now put to you. Tear in sunder this net of heresy, put it on one side, break in pieces the arguments of the adversary!’
PTS cs 72 ‘Both these statements, O king, were made by the Blessed One. But Kalpa in that connection means the duration of a man’s life. And the Blessed One, O king, was not exalting his own power when he said so, but he was exalting the power of Saintship. It was as if a king were possessed of a horse most swift of foot, who could run like the wind. And in order to exalt the power of his speed the king were to say in the presence of all his court-townsfolk and country folk, hired servants and men of war, brahmins, nobles, and officers: “If he wished it this noble steed of mine could cross the earth to its ocean boundary, and be back here again, in a moment!” PTS vp En 200 Now though he did not try to test the horse’s speed in the presence of the court, yet it had that speed, and was, really able to go along over the earth to its ocean boundary in a moment. Just so, O king, the Blessed One spake as he did in praise of the power of saintship, and so spake seated in the midst of gods and men, and of the men of the threefold wisdom and the sixfold insight—the Arahats pure and free from stain—when he said: “The Tathāgata, Ānanda, has thought out and practised, developed, accumulated, and ascended to the very height of the four powers of saintship, and so mastered them as to be able to use them as a means of mental advancement, as a basis for edification. And he therefore, Ānanda, should he desire it, might remain alive for a Kalpa, or the part of a Kalpa that has yet to run.” And there was that power, O king, in the Tathāgata, he could have remained alive for that time: and yet he did not show that power in the midst PTS vp Pali 142 of that assembly. The Blessed One, O king, is free from desire as respects all conditions of future life, and has condemned them all. For it has been said, O king, by the Blessed One: “Just, O Bhikkhus, as a very small quantity of excrement is of evil smell, so do I find no beauty in the very smallest degree of future life, not even in such for the time of the snapping of the fingers.” Now would the Blessed One, O king, who thus looked upon all sorts and conditions of future life PTS vp En 201 as dung have nevertheless, simply because of his power of Iddhi, harboured a craving desire for future life?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Then it must have been to exalt the power of Iddhi that he gave utterance to such a boast.’
‘Very good, Nāgasena! It is so, and I accept it as you say.
Here ends the dilemma as to the three months.
Here ends the First Chapter.
PTS vp En 202 ĐỐI VỚI NĂNG LỰC CỦA THẦN THÔNG
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp. Này Ānanda, Như Lai trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Từ nay cho đến hết ba tháng, Như Lai sẽ viên tịch Niết Bàn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp,’ như thế thì giới hạn ba tháng là sai trái. Nếu việc giới hạn ba tháng là sự thật, như thế thì lời nói rằng: ‘có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp’ là sai trái. Đối với các đức Như Lai, không có việc đã phát biểu về điều không có cơ sở. Chư Phật Thế Tôn có lời nói không rồ dại, có lời nói chân thật, có lời nói không hai nghĩa. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, thâm sâu, vô cùng khôn khéo, khó phân giải. Nó được dành cho ngài. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Xin ngài hãy đánh đổ học thuyết của những kẻ khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Và giới hạn ba tháng đã được nói đến. Và hơn nữa, kiếp ấy được gọi là kiếp của tuổi thọ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn không phải là đang tán dương năng lực của bản thân mà đã nói như vậy. Tuy nhiên, tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi đang tán dương năng lực của thần thông mà đã nói như vậy: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Tâu đại vương, giống như con ngựa thuần chủng của đức vua có sự di chuyển nhanh với tốc độ của gió. Đức vua trong khi tán dương năng lực về tốc độ của con ngựa có thể nói ở giữa dân chúng gồm có thị dân, dân chúng, nhân công, binh lính, Bà-la-môn, gia chủ, và các quan đại thần như vầy: ‘Này các khanh, con ngựa quý giá này của trẫm trong khi mong muốn có thể đi dọc theo trái đất được bao quanh bởi nước của biển cả rồi đi về đây trong giây lát.’ Dầu không phô bày sự di chuyển nhanh chóng cho hội chúng ấy, nhưng sự nhanh chóng ấy của nó được biết đến, và nó có khả năng đi dọc theo trái đất được bao quanh bởi nước của biển cả trong giây lát.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn không phải là đang tán dương năng lực của bản thân mà đã nói như vậy. Tuy nhiên, điều ấy đã được nói (bởi đức Thế Tôn) sau khi ngồi xuống ở giữa các vị A-la-hán có ba Minh, sáu Thắng Trí, không ô nhiễm, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, cùng với chư Thiên và nhân loại rằng: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp. Này Ānanda, Như Lai trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Tâu đại vương, và năng lực thần thông ấy của đức Thế Tôn được biết đến, và đức Thế Tôn có khả năng tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp nhờ vào năng lực thần thông. Nhưng đức Thế Tôn không phô bày năng lực thần thông cho hội chúng ấy. Tâu đại vương, đức Thế Tôn không có mong muốn đối với tất cả các hữu, và đối với đức Thế Tôn tất cả các hữu là bị chê trách. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, cũng như phân bò dầu chỉ chút ít cũng có mùi thối, này các tỳ khưu, tương tợ y như thế Ta không ca ngợi về sự hiện hữu dầu chỉ chút ít, thậm chí chỉ là thời gian của một khảy móng tay.’ Tâu đại vương, sau khi xem tất cả các hữu, các cảnh giới, và các nguồn đưa đến tái sanh là tương đương với phân bò, phải chăng đức Thế Tôn còn thể hiện sự ước muốn và tham đắm ở các hữu thông qua năng lực của thần thông?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy trong khi tán dương năng lực của thần thông đức Thế Tôn đã gầm lên tiếng rống sư tử của bậc Giác Ngộ có hình thức như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự nhận thức
đối với năng lực của thần thông là thứ mười.
Phẩm Năng Lực của Thần Thông là phẩm thứ nhất.
(Ở phẩm này có mười câu hỏi)
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti, tena hi temāsaparicchedo micchā.
Yadi, bhante, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti, tena hi ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Natthi tathāgatānaṁ aṭṭhāne gajjitaṁ.
Amoghavacanā buddhā bhagavanto tathavacanā advejjhavacanā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro sunipuṇo dunnijjhāpayo tavānuppatto, bhindetaṁ diṭṭhijālaṁ, ekaṁse ṭhapaya, bhinda paravādan”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti, temāsaparicchedo ca bhaṇito, so ca pana kappo āyukappo vuccati.
Na, mahārāja, bhagavā attano balaṁ kittayamāno evamāha, iddhibalaṁ pana, mahārāja, bhagavā parikittayamāno evamāha—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā …pe… kappāvasesaṁ vā’ti.
Yathā, mahārāja, rañño assājānīyo bhaveyya sīghagati anilajavo, tassa rājā javabalaṁ parikittayanto sanegamajānapadabhaṭabalabrāhmaṇagahapatikaamaccajanamajjhe evaṁ vadeyya ‘ākaṅkhamāno me, bho, ayaṁ hayavaro sāgarajalapariyantaṁ mahiṁ anuvicaritvā khaṇena idhāgaccheyyā’ti, na ca taṁ javagatiṁ tassaṁ parisāyaṁ dasseyya, vijjati ca so javo tassa, samattho ca so khaṇena sāgarajalapariyantaṁ mahiṁ anuvicarituṁ.
Evameva kho, mahārāja, bhagavā attano iddhibalaṁ parikittayamāno evamāha, tampi tevijjānaṁ chaḷabhiññānaṁ arahantānaṁ vimalakhīṇāsavānaṁ devamanussānañca majjhe nisīditvā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Vijjati ca taṁ, mahārāja, iddhibalaṁ bhagavato, samattho ca bhagavā iddhibalena kappaṁ vā ṭhātuṁ kappāvasesaṁ vā, na ca bhagavā taṁ iddhibalaṁ tassaṁ parisāyaṁ dasseti, anatthiko, mahārāja, bhagavā sabbabhavehi, garahitā ca tathāgatassa sabbabhavā.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘seyyathāpi, bhikkhave, appamattakopi gūtho duggandho hoti;
evameva kho ahaṁ, bhikkhave, appamattakampi bhavaṁ na vaṇṇemi antamaso accharāsaṅghātamattampī’ti api nu kho, mahārāja, bhagavā sabbabhavagatiyoniyo gūthasamaṁ disvā iddhibalaṁ nissāya bhavesu chandarāgaṁ kareyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, bhagavā iddhibalaṁ parikittayamāno evarūpaṁ buddhasīhanādamabhinadī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Iddhibaladassanapañho dasamo.
Iddhibalavaggo paṭhamo.
Imasmiṁ vagge dasa pañhā.