BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, do vị nào mà Devadatta đã được xuất gia?”
“Tâu đại vương, sáu vương tử dòng Sát-đế-lỵ này là Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta, và người thợ cạo Upāli là thứ bảy. Khi bậc Đạo Sư đã đắc thành Chánh Đẳng Giác, trong việc đem lại nỗi vui mừng cho dòng họ Sakya những vị ấy đã ra đi xuất gia theo đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã cho những vị ấy xuất gia.”
“Thưa ngài, không phải Devadatta sau khi xuất gia đã chia rẽ hội chúng?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Devadatta sau khi xuất gia đã chia rẽ hội chúng. Không phải người tại gia chia rẽ hội chúng, không phải tỳ khưu ni, không phải vị ni tu tập sự, không phải vị sa di, không phải vị sa di ni chia rẽ hội chúng. Vị tỳ khưu bình thường, cùng chung sự đồng cộng trú, đứng cùng chung ranh giới, chia rẽ hội chúng.”
BJT 2“Thưa ngài, người là kẻ chia rẽ hội chúng phạm vào nghiệp gì?”
“Tâu đại vương, phạm vào nghiệp liên quan đến việc chịu đựng một kiếp.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy có phải đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp’?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Như Lai biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp.’”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp,’ thưa ngài Nāgasena, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Phật, đấng Bi Mẫn, bậc Thương Xót, vị tầm cầu lợi ích, sau khi xua đi điều bất lợi thì đem đến điều lợi ích cho tất cả chúng sanh’ là sai trái. Nếu Ngài không biết điều ấy rồi đã cho xuất gia, như thế thì đức Phật là không Toàn Tri. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài, xin ngài hãy tháo gỡ múi rối to lớn này, hãy đánh đổ học thuyết của những kẻ khác. Trong ngày vị lai xa xăm những vị tỳ khưu có sự giác ngộ tương đương ngài sẽ khó đạt được. Trong trường hợp này, xin ngài hãy bày tỏ năng lực của ngài.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn là bậc Đại Bi và là đấng Toàn Tri. Tâu đại vương, đức Thế Tôn, trong lúc xem xét cảnh giới tái sanh của Devadatta với lòng bi mẫn và trí Toàn Tri, đã nhìn thấy Devadatta sau khi tích lũy nghiệp đưa đến trôi nổi luân hồi từ địa ngục đến địa ngục, từ đọa xứ đến đọa xứ trong nhiều trăm ngàn koṭi kiếp. Đức Thế Tôn, sau khi biết được điều ấy bằng trí Toàn Tri rằng: ‘Nghiệp đã được làm không có giới hạn của người này, nếu được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta, sẽ trở thành có giới hạn. Khổ liên quan đến việc trước sẽ trở thành có giới hạn. Còn không được xuất gia thì kẻ rồ dại này sẽ tích lũy nghiệp kéo dài trọn kiếp,’ vì lòng bi mẫn Ngài đã cho Devadatta xuất gia.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì đức Phật gây tổn thương rồi thoa dầu, làm rơi xuống vực thẳm rồi đưa tay (kéo lên), làm cho chết rồi tìm kiếm mạng sống, là việc Ngài ban cho sự khổ đau trước rồi đem lại sự an lạc sau.”
“Tâu đại vương, đức Như Lai dẫu có gây tổn thương cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, đức Như Lai gây tổn thương rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, giống như mẹ cha gây tổn thương, làm rơi xuống, rồi đem lại lợi ích cho những người con, tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai gây tổn thương cũng vì lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, đức Như Lai gây tổn thương rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh. Với bất cứ cách thức nào có sự tăng trưởng các đức hạnh cho chúng sanh thì Ngài đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh bằng cách thức ấy. Tâu đại vương, nếu đức Như Lai không cho Devadatta xuất gia thì Devadatta trong khi là người tại gia sẽ làm nhiều nghiệp ác dẫn đến địa ngục, trong khi trôi nổi từ địa ngục đến địa ngục, từ đọa xứ đến đọa xứ trong nhiều trăm ngàn koṭi kiếp sẽ cảm thọ nhiều khổ đau. Đức Thế Tôn, trong khi biết được điều ấy, vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia (nghĩ rằng): ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Vì lòng bi mẫn mà Ngài đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng.
Tâu đại vương, hơn nữa giống như người đàn ông có năng lực, nhờ vào năng lực về tài sản, tiếng tăm, danh vọng, và sự thân thiết, sau khi nhìn thấy bà con hoặc bạn bè của mình đang chịu hình phạt nặng nề của đức vua, liền làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng của người ấy nhờ vào điều kiện có nhiều sự thân thiết và khả năng của bản thân, tâu đại vương tương tợ y như thế ấy đức Thế Tôn sau khi cho Devadatta—là người sẽ bị cảm thọ khổ đau nhiều trăm ngàn koṭi kiếp—xuất gia đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng nhờ vào điều kiện về năng lực và khả năng của giới định tuệ và giải thoát.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc phẫu thuật thiện xảo nhờ vào năng lực của phương thuốc mạnh làm vơi nhẹ căn bệnh trầm trọng, tâu đại vương tương tợ y như thế ấy đức Thế Tôn, là vị có năng lực về lòng bi mẫn, với sự hiểu biết về tu tập, sau khi cho Devadatta—là người sẽ bị cảm thọ khổ đau nhiều trăm ngàn koṭi kiếp—xuất gia đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng nhờ vào năng lực của phương thuốc cứng rắn của Giáo Pháp. Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn ấy, trong khi làm cho Devadatta đáng lẽ bị nhiều cảm thọ (khổ) chỉ còn ít cảm thọ (khổ), lại tạo ra điều vô phước nào đó?”
“Thưa ngài, không tạo ra điều vô phước nào, dầu chỉ là một lượng thời gian ngắn ngủi như việc vắt sữa ở vú bò.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy chấp nhận lý do này theo ý nghĩa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, giống như những người bắt được kẻ trộm phạm tội thì trình lên đức vua rằng: ‘Tâu bệ hạ, kẻ trộm phạm tội này là thuộc về bệ hạ. Đối với kẻ này, xin bệ hạ hãy ra lệnh hành phạt mà bệ hạ muốn. Đứa vua có thể nói về kẻ ấy như vầy: ‘Này các khanh, như thế thì hãy đưa kẻ trộm này ra ngoại thành rồi chém đầu ở bãi hành quyết.’
‘Tâu bệ hạ, xin vâng.’ Vâng lệnh đức vua, những người ấy đã đưa kẻ ấy ra ngoại thành rồi dẫn đến bãi hành quyết. Một người đàn ông nào đó, là người đã đạt được ân huệ từ đức vua, đã đạt được danh tiếng, tài sản, của cải, có lời nói được chấp nhận, có năng lực, có hành động theo ý thích, nhìn thấy kẻ ấy. Người ấy, khởi tâm bi mẫn đến kẻ trộm ấy, nên đã nói với những người ấy như vầy: ‘Này các ông, thôi đi. Các ông được gì với việc chặt đầu của người này? Này các ông, chính vì điều ấy các ông hãy chặt tay hoặc bàn chân của người này và hãy duy trì mạng sống cho gã. Ta sẽ trình tấu đến đức vua lý do của việc này.’ Những người ấy, do lời nói của người có năng lực ấy, có thể chặt tay hoặc bàn chân của kẻ trộm ấy và duy trì mạng sống cho gã. Tâu đại vương, phải chăng người đàn ông ấy, với hành động như vậy, là có thể hiện trách nhiệm đối với kẻ trộm ấy?”
“Thưa ngài, người đàn ông ấy là người ban cho mạng sống đến kẻ trộm. Khi mạng sống đã được ban đến gã, thì có điều gì gọi là đã không được làm cho kẻ ấy?”
“Tuy nhiên, về cảm thọ trong việc chặt tay chân của kẻ ấy, không lẽ người ấy không tạo ra điều vô phước nào trong cái cảm thọ ấy?”
“Thưa ngài, kẻ trộm ấy cảm nhận cảm thọ khổ đau do việc đã làm của mình. Còn người đàn ông, là người ban cho mạng sống, không tạo ra điều vô phước nào cả.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia (nghĩ rằng): ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Tâu đại vương, và khổ đau của Devadatta trở thành có giới hạn. Tâu đại vương, Devadatta vào thời điểm chết, đã đi đến việc nương nhờ khi còn sống (nói rằng):
‘Với những khúc xương này, với các sanh mạng, tôi đi đến nương nhờ đức Phật, nhân vật cao cả ấy, vị Trời vượt trội các vị Trời, đấng Điều Ngự Trượng Phu, bậc nhìn thấy toàn diện, có đặc điểm của trăm phước báu.’
Tâu đại vương, trong kiếp (trái đất) gồm sáu giai đoạn, thì Devadatta đã chia rẽ hội chúng khi giai đoạn thứ nhất đã trôi qua, sau khi bị nung nấu trong năm giai đoạn còn lại rồi từ đó sẽ được giải thoát, và sẽ trở thành vị Độc Giác Phật tên Aṭṭhissara. Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn, với hành động như vậy, là có thể hiện trách nhiệm đối với Devadatta?”
“Thưa ngài Nāgasena, đối với Devadatta đức Như Lai là vị ban bố tất cả, là việc đức Như Lai sẽ khiến cho Devadatta đạt được quả vị Độc Giác Phật. Còn có điều gì đã không được làm bởi đức Như Lai đến Devadatta?”
“Tâu đại vương, vả lại việc Devadatta sau khi chia rẽ hội chúng rồi cảm thọ khổ đau ở địa ngục, tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn do nhân ấy có thể tạo ra điều vô phước nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, Devadatta bị nung nấu ở địa ngục một kiếp do việc đã làm bởi bản thân. Bậc Đạo Sư, là người đã làm cho khổ đau trở thành có giới hạn, không tạo ra điều vô phước nào.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy chấp nhận lý do này theo ý nghĩa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.
Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật thiện xảo, trong khi làm êm dịu vết thương bị tác động dữ dội bởi gió, mật, đàm đã tụ hội lại, bởi sự thay đổi của thời tiết, bởi sự chăm nom không đều đặn, bị xông lên mùi hôi thối của tử thi ô uế, có mũi nhọn bên trong tạo thành lỗ hổng, bị ngập đầy máu ứ, đành phải bôi miệng của vết thương bằng loại thuốc sần sùi, xót xa, nhức nhối, đau đớn. Sau khi làm chín muồi (vết thương) bằng cách thức làm cho chín muồi, rồi mổ vết thương đã được đạt đến trạng thái mềm mỏng bằng dao, sau đó đốt nóng bằng cái thanh dẹp, rồi cho chất kiềm và muối vào vết thương ở chỗ đã được đốt nóng, sau đó bôi thuốc để làm lành vết thương nhằm đạt đến trạng thái tốt lành cho người bị bệnh. Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc phẫu thuật ấy có tâm không tốt nên mới bôi thuốc, mổ ra bằng dao, đốt nóng với cái thanh dẹp, rồi cho chất sát trùng vào vết thương?”
“Thưa ngài, không đúng. Người thầy thuốc có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới làm những hành động ấy.”
“Vậy thì các cảm thọ khổ đau nào đã sanh lên do hành động việc làm và thuốc men đối với người ấy, do nhân ấy người thầy thuốc phẫu thuật ấy có tạo ra điều vô phước nào không?”
“Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới làm những hành động ấy. Làm sao người ấy, do nhân ấy, lại có thể tạo ra điều vô phước? Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật ấy là người sanh về cõi trời.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi khổ đau. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, giống như một người nam bị đâm bởi cây gai, rồi một người nam khác có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, mới cắt xung quanh (vết thương) bằng cây gai nhọn hoặc bằng mũi dao, rồi lấy cây gai ấy ra nhờ vào lượng máu đang bị phun ra, tâu đại vương, phải chăng người nam ấy có tâm không tốt nên mới lấy cây gai ấy ra?”
“Thưa ngài, không đúng. Người nam ấy có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới lấy cây gai ấy ra. Thưa ngài, nếu người nam ấy không lấy cây gai ấy ra, do điều ấy người kia có thể gánh chịu sự chết hoặc khổ đau gần như chết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi sự khổ đau. Tâu đại vương, nếu đức Thế Tôn không cho Devadatta xuất gia, thì Devadatta có thể bị nung nấu ở địa ngục liên tiếp nhiều đời sống thậm chí trong trăm ngàn koṭi kiếp.”
“Thưa ngài Nāgasena, đức Như Lai đã đưa Devadatta, kẻ có sự bị cuốn trôi theo dòng nước, vào Đạo Lộ; đã ban cho Devadatta, kẻ đã bị rơi vào vực thẳm, chỗ đứng; đã đưa Devadatta, kẻ bước đi ở chỗ gập ghềnh, đến nơi bằng phẳng. Thưa ngài Nāgasena, không thể nhìn nhận những nhân tố này và những lý do này bởi người nào khác ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
Câu hỏi về sự xuất gia của Devadatta là thứ ba.
“Bhante nāgasena, devadatto kena pabbājito”ti?
“Chayime, mahārāja, khattiyakumārā bhaddiyo ca anuruddho ca ānando ca bhagu ca kimilo ca devadatto ca upālikappako sattamo abhisambuddhe satthari sakyakulānandajanane bhagavantaṁ anupabbajantā nikkhamiṁsu, te bhagavā pabbājesī”ti.
“Nanu, bhante, devadattena pabbajitvā saṅgho bhinno”ti?
“Āma, mahārāja, devadattena pabbajitvā saṅgho bhinno, na gihī saṅghaṁ bhindati, na bhikkhunī, na sikkhamānā, na sāmaṇero, na sāmaṇerī saṅghaṁ bhindati, bhikkhu pakatatto samānasaṁvāsako samānasīmāyaṁ ṭhito saṅghaṁ bhindatī”ti.
“Saṅghabhedako, bhante, puggalo kiṁ kammaṁ phusatī”ti?
“Kappaṭṭhitikaṁ, mahārāja, kammaṁ phusatī”ti.
“Kiṁ pana, bhante nāgasena, buddho jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṁ bhindissati, saṅghaṁ bhinditvā kappaṁ niraye paccissatī’”ti?
“Āma, mahārāja, tathāgato jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṁ bhindissati, saṅghaṁ bhinditvā kappaṁ niraye paccissatī’”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, buddho jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṁ bhindissati, saṅghaṁ bhinditvā kappaṁ niraye paccissatī’ti, tena hi, bhante nāgasena, buddho kāruṇiko anukampako hitesī sabbasattānaṁ ahitaṁ apanetvā hitamupadahatīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi taṁ ajānitvā pabbājesi, tena hi buddho asabbaññūti, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, vijaṭehi etaṁ mahājaṭaṁ, bhinda parāpavādaṁ, anāgate addhāne tayā sadisā buddhimanto bhikkhū dullabhā bhavissanti, ettha tava balaṁ pakāsehī”ti.
“Kāruṇiko, mahārāja, bhagavā sabbaññū ca, kāruññena, mahārāja, bhagavā sabbaññutañāṇena devadattassa gatiṁ olokento addasa devadattaṁ āpāyikaṁ kammaṁ āyūhitvā anekāni kappakoṭisatasahassāni nirayena nirayaṁ vinipātena vinipātaṁ gacchantaṁ, taṁ bhagavā sabbaññutañāṇena jānitvā imassa apariyantakataṁ kammaṁ mama sāsane pabbajitassa pariyantakataṁ bhavissati, purimaṁ upādāya pariyantakataṁ dukkhaṁ bhavissati, apabbajitopi ayaṁ moghapuriso kappaṭṭhiyameva kammaṁ āyūhissatīti kāruññena devadattaṁ pabbājesī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, buddho vadhitvā telena makkheti, papāte pātetvā hatthaṁ deti, māretvā jīvitaṁ pariyesati, yaṁ so paṭhamaṁ dukkhaṁ datvā pacchā sukhaṁ upadahatī”ti?
“Vadhetipi, mahārāja, tathāgato sattānaṁ hitavasena, pātetipi sattānaṁ hitavasena, māretipi sattānaṁ hitavasena, vadhitvāpi, mahārāja, tathāgato sattānaṁ hitameva upadahati, pātetvāpi sattānaṁ hitameva upadahati, māretvāpi sattānaṁ hitameva upadahati.
Yathā, mahārāja, mātāpitaro nāma vadhitvāpi pātayitvāpi puttānaṁ hitameva upadahanti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato vadhetipi sattānaṁ hitavasena, pātetipi sattānaṁ hitavasena, māretipi sattānaṁ hitavasena, vadhitvāpi, mahārāja, tathāgato sattānaṁ hitameva upadahati, pātetvāpi sattānaṁ hitameva upadahati, māretvāpi sattānaṁ hitameva upadahati, yena yena yogena sattānaṁ guṇavuḍḍhi hoti, tena tena yogena sabbasattānaṁ hitameva upadahati.
Sace, mahārāja, devadatto na pabbājeyya, gihibhūto samāno nirayasaṁvattanikaṁ bahuṁ pāpakammaṁ katvā anekāni kappakoṭisatasahassāni nirayena nirayaṁ vinipātena vinipātaṁ gacchanto bahuṁ dukkhaṁ vedayissati, taṁ bhagavā jānamāno kāruññena devadattaṁ pabbājesi, ‘mama sāsane pabbajitassa dukkhaṁ pariyantakataṁ bhavissatī’ti kāruññena garukaṁ dukkhaṁ lahukaṁ akāsi.
Yathā vā, mahārāja, dhanayasasiriñātibalena balavā puriso attano ñātiṁ vā mittaṁ vā raññā garukaṁ daṇḍaṁ dhārentaṁ attano bahuvissatthabhāvena samatthatāya garukaṁ daṇḍaṁ lahukaṁ akāsi;
evameva kho, mahārāja, bhagavā bahūni kappakoṭisatasahassāni dukkhaṁ vedayamānaṁ devadattaṁ pabbājetvā sīlasamādhipaññāvimuttibalasamatthabhāvena garukaṁ dukkhaṁ lahukaṁ akāsi.
Yathā vā pana, mahārāja, kusalo bhisakko sallakatto garukaṁ rogaṁ balavosadhabalena lahukaṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, bahūni kappakoṭisatasahassāni dukkhaṁ vedayamānaṁ devadattaṁ bhagavā rogaññutāya pabbājetvā kāruññabalo patthaddhadhammosadhabalena garukaṁ dukkhaṁ lahukaṁ akāsi.
Api nu kho so, mahārāja, bhagavā bahuvedanīyaṁ devadattaṁ appavedanīyaṁ karonto kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na kiñci, bhante, apuññaṁ āpajjeyya antamaso gaddūhanamattampī”ti.
“Imampi kho, mahārāja, kāraṇaṁ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Yathā, mahārāja, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ, ‘ayaṁ kho, deva, coro āgucārī, imassa yaṁ icchasi, taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya ‘tena hi, bhaṇe, imaṁ coraṁ bahinagaraṁ nīharitvā āghātane sīsaṁ chindathā’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho te rañño paṭissutvā taṁ bahinagaraṁ nīharitvā āghātanaṁ nayeyyuṁ.
Tamenaṁ passeyya kocideva puriso rañño santikā laddhavaro laddhayasadhanabhogo ādeyyavacano balavicchitakārī, so tassa kāruññaṁ katvā te purise evaṁ vadeyya ‘alaṁ, bho, kiṁ tumhākaṁ imassa sīsacchedanena, tena hi bho imassa hatthaṁ vā pādaṁ vā chinditvā jīvitaṁ rakkhatha, ahametassa kāraṇā rañño santike paṭivacanaṁ karissāmī’ti.
Te tassa balavato vacanena tassa corassa hatthaṁ vā pādaṁ vā chinditvā jīvitaṁ rakkheyyuṁ.
Api nu kho so, mahārāja, puriso evaṁ kārī tassa corassa kiccakārī assā”ti?
“Jīvitadāyako so, bhante, puriso tassa corassa, jīvite dinne kiṁ tassa akataṁ nāma atthī”ti?
“Yā pana hatthapādacchedane vedanā, so tāya vedanāya kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Attano katena so, bhante, coro dukkhavedanaṁ vedayati, jīvitadāyako pana puriso na kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, bhagavā kāruññena devadattaṁ pabbājesi ‘mama sāsane pabbajitassa dukkhaṁ pariyantakataṁ bhavissatī’ti.
Pariyantakatañca, mahārāja, devadattassa dukkhaṁ, devadatto, mahārāja, maraṇakāle—
‘Imehi aṭṭhīhi tamaggapuggalaṁ,
Devātidevaṁ naradammasārathiṁ;
Samantacakkhuṁ satapuññalakkhaṇaṁ,
Pāṇehi buddhaṁ saraṇaṁ upemī’ti.
Pāṇupetaṁ saraṇamagamāsi.
Devadatto, mahārāja, cha koṭṭhāse kate kappe atikkante paṭhamakoṭṭhāse saṅghaṁ bhindi, pañca koṭṭhāse niraye paccitvā tato muccitvā aṭṭhissaro nāma paccekabuddho bhavissati.
Api nu kho so, mahārāja, bhagavā evaṁ kārī devadattassa kiccakārī assā”ti?
“Sabbadado, bhante nāgasena, tathāgato devadattassa, yaṁ tathāgato devadattaṁ paccekabodhiṁ pāpessati, kiṁ tathāgatena devadattassa akataṁ nāma atthī”ti?
“Yaṁ pana, mahārāja, devadatto saṅghaṁ bhinditvā niraye dukkhavedanaṁ vedayati, api nu kho bhagavā tatonidānaṁ kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na hi, bhante, attanā katena, bhante, devadatto kappaṁ niraye paccati, dukkhapariyantakārako satthā na kiñci apuññaṁ āpajjatī”ti.
“Imampi kho tvaṁ, mahārāja, kāraṇaṁ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Yathā, mahārāja, kusalo bhisakko sallakatto vātapittasemhasannipātautupariṇāmavisamaparihāraopakkamikopakkantaṁ pūtikuṇapaduggandhābhisañchannaṁ antosallaṁ susiragataṁ pubbaruhirasampuṇṇaṁ vaṇaṁ vūpasamento vaṇamukhaṁ kakkhaḷatikhiṇakhārakaṭukena bhesajjena anulimpati paripaccanāya, paripaccitvā mudubhāvamupagataṁ satthena vikantayitvā ḍahati salākāya, daḍḍhe khāralavaṇaṁ deti, bhesajjena anulimpati vaṇaruhanāya byādhitassa sotthibhāvamanuppattiyā, api nu kho so, mahārāja, bhisakko sallakatto ahitacitto bhesajjena anulimpati, satthena vikanteti, ḍahati salākāya, khāralavaṇaṁ detī”ti?
“Na hi, bhante, hitacitto sotthikāmo tāni kiriyāni karotī”ti.
“Yā panassa bhesajjakiriyākaraṇena uppannā dukkhavedanā, tatonidānaṁ so bhisakko sallakatto kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Hitacitto, bhante, sotthikāmo bhisakko sallakatto tāni kiriyāni karoti, kiṁ so tatonidānaṁ apuññaṁ āpajjeyya, saggagāmī so, bhante, bhisakko sallakatto”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kāruññena bhagavā devadattaṁ pabbājesi dukkhaparimuttiyā.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Yathā, mahārāja, puriso kaṇṭakena viddho assa, athaññataro puriso tassa hitakāmo sotthikāmo tiṇhena kaṇṭakena vā satthamukhena vā samantato chinditvā paggharantena lohitena taṁ kaṇṭakaṁ nīhareyya, api nu kho so, mahārāja, puriso ahitakāmo taṁ kaṇṭakaṁ nīharatī”ti?
“Na hi, bhante, hitakāmo so, bhante, puriso sotthikāmo taṁ kaṇṭakaṁ nīharati.
Sace so, bhante, taṁ kaṇṭakaṁ na nīhareyya, maraṇaṁ vā so tena pāpuṇeyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato kāruññena devadattaṁ pabbājesi dukkhaparimuttiyā.
Sace, mahārāja, bhagavā devadattaṁ na pabbājeyya, kappakoṭisatasahassampi devadatto bhavaparamparāya niraye pacceyyā”ti.
“Anusotagāmiṁ, bhante nāgasena, devadattaṁ tathāgato paṭisotaṁ pāpesi, vipanthapaṭipannaṁ devadattaṁ panthe paṭipādesi, papāte patitassa devadattassa patiṭṭhaṁ adāsi, visamagataṁ devadattaṁ tathāgato samaṁ āropesi.
Ime ca, bhante nāgasena, hetū imāni ca kāraṇāni na sakkā aññena sandassetuṁ aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Devadattapabbajjapañho tatiyo.
PTS cs 28 ‘Venerable Nāgasena, who was it that admitted Devadatta to the Order?’ PTS vp En 163
‘Those six young nobles, O king, Bhaddiya and Anuruddha and Ānanda and Bhagu and Kimbila and Devadatta, PTS vp Pali 108 together with Upāli the barber as a seventh—they all, when the Master had attained to Buddhahood, left the Sākya home out of the delight they felt in him, and following the Blessed One renounced the world. So the Blessed One admitted them all to the Order.’
‘But was it not Devadatta who, after he had entered the Order, raised up a schism within it?’
‘Yes. No layman can create a schism, nor a sister of the Order, nor one under preparatory instruction, nor a novice of either sex. It must be a Bhikkhu, under no disability, who is in full communion, and a co-resident.’
‘And what Karma does a schismatical person gain?’
‘A Karma that continues to act for a Kalpa (a very long period of time).’
‘What then, Nāgasena! Was the Buddha aware that Devadatta after being admitted to the Order would raise up a schism, and having done so would suffer torment in purgatory for a Kalpa?’
‘Yes, the Tathāgata, knew that.’
‘But, Nāgasena, if that be so, then the statement that the Buddha was kind and pitiful, that he sought after the good of others, that he was the remover of that which works harm, the provider of that which works well to all beings—that statement must be wrong. If it be not so—if he knew not that Devadatta PTS vp En 164 after he had been admitted to the Order would stir up a schism—then he cannot have been omniscient. This other double-pointed dilemma is put to you. Unravel this tough skein, break up the argument of the adversaries. In future times it will be hard to find Bhikkhus like to you in wisdom. Herein then show your skill!’
PTS cs 29 ‘The Blessed One, O king, was both full of mercy and had all knowledge. It was when the Blessed One in his mercy and wisdom considered the life history of Devadatta that he perceived how, having heaped up Karma on Karma, he would pass for an endless series of Kalpas from torment to torment, and from perdition to perdition. And the Blessed One knew also that the infinite Karma of that man would, because he had entered the Order, become finite, and the sorrow caused by the previous Karma would also therefore become limited. PTS vp Pali 109 But that if that foolish person were not to enter the Order then he would continue to heap up Karma which would endure for a Kalpa. And it was because he knew that that, in his mercy, he admitted him to the Order.’
‘Then, Nāgasena, the Buddha first wounds a man and then pours oil on the wound, first throws a man down a precipice and then reaches out to him an assisting hand, first kills him and then seeks to give him life, first gives pain and then a subsequent ease to the pain he has given.’
‘The Tathāgata, O king, wounds people but to their good, he casts people down but to their profit, he kills people but to their advantage. just as mothers and fathers, O king, hurt their children and even knock them down, thinking the while of their PTS vp En 165 good; so by whatsoever method an increase in the virtue of living things can be brought about, by that method does he contribute to their good. If Devadatta, O king, had not entered the Order, then as a layman he would have laid up much Karma leading to states of woe, and so passing for hundreds of thousands of Kalpas from torment to misery, and from one state of perdition to another, he would have suffered constant pain. It was knowing that, that in his mercy, the Blessed One admitted Devadatta to the Order. It was at the thought that by renouncing the world according to His doctrine Devadatta’s sorrow would become finite that, in his mercy, he adopted that means of making his heavy sorrow light.
PTS cs 30 ‘As a man of influence, O king, by the power of his wealth or reputation or prosperity or birth, when a grievous penalty has been imposed by, the king on some friend or relative of his, would get it made light by the ability arising from the trust reposed in him; PTS vp Pali 110 just so did the Blessed One, by admitting him to the Order, and by the efficacy of the influence of righteousness and meditation and wisdom and emancipation of heart, make light the heavy sorrow of Devadatta, who would have had to suffer many hundreds of thousands of Kalpas. As a clever physician and surgeon, O king, would make a grievous sickness light by the aid of a powerful medicinal drug, just so did the Blessed One, in his knowledge of the right means to an end, admit Devadatta to the Order and thus make his grievous pain light by the aid of the medicine of the Dhamma, strong by the power of mercy. Was then, O king, PTS vp En 166 The Blessed One guilty of any wrong in that he turned Devadatta from being a man of much sorrow into being a man of less sorrow?’
‘No indeed, Sir. He committed no wrong, not even in the smallest degree.’
‘Then accept this, great king, to the full as the reason for which the Blessed One admitted Devadatta to the Order.’
PTS cs 31 ‘Hear another and further reason, O king, for the Blessed One’s having admitted Devadatta. Suppose men were to seize and hurry before the king some wicked robber, saying: “This is the wicked robber, your Majesty. Inflict upon him such punishment as you think fit!” And thereupon the king were to say to them: “Take this robber then, my men, outside the town, and there on the place of execution cut off his head.” And they in obedience to his orders were to take that man accordingly towards the place of execution. And some man who was high in office near the king, and of great reputation and wealth and property, whose word was held of weight, and whose influence was great, should see him. And he were to have pity on him, and were to say to those men: “Stay, good fellows. What good will cutting off his head do to you? Save him alive, and cut off only a hand or a foot. I will speak on his behalf to the king.” And they at the word of that influential person were to do so. Now would the officer who had acted so towards him have been a benefactor to that robber?’ PTS vp En 167
‘He would have saved his life, Sir. And having done that, what would he not have done?’
‘But would he have done no wrong on account of the pain the man suffered PTS vp Pali 111 when his hand or foot was cut off?’
‘The pain the thief suffered, Sir, was his own fault. But the man who saved his life did him no harm.’
‘Just so, great king, was it in his mercy that the Blessed One admitted Devadatta, with the knowledge that by that his sorrow would be mitigated.’
PTS cs 32 ‘And Devadatta’s sorrow, O king, was mitigated. For Devadatta at the moment of his death took refuge in Him for the rest of his existences when he said:
“In him, who of the best is far the best,
The god of gods, the guide of gods and men,
Who see’th all, and bears the hundred marks
Of goodness—’Tis in him I refuge take
Through all the lives that I may have to live.”
‘If you divide this Kalpa, O king, into six parts, it was at the end of the first part that Devadatta created schism in the Order. After he has suffered the other five in purgatory he will be released, and will become a Pacceka-Buddha under the name of Aṭṭhissara.’
‘Great is the gift bestowed, Nāgasena, by the Blessed One on Devadatta. In that the Tathāgata PTS vp En 168 has caused him to attain to the state of a Pacceka-Buddha, what has he not done for him?’
‘But inasmuch as Devadatta, O king, having made a schism in the Order, suffers pain in purgatory, has not therefore the Blessed One done him wrong?’
‘No, Sir. That is Devadatta’s own fault; and the Blessed One who mitigated his suffering has done him no harm.’
‘Then accept this, O king, to the full as the reason for the Blessed One admitting Devadatta to the Order.
PTS cs 33 ‘Hear another and further reason, O king, for his having done so. PTS vp Pali 112 Suppose in treating a wound full of matter and blood, in whose grievous hollow the weapon which caused it remained, which stank of putrid flesh, and was made worse by the pain that varied with constantly changing symptoms, by variations in temperature, and by the union of the three humours—windy, bilious, and phlegmatic—an able physician and surgeon were to anoint it with a rough, sharp, bitter, stinging ointment, to the end that the inflammation should be allayed. And when the inflammation had gone down, and the wound had become sweet, suppose he were then to cut into it with a lancet, and burn it with caustic. And when he had cauterised it, suppose he were to prescribe an alkaline wash, and anoint it with some drug to the end that the wound might heal up, and the sick man recover his health—now tell me, O king, would it be out of cruelty that the surgeon thus smeared with ointment, and cut with the lancet, and cauterised PTS vp En 169 with the stick of caustic, and administered a salty wash?’
‘Certainly not, Sir; it would be with kindness in his heart, and intent on the man’s weal, that he would do all those things.’
‘And the feelings of pain produced by his efforts to heal—would not the surgeon be guilty of any wrong in respect of them?’
‘How so? Acting with kind intent and for the man’s weal, how could he therein incur a wrong? It is of heavenly bliss rather that that kindly surgeon would be worthy.’
‘Just so, great king, was it in his mercy that the Blessed One admitted Devadatta, to the end to release him from pain.’
PTS cs 34 ‘Hear another and further reason, O king, why the Blessed One did so. Suppose a man had been pierced by a thorn. And another man with kindly intent and for his good were to cut round the place with another sharp thorn or with a lancet, and the blood flowing the while, were to extract that thorn. Now would it be out of cruelty that he acted so?’
‘Certainly not, Sir. For he acted with kindly intent, and for the man’s good. And if he had not done so the man might have died, or might have suffered such pain that he would have been nigh to death.’
‘Just even so, great king, was it of his mercy that the Tathāgata admitted Devadatta, to the end to release him of his pain. If he had not done so PTS vp Pali 113 Devadatta would have suffered torment in purgatory through a succession of existences, through hundreds of thousands of Kalpas.’ PTS vp En 170
‘Yes, Nāgasena, the Tathāgata turned Devadatta, who was being carried down with the flood, with his head against the stream; he again pointed out the road to Devadatta when he was lost in the jungle; he gave a firm foothold to Devadatta when he was falling down the precipice: he restored Devadatta to peace when he was swallowed up of desolation. But the reason and the meaning of these things could no one have pointed out, Nāgasena, unless he were wise as you!’
Here ends the dilemma about Devadatta.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, do vị nào mà Devadatta đã được xuất gia?”
“Tâu đại vương, sáu vương tử dòng Sát-đế-lỵ này là Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta, và người thợ cạo Upāli là thứ bảy. Khi bậc Đạo Sư đã đắc thành Chánh Đẳng Giác, trong việc đem lại nỗi vui mừng cho dòng họ Sakya những vị ấy đã ra đi xuất gia theo đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã cho những vị ấy xuất gia.”
“Thưa ngài, không phải Devadatta sau khi xuất gia đã chia rẽ hội chúng?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Devadatta sau khi xuất gia đã chia rẽ hội chúng. Không phải người tại gia chia rẽ hội chúng, không phải tỳ khưu ni, không phải vị ni tu tập sự, không phải vị sa di, không phải vị sa di ni chia rẽ hội chúng. Vị tỳ khưu bình thường, cùng chung sự đồng cộng trú, đứng cùng chung ranh giới, chia rẽ hội chúng.”
BJT 2“Thưa ngài, người là kẻ chia rẽ hội chúng phạm vào nghiệp gì?”
“Tâu đại vương, phạm vào nghiệp liên quan đến việc chịu đựng một kiếp.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy có phải đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp’?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Như Lai biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp.’”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp,’ thưa ngài Nāgasena, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Phật, đấng Bi Mẫn, bậc Thương Xót, vị tầm cầu lợi ích, sau khi xua đi điều bất lợi thì đem đến điều lợi ích cho tất cả chúng sanh’ là sai trái. Nếu Ngài không biết điều ấy rồi đã cho xuất gia, như thế thì đức Phật là không Toàn Tri. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài, xin ngài hãy tháo gỡ múi rối to lớn này, hãy đánh đổ học thuyết của những kẻ khác. Trong ngày vị lai xa xăm những vị tỳ khưu có sự giác ngộ tương đương ngài sẽ khó đạt được. Trong trường hợp này, xin ngài hãy bày tỏ năng lực của ngài.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn là bậc Đại Bi và là đấng Toàn Tri. Tâu đại vương, đức Thế Tôn, trong lúc xem xét cảnh giới tái sanh của Devadatta với lòng bi mẫn và trí Toàn Tri, đã nhìn thấy Devadatta sau khi tích lũy nghiệp đưa đến trôi nổi luân hồi từ địa ngục đến địa ngục, từ đọa xứ đến đọa xứ trong nhiều trăm ngàn koṭi kiếp. Đức Thế Tôn, sau khi biết được điều ấy bằng trí Toàn Tri rằng: ‘Nghiệp đã được làm không có giới hạn của người này, nếu được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta, sẽ trở thành có giới hạn. Khổ liên quan đến việc trước sẽ trở thành có giới hạn. Còn không được xuất gia thì kẻ rồ dại này sẽ tích lũy nghiệp kéo dài trọn kiếp,’ vì lòng bi mẫn Ngài đã cho Devadatta xuất gia.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì đức Phật gây tổn thương rồi thoa dầu, làm rơi xuống vực thẳm rồi đưa tay (kéo lên), làm cho chết rồi tìm kiếm mạng sống, là việc Ngài ban cho sự khổ đau trước rồi đem lại sự an lạc sau.”
“Tâu đại vương, đức Như Lai dẫu có gây tổn thương cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, đức Như Lai gây tổn thương rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, giống như mẹ cha gây tổn thương, làm rơi xuống, rồi đem lại lợi ích cho những người con, tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai gây tổn thương cũng vì lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, đức Như Lai gây tổn thương rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh. Với bất cứ cách thức nào có sự tăng trưởng các đức hạnh cho chúng sanh thì Ngài đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh bằng cách thức ấy. Tâu đại vương, nếu đức Như Lai không cho Devadatta xuất gia thì Devadatta trong khi là người tại gia sẽ làm nhiều nghiệp ác dẫn đến địa ngục, trong khi trôi nổi từ địa ngục đến địa ngục, từ đọa xứ đến đọa xứ trong nhiều trăm ngàn koṭi kiếp sẽ cảm thọ nhiều khổ đau. Đức Thế Tôn, trong khi biết được điều ấy, vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia (nghĩ rằng): ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Vì lòng bi mẫn mà Ngài đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng.
Tâu đại vương, hơn nữa giống như người đàn ông có năng lực, nhờ vào năng lực về tài sản, tiếng tăm, danh vọng, và sự thân thiết, sau khi nhìn thấy bà con hoặc bạn bè của mình đang chịu hình phạt nặng nề của đức vua, liền làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng của người ấy nhờ vào điều kiện có nhiều sự thân thiết và khả năng của bản thân, tâu đại vương tương tợ y như thế ấy đức Thế Tôn sau khi cho Devadatta—là người sẽ bị cảm thọ khổ đau nhiều trăm ngàn koṭi kiếp—xuất gia đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng nhờ vào điều kiện về năng lực và khả năng của giới định tuệ và giải thoát.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc phẫu thuật thiện xảo nhờ vào năng lực của phương thuốc mạnh làm vơi nhẹ căn bệnh trầm trọng, tâu đại vương tương tợ y như thế ấy đức Thế Tôn, là vị có năng lực về lòng bi mẫn, với sự hiểu biết về tu tập, sau khi cho Devadatta—là người sẽ bị cảm thọ khổ đau nhiều trăm ngàn koṭi kiếp—xuất gia đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng nhờ vào năng lực của phương thuốc cứng rắn của Giáo Pháp. Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn ấy, trong khi làm cho Devadatta đáng lẽ bị nhiều cảm thọ (khổ) chỉ còn ít cảm thọ (khổ), lại tạo ra điều vô phước nào đó?”
“Thưa ngài, không tạo ra điều vô phước nào, dầu chỉ là một lượng thời gian ngắn ngủi như việc vắt sữa ở vú bò.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy chấp nhận lý do này theo ý nghĩa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, giống như những người bắt được kẻ trộm phạm tội thì trình lên đức vua rằng: ‘Tâu bệ hạ, kẻ trộm phạm tội này là thuộc về bệ hạ. Đối với kẻ này, xin bệ hạ hãy ra lệnh hành phạt mà bệ hạ muốn. Đứa vua có thể nói về kẻ ấy như vầy: ‘Này các khanh, như thế thì hãy đưa kẻ trộm này ra ngoại thành rồi chém đầu ở bãi hành quyết.’
‘Tâu bệ hạ, xin vâng.’ Vâng lệnh đức vua, những người ấy đã đưa kẻ ấy ra ngoại thành rồi dẫn đến bãi hành quyết. Một người đàn ông nào đó, là người đã đạt được ân huệ từ đức vua, đã đạt được danh tiếng, tài sản, của cải, có lời nói được chấp nhận, có năng lực, có hành động theo ý thích, nhìn thấy kẻ ấy. Người ấy, khởi tâm bi mẫn đến kẻ trộm ấy, nên đã nói với những người ấy như vầy: ‘Này các ông, thôi đi. Các ông được gì với việc chặt đầu của người này? Này các ông, chính vì điều ấy các ông hãy chặt tay hoặc bàn chân của người này và hãy duy trì mạng sống cho gã. Ta sẽ trình tấu đến đức vua lý do của việc này.’ Những người ấy, do lời nói của người có năng lực ấy, có thể chặt tay hoặc bàn chân của kẻ trộm ấy và duy trì mạng sống cho gã. Tâu đại vương, phải chăng người đàn ông ấy, với hành động như vậy, là có thể hiện trách nhiệm đối với kẻ trộm ấy?”
“Thưa ngài, người đàn ông ấy là người ban cho mạng sống đến kẻ trộm. Khi mạng sống đã được ban đến gã, thì có điều gì gọi là đã không được làm cho kẻ ấy?”
“Tuy nhiên, về cảm thọ trong việc chặt tay chân của kẻ ấy, không lẽ người ấy không tạo ra điều vô phước nào trong cái cảm thọ ấy?”
“Thưa ngài, kẻ trộm ấy cảm nhận cảm thọ khổ đau do việc đã làm của mình. Còn người đàn ông, là người ban cho mạng sống, không tạo ra điều vô phước nào cả.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia (nghĩ rằng): ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Tâu đại vương, và khổ đau của Devadatta trở thành có giới hạn. Tâu đại vương, Devadatta vào thời điểm chết, đã đi đến việc nương nhờ khi còn sống (nói rằng):
‘Với những khúc xương này, với các sanh mạng, tôi đi đến nương nhờ đức Phật, nhân vật cao cả ấy, vị Trời vượt trội các vị Trời, đấng Điều Ngự Trượng Phu, bậc nhìn thấy toàn diện, có đặc điểm của trăm phước báu.’
Tâu đại vương, trong kiếp (trái đất) gồm sáu giai đoạn, thì Devadatta đã chia rẽ hội chúng khi giai đoạn thứ nhất đã trôi qua, sau khi bị nung nấu trong năm giai đoạn còn lại rồi từ đó sẽ được giải thoát, và sẽ trở thành vị Độc Giác Phật tên Aṭṭhissara. Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn, với hành động như vậy, là có thể hiện trách nhiệm đối với Devadatta?”
“Thưa ngài Nāgasena, đối với Devadatta đức Như Lai là vị ban bố tất cả, là việc đức Như Lai sẽ khiến cho Devadatta đạt được quả vị Độc Giác Phật. Còn có điều gì đã không được làm bởi đức Như Lai đến Devadatta?”
“Tâu đại vương, vả lại việc Devadatta sau khi chia rẽ hội chúng rồi cảm thọ khổ đau ở địa ngục, tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn do nhân ấy có thể tạo ra điều vô phước nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, Devadatta bị nung nấu ở địa ngục một kiếp do việc đã làm bởi bản thân. Bậc Đạo Sư, là người đã làm cho khổ đau trở thành có giới hạn, không tạo ra điều vô phước nào.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy chấp nhận lý do này theo ý nghĩa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.
Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật thiện xảo, trong khi làm êm dịu vết thương bị tác động dữ dội bởi gió, mật, đàm đã tụ hội lại, bởi sự thay đổi của thời tiết, bởi sự chăm nom không đều đặn, bị xông lên mùi hôi thối của tử thi ô uế, có mũi nhọn bên trong tạo thành lỗ hổng, bị ngập đầy máu ứ, đành phải bôi miệng của vết thương bằng loại thuốc sần sùi, xót xa, nhức nhối, đau đớn. Sau khi làm chín muồi (vết thương) bằng cách thức làm cho chín muồi, rồi mổ vết thương đã được đạt đến trạng thái mềm mỏng bằng dao, sau đó đốt nóng bằng cái thanh dẹp, rồi cho chất kiềm và muối vào vết thương ở chỗ đã được đốt nóng, sau đó bôi thuốc để làm lành vết thương nhằm đạt đến trạng thái tốt lành cho người bị bệnh. Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc phẫu thuật ấy có tâm không tốt nên mới bôi thuốc, mổ ra bằng dao, đốt nóng với cái thanh dẹp, rồi cho chất sát trùng vào vết thương?”
“Thưa ngài, không đúng. Người thầy thuốc có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới làm những hành động ấy.”
“Vậy thì các cảm thọ khổ đau nào đã sanh lên do hành động việc làm và thuốc men đối với người ấy, do nhân ấy người thầy thuốc phẫu thuật ấy có tạo ra điều vô phước nào không?”
“Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới làm những hành động ấy. Làm sao người ấy, do nhân ấy, lại có thể tạo ra điều vô phước? Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật ấy là người sanh về cõi trời.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi khổ đau. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, giống như một người nam bị đâm bởi cây gai, rồi một người nam khác có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, mới cắt xung quanh (vết thương) bằng cây gai nhọn hoặc bằng mũi dao, rồi lấy cây gai ấy ra nhờ vào lượng máu đang bị phun ra, tâu đại vương, phải chăng người nam ấy có tâm không tốt nên mới lấy cây gai ấy ra?”
“Thưa ngài, không đúng. Người nam ấy có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới lấy cây gai ấy ra. Thưa ngài, nếu người nam ấy không lấy cây gai ấy ra, do điều ấy người kia có thể gánh chịu sự chết hoặc khổ đau gần như chết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi sự khổ đau. Tâu đại vương, nếu đức Thế Tôn không cho Devadatta xuất gia, thì Devadatta có thể bị nung nấu ở địa ngục liên tiếp nhiều đời sống thậm chí trong trăm ngàn koṭi kiếp.”
“Thưa ngài Nāgasena, đức Như Lai đã đưa Devadatta, kẻ có sự bị cuốn trôi theo dòng nước, vào Đạo Lộ; đã ban cho Devadatta, kẻ đã bị rơi vào vực thẳm, chỗ đứng; đã đưa Devadatta, kẻ bước đi ở chỗ gập ghềnh, đến nơi bằng phẳng. Thưa ngài Nāgasena, không thể nhìn nhận những nhân tố này và những lý do này bởi người nào khác ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
Câu hỏi về sự xuất gia của Devadatta là thứ ba.
“Bhante nāgasena, devadatto kena pabbājito”ti?
“Chayime, mahārāja, khattiyakumārā bhaddiyo ca anuruddho ca ānando ca bhagu ca kimilo ca devadatto ca upālikappako sattamo abhisambuddhe satthari sakyakulānandajanane bhagavantaṁ anupabbajantā nikkhamiṁsu, te bhagavā pabbājesī”ti.
“Nanu, bhante, devadattena pabbajitvā saṅgho bhinno”ti?
“Āma, mahārāja, devadattena pabbajitvā saṅgho bhinno, na gihī saṅghaṁ bhindati, na bhikkhunī, na sikkhamānā, na sāmaṇero, na sāmaṇerī saṅghaṁ bhindati, bhikkhu pakatatto samānasaṁvāsako samānasīmāyaṁ ṭhito saṅghaṁ bhindatī”ti.
“Saṅghabhedako, bhante, puggalo kiṁ kammaṁ phusatī”ti?
“Kappaṭṭhitikaṁ, mahārāja, kammaṁ phusatī”ti.
“Kiṁ pana, bhante nāgasena, buddho jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṁ bhindissati, saṅghaṁ bhinditvā kappaṁ niraye paccissatī’”ti?
“Āma, mahārāja, tathāgato jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṁ bhindissati, saṅghaṁ bhinditvā kappaṁ niraye paccissatī’”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, buddho jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṁ bhindissati, saṅghaṁ bhinditvā kappaṁ niraye paccissatī’ti, tena hi, bhante nāgasena, buddho kāruṇiko anukampako hitesī sabbasattānaṁ ahitaṁ apanetvā hitamupadahatīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi taṁ ajānitvā pabbājesi, tena hi buddho asabbaññūti, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, vijaṭehi etaṁ mahājaṭaṁ, bhinda parāpavādaṁ, anāgate addhāne tayā sadisā buddhimanto bhikkhū dullabhā bhavissanti, ettha tava balaṁ pakāsehī”ti.
“Kāruṇiko, mahārāja, bhagavā sabbaññū ca, kāruññena, mahārāja, bhagavā sabbaññutañāṇena devadattassa gatiṁ olokento addasa devadattaṁ āpāyikaṁ kammaṁ āyūhitvā anekāni kappakoṭisatasahassāni nirayena nirayaṁ vinipātena vinipātaṁ gacchantaṁ, taṁ bhagavā sabbaññutañāṇena jānitvā imassa apariyantakataṁ kammaṁ mama sāsane pabbajitassa pariyantakataṁ bhavissati, purimaṁ upādāya pariyantakataṁ dukkhaṁ bhavissati, apabbajitopi ayaṁ moghapuriso kappaṭṭhiyameva kammaṁ āyūhissatīti kāruññena devadattaṁ pabbājesī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, buddho vadhitvā telena makkheti, papāte pātetvā hatthaṁ deti, māretvā jīvitaṁ pariyesati, yaṁ so paṭhamaṁ dukkhaṁ datvā pacchā sukhaṁ upadahatī”ti?
“Vadhetipi, mahārāja, tathāgato sattānaṁ hitavasena, pātetipi sattānaṁ hitavasena, māretipi sattānaṁ hitavasena, vadhitvāpi, mahārāja, tathāgato sattānaṁ hitameva upadahati, pātetvāpi sattānaṁ hitameva upadahati, māretvāpi sattānaṁ hitameva upadahati.
Yathā, mahārāja, mātāpitaro nāma vadhitvāpi pātayitvāpi puttānaṁ hitameva upadahanti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato vadhetipi sattānaṁ hitavasena, pātetipi sattānaṁ hitavasena, māretipi sattānaṁ hitavasena, vadhitvāpi, mahārāja, tathāgato sattānaṁ hitameva upadahati, pātetvāpi sattānaṁ hitameva upadahati, māretvāpi sattānaṁ hitameva upadahati, yena yena yogena sattānaṁ guṇavuḍḍhi hoti, tena tena yogena sabbasattānaṁ hitameva upadahati.
Sace, mahārāja, devadatto na pabbājeyya, gihibhūto samāno nirayasaṁvattanikaṁ bahuṁ pāpakammaṁ katvā anekāni kappakoṭisatasahassāni nirayena nirayaṁ vinipātena vinipātaṁ gacchanto bahuṁ dukkhaṁ vedayissati, taṁ bhagavā jānamāno kāruññena devadattaṁ pabbājesi, ‘mama sāsane pabbajitassa dukkhaṁ pariyantakataṁ bhavissatī’ti kāruññena garukaṁ dukkhaṁ lahukaṁ akāsi.
Yathā vā, mahārāja, dhanayasasiriñātibalena balavā puriso attano ñātiṁ vā mittaṁ vā raññā garukaṁ daṇḍaṁ dhārentaṁ attano bahuvissatthabhāvena samatthatāya garukaṁ daṇḍaṁ lahukaṁ akāsi;
evameva kho, mahārāja, bhagavā bahūni kappakoṭisatasahassāni dukkhaṁ vedayamānaṁ devadattaṁ pabbājetvā sīlasamādhipaññāvimuttibalasamatthabhāvena garukaṁ dukkhaṁ lahukaṁ akāsi.
Yathā vā pana, mahārāja, kusalo bhisakko sallakatto garukaṁ rogaṁ balavosadhabalena lahukaṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, bahūni kappakoṭisatasahassāni dukkhaṁ vedayamānaṁ devadattaṁ bhagavā rogaññutāya pabbājetvā kāruññabalo patthaddhadhammosadhabalena garukaṁ dukkhaṁ lahukaṁ akāsi.
Api nu kho so, mahārāja, bhagavā bahuvedanīyaṁ devadattaṁ appavedanīyaṁ karonto kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na kiñci, bhante, apuññaṁ āpajjeyya antamaso gaddūhanamattampī”ti.
“Imampi kho, mahārāja, kāraṇaṁ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Yathā, mahārāja, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ, ‘ayaṁ kho, deva, coro āgucārī, imassa yaṁ icchasi, taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya ‘tena hi, bhaṇe, imaṁ coraṁ bahinagaraṁ nīharitvā āghātane sīsaṁ chindathā’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho te rañño paṭissutvā taṁ bahinagaraṁ nīharitvā āghātanaṁ nayeyyuṁ.
Tamenaṁ passeyya kocideva puriso rañño santikā laddhavaro laddhayasadhanabhogo ādeyyavacano balavicchitakārī, so tassa kāruññaṁ katvā te purise evaṁ vadeyya ‘alaṁ, bho, kiṁ tumhākaṁ imassa sīsacchedanena, tena hi bho imassa hatthaṁ vā pādaṁ vā chinditvā jīvitaṁ rakkhatha, ahametassa kāraṇā rañño santike paṭivacanaṁ karissāmī’ti.
Te tassa balavato vacanena tassa corassa hatthaṁ vā pādaṁ vā chinditvā jīvitaṁ rakkheyyuṁ.
Api nu kho so, mahārāja, puriso evaṁ kārī tassa corassa kiccakārī assā”ti?
“Jīvitadāyako so, bhante, puriso tassa corassa, jīvite dinne kiṁ tassa akataṁ nāma atthī”ti?
“Yā pana hatthapādacchedane vedanā, so tāya vedanāya kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Attano katena so, bhante, coro dukkhavedanaṁ vedayati, jīvitadāyako pana puriso na kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, bhagavā kāruññena devadattaṁ pabbājesi ‘mama sāsane pabbajitassa dukkhaṁ pariyantakataṁ bhavissatī’ti.
Pariyantakatañca, mahārāja, devadattassa dukkhaṁ, devadatto, mahārāja, maraṇakāle—
‘Imehi aṭṭhīhi tamaggapuggalaṁ,
Devātidevaṁ naradammasārathiṁ;
Samantacakkhuṁ satapuññalakkhaṇaṁ,
Pāṇehi buddhaṁ saraṇaṁ upemī’ti.
Pāṇupetaṁ saraṇamagamāsi.
Devadatto, mahārāja, cha koṭṭhāse kate kappe atikkante paṭhamakoṭṭhāse saṅghaṁ bhindi, pañca koṭṭhāse niraye paccitvā tato muccitvā aṭṭhissaro nāma paccekabuddho bhavissati.
Api nu kho so, mahārāja, bhagavā evaṁ kārī devadattassa kiccakārī assā”ti?
“Sabbadado, bhante nāgasena, tathāgato devadattassa, yaṁ tathāgato devadattaṁ paccekabodhiṁ pāpessati, kiṁ tathāgatena devadattassa akataṁ nāma atthī”ti?
“Yaṁ pana, mahārāja, devadatto saṅghaṁ bhinditvā niraye dukkhavedanaṁ vedayati, api nu kho bhagavā tatonidānaṁ kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na hi, bhante, attanā katena, bhante, devadatto kappaṁ niraye paccati, dukkhapariyantakārako satthā na kiñci apuññaṁ āpajjatī”ti.
“Imampi kho tvaṁ, mahārāja, kāraṇaṁ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Yathā, mahārāja, kusalo bhisakko sallakatto vātapittasemhasannipātautupariṇāmavisamaparihāraopakkamikopakkantaṁ pūtikuṇapaduggandhābhisañchannaṁ antosallaṁ susiragataṁ pubbaruhirasampuṇṇaṁ vaṇaṁ vūpasamento vaṇamukhaṁ kakkhaḷatikhiṇakhārakaṭukena bhesajjena anulimpati paripaccanāya, paripaccitvā mudubhāvamupagataṁ satthena vikantayitvā ḍahati salākāya, daḍḍhe khāralavaṇaṁ deti, bhesajjena anulimpati vaṇaruhanāya byādhitassa sotthibhāvamanuppattiyā, api nu kho so, mahārāja, bhisakko sallakatto ahitacitto bhesajjena anulimpati, satthena vikanteti, ḍahati salākāya, khāralavaṇaṁ detī”ti?
“Na hi, bhante, hitacitto sotthikāmo tāni kiriyāni karotī”ti.
“Yā panassa bhesajjakiriyākaraṇena uppannā dukkhavedanā, tatonidānaṁ so bhisakko sallakatto kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Hitacitto, bhante, sotthikāmo bhisakko sallakatto tāni kiriyāni karoti, kiṁ so tatonidānaṁ apuññaṁ āpajjeyya, saggagāmī so, bhante, bhisakko sallakatto”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kāruññena bhagavā devadattaṁ pabbājesi dukkhaparimuttiyā.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṁ pabbājesi.
Yathā, mahārāja, puriso kaṇṭakena viddho assa, athaññataro puriso tassa hitakāmo sotthikāmo tiṇhena kaṇṭakena vā satthamukhena vā samantato chinditvā paggharantena lohitena taṁ kaṇṭakaṁ nīhareyya, api nu kho so, mahārāja, puriso ahitakāmo taṁ kaṇṭakaṁ nīharatī”ti?
“Na hi, bhante, hitakāmo so, bhante, puriso sotthikāmo taṁ kaṇṭakaṁ nīharati.
Sace so, bhante, taṁ kaṇṭakaṁ na nīhareyya, maraṇaṁ vā so tena pāpuṇeyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato kāruññena devadattaṁ pabbājesi dukkhaparimuttiyā.
Sace, mahārāja, bhagavā devadattaṁ na pabbājeyya, kappakoṭisatasahassampi devadatto bhavaparamparāya niraye pacceyyā”ti.
“Anusotagāmiṁ, bhante nāgasena, devadattaṁ tathāgato paṭisotaṁ pāpesi, vipanthapaṭipannaṁ devadattaṁ panthe paṭipādesi, papāte patitassa devadattassa patiṭṭhaṁ adāsi, visamagataṁ devadattaṁ tathāgato samaṁ āropesi.
Ime ca, bhante nāgasena, hetū imāni ca kāraṇāni na sakkā aññena sandassetuṁ aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Devadattapabbajjapañho tatiyo.