BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là đấng Toàn Tri?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là đấng Toàn Tri. Tuy nhiên đối với đức Thế Tôn, sự biết và thấy không hiện diện một cách thường xuyên, liên tục. Trí Toàn Tri của đức Thế Tôn gắn liền vào sự hướng tâm. Sau khi hướng tâm thì Ngài biết theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì đức Phật là không Toàn Tri, nếu Trí Toàn Tri của Ngài là do sự suy tầm.”
“Tâu đại vương, có một trăm xe lúa, mỗi xe là bảy tạ rưỡi và hai giạ lúa. Chừng ấy trăm ngàn hạt lúa có thể được xác định, có thể đạt đến kết quả cuối cùng bởi tâm được vận hành trong khoảng thời gian một khảy móng tay. Ở đây, có bảy loại tâm này vận hành: Tâu đại vương, những người nào còn luyến ái, còn sân hận, còn si mê, còn phiền não, có thân chưa được tu tập, có giới chưa được tu tập, có tâm chưa được tu tập, có tuệ chưa được tu tập, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất chưa được tu tập của tâm.
Tâu đại vương, giống như đối với cành tre được tỏa ra, rậm rạp, lan rộng, bị kết chùm chưa được gỡ ra, bị rối rắm với những cụm cành lá, trong khi được lôi kéo thì sự chuyển động là trì trệ, chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất kết chùm chưa được gỡ ra của các cành. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào còn luyến ái, còn sân hận, còn si mê, còn phiền não, có thân chưa được tu tập, có giới chưa được tu tập, có tâm chưa được tu tập, có tuệ chưa được tu tập, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất kết chùm chưa được gỡ ra bởi các phiền não. Đây là loại tâm thứ nhất.
BJT 2Ở đây, có loại tâm thứ nhì này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Nhập Lưu, có các cõi khổ đã được đóng lại, đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức được Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng ở ba trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở ba trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên.
Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở ba lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến ba lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Nhập Lưu, có các cõi khổ đã được đóng lại, đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức được Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng ở ba trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở ba trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Đây là loại tâm thứ nhì.
BJT 3Ở đây, có loại tâm thứ ba này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Nhất Lai, có sự luyến ái, sân hận, si mê ở trạng thái giảm thiểu, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở năm trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở năm lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến năm lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Nhất Lai, có sự luyến ái, sân hận, si mê ở trạng thái giảm thiểu, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở năm trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp. Đây là loại tâm thứ ba.
BJT 4Ở đây, có loại tâm thứ tư này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Bất Lai, có năm sự ràng buộc ở phần dưới đã được dứt bỏ, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở mười trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở mười lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến mười lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Bất Lai, có năm sự ràng buộc ở phần dưới đã được dứt bỏ, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở mười trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Đây là loại tâm thứ tư.
BJT 5Ở đây, có loại tâm thứ năm này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có các bợn nhơ đã được rửa sạch, có các phiền não đã được ói ra, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, có các tuệ phân tích đã đạt, đã được trong sạch ở các cảnh giới của vị Thinh Văn, tâm của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của vị Thinh Văn, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Độc Giác. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của vị Thinh Văn, vì tính chất chưa được trong sạch của tâm ở phạm vi của vị Phật Độc Giác. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở tất cả các lóng, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng, không bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở tất cả các lóng, vì tính chất không còn bám víu của thân cây tre. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có các bợn nhơ đã được rửa sạch, có các phiền não đã được ói ra, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, có các tuệ phân tích đã đạt, đã được trong sạch ở các cảnh giới của vị Thinh Văn, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của vị Thinh Văn, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Độc Giác. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của vị Thinh Văn, vì tính chất chưa được trong sạch của tâm ở phạm vi của vị Phật Độc Giác. Đây là loại tâm thứ năm.
BJT 6Ở đây, có loại tâm thứ sáu này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là Phật Độc Giác, bậc tự chủ, không thầy, độc hành tợ như sừng tê giác, có tâm đã được trong sạch không còn bợn nhơ ở phạm vi của mình, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của mình, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Toàn Tri. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại ở phạm vi của vị Phật Toàn Tri.
Tâu đại vương, giống như người nam có thể băng qua con sông nhỏ thuộc phạm vi của mình vào ban đêm lẫn ban ngày, theo như ước muốn, không bị hãi sợ, nhưng sau đó khi nhìn thấy đại dương sâu thẳm, mênh mông, không thể ước lượng, không có bờ bên kia, có thể hãi sợ, có thể ngần ngại, không dám vượt qua. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được quen thuộc ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại của đại dương. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là Phật Độc Giác, bậc tự chủ, không thầy, độc hành tợ như sừng tê giác, có tâm đã được trong sạch không còn bợn nhơ ở phạm vi của mình, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của mình, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Toàn Tri. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại ở phạm vi của vị Phật Toàn Tri. Đây là loại tâm thứ sáu.
BJT 7Ở đây, có loại tâm thứ bảy này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là Phật Chánh Đẳng Giác, đấng Toàn Tri, bậc nắm giữ mười Lực, có sự tự tin ở bốn pháp tự tin, hội đủ mười tám pháp của vị Phật, là đấng Chiến Thắng vô biên, có trí không bị che lấp, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở mọi nơi. Tâu đại vương, phải chăng có sự vụng về hoặc sự vướng víu của mũi tên khéo được làm sạch sẽ, không bợn nhơ, không có mắc mứu, có thân mềm mại, không bị uốn, không bị cong, không bị quẹo, được đặt lên cây cung vững chãi, được bắn ra bởi người có sức mạnh vào tấm vải gai mềm, lớp gòn mềm, tấm len mềm?”
“Thưa ngài, không có.”
“Vì lý do gì?”
“Vì tính chất mềm mại của những tấm vải, vì tính chất được làm sạch sẽ của mũi tên, và tính chất mạnh mẽ của phát bắn ra.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là Phật Chánh Đẳng Giác, đấng Toàn Tri, bậc nắm giữ mười Lực, có sự tự tin ở bốn pháp tự tin, hội đủ mười tám pháp của vị Phật, là đấng Chiến Thắng vô biên, có trí không bị che lấp, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở mọi nơi. Đây là loại tâm thứ bảy.
BJT 8Tâu đại vương, ở đây tâm này của chư Phật Toàn Tri vượt trội sự tính đếm của luôn cả sáu loại tâm, được trong sạch và nhẹ nhàng với đức tính vô số kể. Và tâu đại vương, bởi vì tâm của đức Thế Tôn được trong sạch và nhẹ nhàng nên đức Thế Tôn mới phô diễn song thông. Tâu đại vương, về song thông nên được biết rằng: ‘Tâm của chư Phật Thế Tôn có sự chuyển dịch nhẹ nhàng như thế.’
Trong trường hợp ấy, không thể nào nói hơn nữa về lý do. Tâu đại vương, những loại thần thông có liên quan đến tâm của chư Phật Toàn Tri ấy đều không thể áp đặt phép đếm, phép tính, sự chia chẻ, và luôn cả sự tách phần. Tâu đại vương, trí Toàn Tri của đức Thế Tôn được gắn liền vào sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Tâu đại vương, giống như người nam có thể đặt xuống ở bàn tay thứ nhì bất cứ vật gì đã được đặt xuống ở bàn tay (thứ nhất), có thể phát ra lời nói bằng miệng đã được mở ra, có thể nuốt vào thức ăn đã đưa vào miệng, có thể mở mắt ra rồi nhắm lại, hoặc có thể nhắm mắt lại rồi mở ra, có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại, hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, việc ấy còn chậm hơn, tâu đại vương, trí Toàn Tri của đức Thế Tôn là nhẹ nhàng hơn, sự hướng tâm là nhẹ nhàng hơn. Sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Dầu cho không có sự hướng tâm, chư Phật Thế Tôn ấy vẫn không gọi là không có Toàn Tri”
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, sự hướng tâm là được thực hiện do sự suy tầm, vậy thì ngài hãy giúp cho trẫm hiểu trường hợp ấy bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, giống như người giàu thì có nhiều tài sản, có nhiều của cải, có dồi dào vàng bạc và vật sở hữu dự phòng, có dồi dào tài sản và ngũ cốc là gạo thơm, thóc, lúa mạch, gạo xay, mè, đậu mugga, đậu māsa, các loại hạt chưa chế biến hoặc các loại khác nữa, bơ lỏng, dầu ăn, bơ đặc, sữa tươi, sữa đông, mật ong, mật đường, và đường mía được chứa ở bình, chum, lu, hũ, chậu, và có người khách, là người xứng đáng để mời ăn và có sự mong mỏi về bữa ăn, đi đến với người ấy, nhưng tại nhà của người ấy thức ăn nấu chín là đã hết sạch thì có thể đem gạo từ chum lại rồi nấu chín. Tâu đại vương, phải chăng do sự việc thiếu hụt thức ăn trong chốc lát mà người ấy trở thành người không có tài sản và nghèo khó?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, ngay cả ở nhà của đức Chuyển Luân Vương cũng có sự thiếu hụt thức ăn vào lúc không đúng thời điểm, thì có điều gì đối với gia chủ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế là trí Toàn Tri của đức Như Lai trong trường hợp không có sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.
BJT 10Tâu đại vương, hơn nữa giống như cây cối thì có thể kết trái, bị oằn xuống, bị uốn cong, bị mang nặng trĩu bởi những chùm trái, và không có trái nào bị rơi rụng ở tại nơi ấy. Tâu đại vương, phải chăng do sự việc không có trái cây rơi rụng trong chốc lát mà cây ấy trở thành không có trái cây?”
“Thưa ngài, không đúng. Những trái cây ấy được gắn liền với sự rơi rụng. Khi được rơi rụng thì đạt được theo như ý muốn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế là trí Toàn Tri của đức Như Lai trong trường hợp không có sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải sau khi hướng tâm thì đức Phật biết theo như ý muốn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn sau khi lần lượt hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Tâu đại vương, giống như đức Chuyển Luân Vương khi nào nhớ đến bánh xe báu (khởi ý rằng): ‘Bánh xe báu hãy đến với ta,’ trong khi nhớ đi nhớ lại thì bánh xe báu hiện đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đức Như Lai sau khi lần lượt hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, lý do là vững chãi. Đức Phật là đấng Toàn Tri. Chúng tôi chấp nhận đức Phật là đấng Toàn Tri.”
Câu hỏi về bản thể Toàn Tri của đức Thế Tôn là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, buddho sabbaññū”ti?
“Āma, mahārāja, bhagavā sabbaññū, na ca bhagavato satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitaṁ, āvajjanapaṭibaddhaṁ bhagavato sabbaññutañāṇaṁ, āvajjitvā yadicchakaṁ jānātī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, buddho asabbaññūti.
Yadi tassa pariyesanāya sabbaññutañāṇaṁ hotī”ti.
“Vāhasataṁ kho, mahārāja, vīhīnaṁ aḍḍhacūḷañca vāhā vīhisattambaṇāni dve ca tumbā ekaccharākkhaṇe pavattacittassa ettakā vīhī lakkhaṁ ṭhapīyamānā parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyyuṁ?
Tatrime sattavidhā cittā pavattanti—
ye te, mahārāja, sarāgā sadosā samohā sakilesā abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṁ taṁ cittaṁ garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Abhāvitattā cittassa.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa vitatassa visālassa vitthiṇṇassa saṁsibbitavisibbitassa sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa garukaṁ hoti āgamanaṁ dandhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Saṁsibbitavisibbitattā sākhānaṁ.
Evameva kho, mahārāja, ye te sarāgā sadosā samohā sakilesā abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṁ taṁ cittaṁ garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Saṁsibbitavisibbitattā kilesehi, idaṁ paṭhamaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ dutiyaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, sotāpannā pihitāpāyā diṭṭhippattā viññātasatthusāsanā, tesaṁ taṁ cittaṁ tīsu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati.
Uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Tīsu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa tipabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva tipabbaṁ tāva lahukaṁ eti, tato upari thaddhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā.
Evameva kho, mahārāja, ye te sotāpannā pihitāpāyā diṭṭhippattā viññātasatthusāsanā, tesaṁ taṁ cittaṁ tīsu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Tīsu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā, idaṁ dutiyaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ tatiyaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, sakadāgāmino, yesaṁ rāgadosamohā tanubhūtā, tesaṁ taṁ cittaṁ pañcasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Pañcasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa pañcapabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva pañcapabbaṁ tāva lahukaṁ eti, tato upari thaddhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā.
Evameva kho, mahārāja, ye te sakadāgāmino, yesaṁ rāgadosamohā tanubhūtā, tesaṁ taṁ cittaṁ pañcasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Pañcasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā, idaṁ tatiyaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ catutthaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, anāgāmino, yesaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, tesaṁ taṁ cittaṁ dasasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Dasasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa dasapabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva dasapabbaṁ tāva lahukaṁ eti, tato upari thaddhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā.
Evameva kho, mahārāja, ye te anāgāmino, yesaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, tesaṁ taṁ cittaṁ dasasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Dasasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā, idaṁ catutthaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ pañcamaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, arahanto khīṇāsavā dhotamalā vantakilesā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā pattapaṭisambhidā sāvakabhūmīsu parisuddhā, tesaṁ taṁ cittaṁ sāvakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, paccekabuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sāvakavisaye, aparisuddhattā paccekabuddhavisaye.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa sabbapabbagaṇṭhiparisuddhassa ākaḍḍhiyantassa lahukaṁ hoti āgamanaṁ adandhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Sabbapabbagaṇṭhiparisuddhattā agahanattā vaṁsassa.
Evameva kho, mahārāja, ye te arahanto khīṇāsavā dhotamalā vantakilesā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā pattapaṭisambhidā sāvakabhūmīsu parisuddhā, tesaṁ taṁ cittaṁ sāvakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, paccekabuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sāvakavisaye, aparisuddhattā paccekabuddhavisaye, idaṁ pañcamaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ chaṭṭhaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, paccekabuddhā sayambhuno anācariyakā ekacārino khaggavisāṇakappā sakavisaye parisuddhavimalacittā, tesaṁ taṁ cittaṁ sakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, sabbaññubuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sakavisaye mahantattā sabbaññubuddhavisayassa.
Yathā, mahārāja, puriso sakavisayaṁ parittaṁ nadiṁ rattimpi divāpi yadicchakaṁ acchambhito otareyya, atha parato mahāsamuddaṁ gambhīraṁ vitthataṁ agādhamapāraṁ disvā bhāyeyya, dandhāyeyya na visaheyya otarituṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Tiṇṇattā sakavisayassa, mahantattā ca mahāsamuddassa.
Evameva kho, mahārāja, ye te paccekabuddhā sayambhuno anācariyakā ekacārino khaggavisāṇakappā sakavisaye parisuddhavimalacittā, tesaṁ taṁ cittaṁ sakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, sabbaññubuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sakavisaye mahantattā sabbaññubuddhavisayassa, idaṁ chaṭṭhaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ sattamaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, sammāsambuddhā sabbaññuno dasabaladharā catuvesārajjavisāradā aṭṭhārasahi buddhadhammehi samannāgatā anantajinā anāvaraṇañāṇā, tesaṁ taṁ cittaṁ sabbattha lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Sabbattha parisuddhattā.
Api nu kho, mahārāja, nārācassa sudhotassa vimalassa niggaṇṭhissa sukhumadhārassa ajimhassa avaṅkassa akuṭilassa daḷhacāpasamārūḷhassa khomasukhume vā kappāsasukhume vā kambalasukhume vā balavanipātitassa dandhāyitattaṁ vā lagganaṁ vā hotī”ti?
“Na hi, bhante”.
“Kiṁ kāraṇā?
Sukhumattā vatthānaṁ sudhotattā nārācassa nipātassa ca balavattāti;
evameva kho, mahārāja, ye te sammāsambuddhā sabbaññuno dasabaladharā catuvesārajjavisāradā aṭṭhārasahi buddhadhammehi samannāgatā anantajinā anāvaraṇañāṇā, tesaṁ taṁ cittaṁ sabbattha lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Sabbattha parisuddhattā, idaṁ sattamaṁ cittaṁ.
Tatra, mahārāja, yadidaṁ sabbaññubuddhānaṁ cittaṁ, taṁ channampi cittānaṁ gaṇanaṁ atikkamitvā asaṅkhyeyyena guṇena parisuddhañca lahukañca.
Yasmā ca bhagavato cittaṁ parisuddhañca lahukañca, tasmā, mahārāja, bhagavā yamakapāṭihīraṁ dasseti.
Yamakapāṭihīre, mahārāja, ñātabbaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ cittaṁ evaṁ lahuparivattanti, na tattha sakkā uttariṁ kāraṇaṁ vattuṁ, tepi, mahārāja, pāṭihīrā sabbaññubuddhānaṁ cittaṁ upādāya gaṇanampi saṅkhampi kalampi kalabhāgampi na upenti, āvajjanapaṭibaddhaṁ, mahārāja, bhagavato sabbaññutañāṇaṁ, āvajjetvā yadicchakaṁ jānāti.
Yathā, mahārāja, puriso hatthe ṭhapitaṁ yaṁ kiñci dutiye hatthe ṭhapeyya vivaṭena mukhena vācaṁ nicchāreyya, mukhagataṁ bhojanaṁ gileyya, ummīletvā vā nimīleyya, nimīletvā vā ummīleyya, samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya, cirataraṁ etaṁ, mahārāja, lahutaraṁ bhagavato sabbaññutañāṇaṁ, lahutaraṁ āvajjanaṁ, āvajjetvā yadicchakaṁ jānāti, āvajjanavikalamattakena na tāvatā buddhā bhagavanto asabbaññuno nāma hontī”ti.
“Āvajjanampi, bhante nāgasena, pariyesanāya kātabbaṁ, iṅgha maṁ tattha kāraṇena saññāpehī”ti.
“Yathā, mahārāja, purisassa aḍḍhassa mahaddhanassa mahābhogassa pahūtajātarūparajatassa pahūtavittūpakaraṇassa pahūtadhanadhaññassa sālivīhiyavataṇḍulatilamuggamāsapubbaṇṇāparaṇṇasappitelanavanītakhīradadhimadhuguḷaphāṇitā ca khaḷopikumbhipīṭharakoṭṭhabhājanagatā bhaveyyuṁ, tassa ca purisassa pāhunako āgaccheyya bhattāraho bhattābhikaṅkhī, tassa ca gehe yaṁ randhaṁ bhojanaṁ, taṁ pariniṭṭhitaṁ bhaveyya, kumbhito taṇḍule nīharitvā bhojanaṁ randheyya, api ca kho so, mahārāja, tāvatakena bhojanavekallamattakena adhano nāma kapaṇo nāma bhaveyyā”ti?
“Na hi, bhante, cakkavattirañño gharepi, bhante, akāle bhojanavekallaṁ hoti, kiṁ pana gahapatikassā”ti?
“Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa āvajjanavikalamattakaṁ sabbaññutañāṇaṁ āvajjetvā yadicchakaṁ jānāti.
Yathā vā pana, mahārāja, rukkho assa phalito oṇatavinato piṇḍibhārabharito, na kiñci tattha patitaṁ phalaṁ bhaveyya, api nu kho so, mahārāja, rukkho tāvatakena patitaphalavekallamattakena aphalo nāma bhaveyyā”ti?
“Na hi, bhante, patanapaṭibaddhāni tāni rukkhaphalāni, patite yadicchakaṁ labhatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa āvajjanapaṭibaddhaṁ sabbaññutañāṇaṁ āvajjetvā yadicchakaṁ jānātī”ti.
“Bhante nāgasena, āvajjetvā āvajjetvā buddho yadicchakaṁ jānātī”ti?
“Āma, mahārāja, bhagavā āvajjetvā āvajjetvā yadicchakaṁ jānātīti.
Yathā, mahārāja, cakkavattī rājā yadā cakkaratanaṁ sarati ‘upetu me cakkaratanan’ti, sarite cakkaratanaṁ upeti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato āvajjetvā āvajjetvā yadicchakaṁ jānātī”ti.
“Daḷhaṁ, bhante nāgasena, kāraṇaṁ, buddho sabbaññū, sampaṭicchāma buddho sabbaññū”ti.
Buddhasabbaññubhāvapañho dutiyo.
PTS cs 19 ‘Venerable Nāgasena, was the Buddha omniscient?’
‘Yes, O king, he was. But the insight of knowledge was not always and continually (consciously) present with him. The omniscience of the Blessed One was dependent on reflection.’ But if he did reflect he knew whatever he wanted to know.
‘Then, Sir, the Buddha cannot have been omniscient, if his all-embracing knowledge was reached through investigation.’
‘[If so, great king, our Buddha’s knowledge must have been less in degree of fineness than that of the other Buddhas. And that is a conclusion hard to draw. But let me explain a little further.] Suppose, O king, you had a hundred cart-loads of rice in the husk, and each cart-load was of seven ammaṇas and a half. Would a man without consideration be able to tell you in a moment how many laks of grains there were in the whole ?’ PTS vp En 155
PTS cs 20 ‘Now there are these, seven classes of minds. Those, great king, who are full of lust, ill-will, delusion, or wrong doing, who are untrained in the management of their body, or in conduct, or in thought, or in wisdom—their thinking powers are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is it so? Because of the untrained condition of their minds. It is like the slow and heavy movements of a giant bambū—when it is being dragged along with its wide-spreading, extensive, overgrown, and interlaced vegetation, and with its branches intricately entangled one with the other. So slow and heavy are the movements of the minds of those men, O king. And why? Because of the intricate entanglements of wrong dispositions. This is the first class of minds.’
PTS cs 21 ‘From it the second class is to be distinguished. Those, O king, who have been converted, for whom the gates of purgatory are closed, who have attained to right views, who have grasped the doctrine of the Master—their thinking powers, so far as the three lower stages are concerned, are brought quickly PTS vp En 156 into play, PTS vp Pali 103 and act with ease. But as regards the higher regions they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their minds having been made clear as regards those three stages, and because of the failings (to be vanquished in the higher stages) still existing within them. It is like the movement of a giant bambū which has a clean trunk as far as the third knot, but above that has its branches intricately, entangled. So far as regards the smooth trunk it would travel easily when dragged along, but it would stick obstinately as regards its upper branches. This is the second class of minds.’
PTS cs 22 ‘From these the third class is to be distinguished. Those, O king, who are Sakadāgāmins, in whom lust, ill-will, and delusion are reduced to a minimum—their thinking powers, so far as the five lower stages are concerned, are brought quickly into play, and act with ease. But as regards the higher regions they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their minds having been made clear as regards those five stages, and because of the failings (to be vanquished in the higher stages) still existing within them. It is like the movement of a giant bambū which has a clean trunk as far as the fifth knot, but above that has its branches intricately entangled. So far as regards the smooth trunk it would travel easily when dragged along, but it would be moved with difficulty as far as its upper branches are concerned. This is the third class of minds.’ PTS vp En 157
PTS cs 23 ‘From these the fourth class is to be distinguished. Those, O king, who are Anāgāmins, who have completely got rid of the five lower fetters—their thinking powers, so far as the ten stages are concerned, are brought quickly into play, and act with ease. PTS vp Pali 104 But as regards the higher regions they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their minds having been made clear as regards those ten stages, and because of the failings (to be vanquished in the higher stages) still existing within them. It is like the movement of a giant bambū which has a smooth trunk as far as the tenth knot, but above that has its branches intricately entangled. This is the fourth class of minds.’
PTS cs 24 ‘From these the fifth class is to be distinguished. Those, O king, who are Arahats, in whom the four Great Evils have ceased, whose stains have been washed away, whose predispositions to evil have been put aside, who have lived the life, and accomplished the task, and laid aside every burden, and reached up to that which is good, for whom the Fetter of the craving after any kind of future life has been broken to pieces, who have reached the higher insight, who are purified as regards all those conditions of heart in which a PTS vp En 158 hearer can be pure—their thinking powers, as regards all that a disciple can be or do, are brought quickly into play, and act with ease. But as to those things which are within the reach of the Pacceka-Buddhas (of those who are Buddhas, but for themselves alone) they are brought into play with difficulty, and act slowly. And why is this so? Because of their having been made pure as regards all within the province of a hearer, but not as regards that within the reach of those who are Buddhas (though for themselves alone). It is like the movement of a giant bambū which has been pruned of the branches arising out of all its knots—and which, therefore, when dragged along moves quickly and with ease, because of its smoothness all along, and because of its being unencumbered with the jungly growth of vegetation. This is the fifth class of minds.’
PTS cs 25 PTS vp Pali 105 ‘From these the sixth class is to be distinguished. Those, O king, who are Pacceka-Buddhas, dependent on themselves alone, wanting no teacher, dwellers alone like the solitary horn of the rhinoceros, who so far as their own higher life is concerned, have pure hearts free from stain—their thinking powers, so far as their own province is concerned, are brought quickly into play, and act with ease. But as regards all that is specially within the province of a perfect Buddha (one who is not only Buddha, that is enlightened, himself, but can lead others to the light) they are brought with difficulty into play, and move slowly. And why is this so? Because of their purity as regards all within their own province, and because of the immensity of the province of the omniscient Buddhas. It is like a man, O king, who would fearlessly cross, and at will, PTS vp En 159 by day or night, a shallow brook on his own property. But when he comes in sight of the mighty ocean, deep and wide and ever-moving, and sees no further shore to it, then would he stand hesitating and afraid, and make no effort even to get over it. And why? Because of his familiarity with his own, and because of the immensity of the sea. This is the sixth class of minds.’
PTS cs 26 ‘From these the seventh class is to be distinguished. Those, O king, who are complete Buddhas, having all knowledge, bearing about in themselves the tenfold power (of the ten kinds of insight), confident in the four modes of just self-confidence, endowed with the eighteen characteristics of a Buddha, whose mastery knows no limit, from whose grasp nothing is hid—their thinking powers are on every point brought quickly into play, and act with ease. Suppose, O king, a dart well burnished, free from rust, perfectly smooth, with a fine edge, straight, without a crook or a flaw in it, were to be set on a powerful crossbow. Would there be any clumsiness in its action, any retarding in its movement, if it were discharged by a powerful man against a piece of fine linen, or cotton stuff, or delicate woolwork?’
‘Certainly not, Sir. And why? Because the stuff is so fine, and the dart so highly tempered, and the discharge so powerful.’
PTS vp Pali 106 ‘And just in the same way, great king, are the thinking powers of the Buddhas I have described brought quickly into play, and act with ease. PTS vp En 160 And why? Because of their being purified in every respect. This is the seventh class of minds.’
PTS cs 27 ‘Now of these, O king, the last—the thinking powers of the omniscient Buddhas—altogether outclasses the other six, and is clear and active in its high quality that is beyond our ken. It is because the mind of the Blessed One is so clear and active that the Blessed One, great king, displays the double miracle. From that we may get to know, O king, how clear and active His mental powers are. And for those wonders there is no further reason that can be alleged. (Yet) those wonders, O king, [caused by means of the mind (alone) of the omniscient Buddhas ] cannot be counted, or calculated, or divided, or separated, (For) the knowledge of the Blessed One, O king, is dependent upon reflection, and it is on reflection that he knows whatever he wishes to know. (But) it is as when a man passes something he already has in one hand to the other, or utters a sound when his mouth is open, or swallows some food that he has already in his mouth, or opens his eyes when they are shut, or shuts them when open, or stretches forth his arm when it is bent in, or bends it in when stretched out—more rapid than that, great king, and more easy in its action, is the all-embracing knowledge of the Blessed One, more rapid than that his reflection. And although it is by reflection that they know whatever they want to know, yet even when they PTS vp En 161 are not reflecting the Blessed Buddhas are not, even then, anything other than omniscient.’
‘But, venerable Nāgasena, reflection is carried on for the purpose of seeking (that which is not clear when the reflection begins). Come now. Convince me in this matter by some reason.’
‘Suppose, O king, there were a rich man, great in wealth and property—one who had stores of gold and silver and valuables, and stores of all kinds of wheat, one who had rice, and paddy, and barley, and dry grain, and oilseed, and beans, and peas, and every other edible seed, who had ghee, and oil, and butter, and milk, and curds, and honey, and sugar, and molasses, PTS vp Pali 107 all put away in store-rooms in jars, and pots, and pans, and every sort of vessel. Now if a traveller were to arrive, one worthy of hospitality, and expecting to be entertained; and all the prepared food in the house had been finished, and they were to get out of the jar some rice ready for cooking, and prepare a meal for him. Would that wealthy man merely by reason of the deficiency in eatable stuff at that unusual time be rightly called poor or needy?’
‘Certainly not, Sir. Even in the palace of a mighty king of kings there might be no food ready out of time, how much less in the house of an ordinary man.’
‘Just so, great king, with the all-embracing knowledge of a Tathāgata when reflection only is wanting; but which on reflection grasps whatever he wants. Now suppose, O king, there were a tree in full fruit, with its branches bending this way and that by the weight of the burden of the bunches of its fruit, but no single fruit had fallen from it. PTS vp En 162 Could that tree rightly, under the circumstances of the case, be called barren, merely because of the want of a fallen fruit?’
‘No, Sir. For though the falling of the fruit is a condition precedent to its enjoyment, yet when it has fallen one can take as much as one likes.’
‘Just so, great king, though reflection is a necessary condition of the knowledge of the Tathāgata, yet on reflection it perceives whatever he wants to know.’
‘Does that happen always, Nāgasena, at the moment of reflection?’
‘Yes, O king. just as when the mighty king of kings (the cakkavatti) calling to mind his glorious wheel of victory wishes it to appear, and no sooner is it thought of than it appears—so does the knowledge of the Tathāgata follow continually on reflection.’
‘Strong is the reason you give, Nāgasena, for the omniscience of the Buddha. I am convinced that that is so.’
Here ends the question as to the omniscience of the Buddha being dependent on reflection.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là đấng Toàn Tri?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là đấng Toàn Tri. Tuy nhiên đối với đức Thế Tôn, sự biết và thấy không hiện diện một cách thường xuyên, liên tục. Trí Toàn Tri của đức Thế Tôn gắn liền vào sự hướng tâm. Sau khi hướng tâm thì Ngài biết theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì đức Phật là không Toàn Tri, nếu Trí Toàn Tri của Ngài là do sự suy tầm.”
“Tâu đại vương, có một trăm xe lúa, mỗi xe là bảy tạ rưỡi và hai giạ lúa. Chừng ấy trăm ngàn hạt lúa có thể được xác định, có thể đạt đến kết quả cuối cùng bởi tâm được vận hành trong khoảng thời gian một khảy móng tay. Ở đây, có bảy loại tâm này vận hành: Tâu đại vương, những người nào còn luyến ái, còn sân hận, còn si mê, còn phiền não, có thân chưa được tu tập, có giới chưa được tu tập, có tâm chưa được tu tập, có tuệ chưa được tu tập, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất chưa được tu tập của tâm.
Tâu đại vương, giống như đối với cành tre được tỏa ra, rậm rạp, lan rộng, bị kết chùm chưa được gỡ ra, bị rối rắm với những cụm cành lá, trong khi được lôi kéo thì sự chuyển động là trì trệ, chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất kết chùm chưa được gỡ ra của các cành. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào còn luyến ái, còn sân hận, còn si mê, còn phiền não, có thân chưa được tu tập, có giới chưa được tu tập, có tâm chưa được tu tập, có tuệ chưa được tu tập, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất kết chùm chưa được gỡ ra bởi các phiền não. Đây là loại tâm thứ nhất.
BJT 2Ở đây, có loại tâm thứ nhì này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Nhập Lưu, có các cõi khổ đã được đóng lại, đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức được Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng ở ba trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở ba trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên.
Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở ba lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến ba lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Nhập Lưu, có các cõi khổ đã được đóng lại, đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức được Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng ở ba trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở ba trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Đây là loại tâm thứ nhì.
BJT 3Ở đây, có loại tâm thứ ba này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Nhất Lai, có sự luyến ái, sân hận, si mê ở trạng thái giảm thiểu, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở năm trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở năm lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến năm lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Nhất Lai, có sự luyến ái, sân hận, si mê ở trạng thái giảm thiểu, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở năm trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp. Đây là loại tâm thứ ba.
BJT 4Ở đây, có loại tâm thứ tư này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Bất Lai, có năm sự ràng buộc ở phần dưới đã được dứt bỏ, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở mười trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở mười lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến mười lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Bất Lai, có năm sự ràng buộc ở phần dưới đã được dứt bỏ, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở mười trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Đây là loại tâm thứ tư.
BJT 5Ở đây, có loại tâm thứ năm này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có các bợn nhơ đã được rửa sạch, có các phiền não đã được ói ra, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, có các tuệ phân tích đã đạt, đã được trong sạch ở các cảnh giới của vị Thinh Văn, tâm của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của vị Thinh Văn, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Độc Giác. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của vị Thinh Văn, vì tính chất chưa được trong sạch của tâm ở phạm vi của vị Phật Độc Giác. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở tất cả các lóng, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng, không bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở tất cả các lóng, vì tính chất không còn bám víu của thân cây tre. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có các bợn nhơ đã được rửa sạch, có các phiền não đã được ói ra, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, có các tuệ phân tích đã đạt, đã được trong sạch ở các cảnh giới của vị Thinh Văn, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của vị Thinh Văn, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Độc Giác. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của vị Thinh Văn, vì tính chất chưa được trong sạch của tâm ở phạm vi của vị Phật Độc Giác. Đây là loại tâm thứ năm.
BJT 6Ở đây, có loại tâm thứ sáu này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là Phật Độc Giác, bậc tự chủ, không thầy, độc hành tợ như sừng tê giác, có tâm đã được trong sạch không còn bợn nhơ ở phạm vi của mình, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của mình, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Toàn Tri. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại ở phạm vi của vị Phật Toàn Tri.
Tâu đại vương, giống như người nam có thể băng qua con sông nhỏ thuộc phạm vi của mình vào ban đêm lẫn ban ngày, theo như ước muốn, không bị hãi sợ, nhưng sau đó khi nhìn thấy đại dương sâu thẳm, mênh mông, không thể ước lượng, không có bờ bên kia, có thể hãi sợ, có thể ngần ngại, không dám vượt qua. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được quen thuộc ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại của đại dương. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là Phật Độc Giác, bậc tự chủ, không thầy, độc hành tợ như sừng tê giác, có tâm đã được trong sạch không còn bợn nhơ ở phạm vi của mình, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của mình, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Toàn Tri. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại ở phạm vi của vị Phật Toàn Tri. Đây là loại tâm thứ sáu.
BJT 7Ở đây, có loại tâm thứ bảy này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là Phật Chánh Đẳng Giác, đấng Toàn Tri, bậc nắm giữ mười Lực, có sự tự tin ở bốn pháp tự tin, hội đủ mười tám pháp của vị Phật, là đấng Chiến Thắng vô biên, có trí không bị che lấp, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở mọi nơi. Tâu đại vương, phải chăng có sự vụng về hoặc sự vướng víu của mũi tên khéo được làm sạch sẽ, không bợn nhơ, không có mắc mứu, có thân mềm mại, không bị uốn, không bị cong, không bị quẹo, được đặt lên cây cung vững chãi, được bắn ra bởi người có sức mạnh vào tấm vải gai mềm, lớp gòn mềm, tấm len mềm?”
“Thưa ngài, không có.”
“Vì lý do gì?”
“Vì tính chất mềm mại của những tấm vải, vì tính chất được làm sạch sẽ của mũi tên, và tính chất mạnh mẽ của phát bắn ra.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là Phật Chánh Đẳng Giác, đấng Toàn Tri, bậc nắm giữ mười Lực, có sự tự tin ở bốn pháp tự tin, hội đủ mười tám pháp của vị Phật, là đấng Chiến Thắng vô biên, có trí không bị che lấp, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở mọi nơi. Đây là loại tâm thứ bảy.
BJT 8Tâu đại vương, ở đây tâm này của chư Phật Toàn Tri vượt trội sự tính đếm của luôn cả sáu loại tâm, được trong sạch và nhẹ nhàng với đức tính vô số kể. Và tâu đại vương, bởi vì tâm của đức Thế Tôn được trong sạch và nhẹ nhàng nên đức Thế Tôn mới phô diễn song thông. Tâu đại vương, về song thông nên được biết rằng: ‘Tâm của chư Phật Thế Tôn có sự chuyển dịch nhẹ nhàng như thế.’
Trong trường hợp ấy, không thể nào nói hơn nữa về lý do. Tâu đại vương, những loại thần thông có liên quan đến tâm của chư Phật Toàn Tri ấy đều không thể áp đặt phép đếm, phép tính, sự chia chẻ, và luôn cả sự tách phần. Tâu đại vương, trí Toàn Tri của đức Thế Tôn được gắn liền vào sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Tâu đại vương, giống như người nam có thể đặt xuống ở bàn tay thứ nhì bất cứ vật gì đã được đặt xuống ở bàn tay (thứ nhất), có thể phát ra lời nói bằng miệng đã được mở ra, có thể nuốt vào thức ăn đã đưa vào miệng, có thể mở mắt ra rồi nhắm lại, hoặc có thể nhắm mắt lại rồi mở ra, có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại, hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, việc ấy còn chậm hơn, tâu đại vương, trí Toàn Tri của đức Thế Tôn là nhẹ nhàng hơn, sự hướng tâm là nhẹ nhàng hơn. Sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Dầu cho không có sự hướng tâm, chư Phật Thế Tôn ấy vẫn không gọi là không có Toàn Tri”
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, sự hướng tâm là được thực hiện do sự suy tầm, vậy thì ngài hãy giúp cho trẫm hiểu trường hợp ấy bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, giống như người giàu thì có nhiều tài sản, có nhiều của cải, có dồi dào vàng bạc và vật sở hữu dự phòng, có dồi dào tài sản và ngũ cốc là gạo thơm, thóc, lúa mạch, gạo xay, mè, đậu mugga, đậu māsa, các loại hạt chưa chế biến hoặc các loại khác nữa, bơ lỏng, dầu ăn, bơ đặc, sữa tươi, sữa đông, mật ong, mật đường, và đường mía được chứa ở bình, chum, lu, hũ, chậu, và có người khách, là người xứng đáng để mời ăn và có sự mong mỏi về bữa ăn, đi đến với người ấy, nhưng tại nhà của người ấy thức ăn nấu chín là đã hết sạch thì có thể đem gạo từ chum lại rồi nấu chín. Tâu đại vương, phải chăng do sự việc thiếu hụt thức ăn trong chốc lát mà người ấy trở thành người không có tài sản và nghèo khó?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, ngay cả ở nhà của đức Chuyển Luân Vương cũng có sự thiếu hụt thức ăn vào lúc không đúng thời điểm, thì có điều gì đối với gia chủ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế là trí Toàn Tri của đức Như Lai trong trường hợp không có sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.
BJT 10Tâu đại vương, hơn nữa giống như cây cối thì có thể kết trái, bị oằn xuống, bị uốn cong, bị mang nặng trĩu bởi những chùm trái, và không có trái nào bị rơi rụng ở tại nơi ấy. Tâu đại vương, phải chăng do sự việc không có trái cây rơi rụng trong chốc lát mà cây ấy trở thành không có trái cây?”
“Thưa ngài, không đúng. Những trái cây ấy được gắn liền với sự rơi rụng. Khi được rơi rụng thì đạt được theo như ý muốn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế là trí Toàn Tri của đức Như Lai trong trường hợp không có sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải sau khi hướng tâm thì đức Phật biết theo như ý muốn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn sau khi lần lượt hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Tâu đại vương, giống như đức Chuyển Luân Vương khi nào nhớ đến bánh xe báu (khởi ý rằng): ‘Bánh xe báu hãy đến với ta,’ trong khi nhớ đi nhớ lại thì bánh xe báu hiện đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đức Như Lai sau khi lần lượt hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, lý do là vững chãi. Đức Phật là đấng Toàn Tri. Chúng tôi chấp nhận đức Phật là đấng Toàn Tri.”
Câu hỏi về bản thể Toàn Tri của đức Thế Tôn là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, buddho sabbaññū”ti?
“Āma, mahārāja, bhagavā sabbaññū, na ca bhagavato satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitaṁ, āvajjanapaṭibaddhaṁ bhagavato sabbaññutañāṇaṁ, āvajjitvā yadicchakaṁ jānātī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, buddho asabbaññūti.
Yadi tassa pariyesanāya sabbaññutañāṇaṁ hotī”ti.
“Vāhasataṁ kho, mahārāja, vīhīnaṁ aḍḍhacūḷañca vāhā vīhisattambaṇāni dve ca tumbā ekaccharākkhaṇe pavattacittassa ettakā vīhī lakkhaṁ ṭhapīyamānā parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyyuṁ?
Tatrime sattavidhā cittā pavattanti—
ye te, mahārāja, sarāgā sadosā samohā sakilesā abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṁ taṁ cittaṁ garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Abhāvitattā cittassa.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa vitatassa visālassa vitthiṇṇassa saṁsibbitavisibbitassa sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa garukaṁ hoti āgamanaṁ dandhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Saṁsibbitavisibbitattā sākhānaṁ.
Evameva kho, mahārāja, ye te sarāgā sadosā samohā sakilesā abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṁ taṁ cittaṁ garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Saṁsibbitavisibbitattā kilesehi, idaṁ paṭhamaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ dutiyaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, sotāpannā pihitāpāyā diṭṭhippattā viññātasatthusāsanā, tesaṁ taṁ cittaṁ tīsu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati.
Uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Tīsu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa tipabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva tipabbaṁ tāva lahukaṁ eti, tato upari thaddhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā.
Evameva kho, mahārāja, ye te sotāpannā pihitāpāyā diṭṭhippattā viññātasatthusāsanā, tesaṁ taṁ cittaṁ tīsu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Tīsu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā, idaṁ dutiyaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ tatiyaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, sakadāgāmino, yesaṁ rāgadosamohā tanubhūtā, tesaṁ taṁ cittaṁ pañcasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Pañcasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa pañcapabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva pañcapabbaṁ tāva lahukaṁ eti, tato upari thaddhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā.
Evameva kho, mahārāja, ye te sakadāgāmino, yesaṁ rāgadosamohā tanubhūtā, tesaṁ taṁ cittaṁ pañcasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Pañcasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā, idaṁ tatiyaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ catutthaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, anāgāmino, yesaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, tesaṁ taṁ cittaṁ dasasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Dasasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa dasapabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva dasapabbaṁ tāva lahukaṁ eti, tato upari thaddhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā.
Evameva kho, mahārāja, ye te anāgāmino, yesaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, tesaṁ taṁ cittaṁ dasasu ṭhānesu lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, uparibhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Dasasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṁ appahīnattā, idaṁ catutthaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ pañcamaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, arahanto khīṇāsavā dhotamalā vantakilesā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā pattapaṭisambhidā sāvakabhūmīsu parisuddhā, tesaṁ taṁ cittaṁ sāvakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, paccekabuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sāvakavisaye, aparisuddhattā paccekabuddhavisaye.
Yathā, mahārāja, vaṁsanāḷassa sabbapabbagaṇṭhiparisuddhassa ākaḍḍhiyantassa lahukaṁ hoti āgamanaṁ adandhaṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Sabbapabbagaṇṭhiparisuddhattā agahanattā vaṁsassa.
Evameva kho, mahārāja, ye te arahanto khīṇāsavā dhotamalā vantakilesā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā pattapaṭisambhidā sāvakabhūmīsu parisuddhā, tesaṁ taṁ cittaṁ sāvakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, paccekabuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sāvakavisaye, aparisuddhattā paccekabuddhavisaye, idaṁ pañcamaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ chaṭṭhaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, paccekabuddhā sayambhuno anācariyakā ekacārino khaggavisāṇakappā sakavisaye parisuddhavimalacittā, tesaṁ taṁ cittaṁ sakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, sabbaññubuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sakavisaye mahantattā sabbaññubuddhavisayassa.
Yathā, mahārāja, puriso sakavisayaṁ parittaṁ nadiṁ rattimpi divāpi yadicchakaṁ acchambhito otareyya, atha parato mahāsamuddaṁ gambhīraṁ vitthataṁ agādhamapāraṁ disvā bhāyeyya, dandhāyeyya na visaheyya otarituṁ.
Kiṁ kāraṇā?
Tiṇṇattā sakavisayassa, mahantattā ca mahāsamuddassa.
Evameva kho, mahārāja, ye te paccekabuddhā sayambhuno anācariyakā ekacārino khaggavisāṇakappā sakavisaye parisuddhavimalacittā, tesaṁ taṁ cittaṁ sakavisaye lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati, sabbaññubuddhabhūmīsu garukaṁ uppajjati dandhaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Parisuddhattā sakavisaye mahantattā sabbaññubuddhavisayassa, idaṁ chaṭṭhaṁ cittaṁ.
Tatridaṁ sattamaṁ cittaṁ vibhattamāpajjati—
ye te, mahārāja, sammāsambuddhā sabbaññuno dasabaladharā catuvesārajjavisāradā aṭṭhārasahi buddhadhammehi samannāgatā anantajinā anāvaraṇañāṇā, tesaṁ taṁ cittaṁ sabbattha lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Sabbattha parisuddhattā.
Api nu kho, mahārāja, nārācassa sudhotassa vimalassa niggaṇṭhissa sukhumadhārassa ajimhassa avaṅkassa akuṭilassa daḷhacāpasamārūḷhassa khomasukhume vā kappāsasukhume vā kambalasukhume vā balavanipātitassa dandhāyitattaṁ vā lagganaṁ vā hotī”ti?
“Na hi, bhante”.
“Kiṁ kāraṇā?
Sukhumattā vatthānaṁ sudhotattā nārācassa nipātassa ca balavattāti;
evameva kho, mahārāja, ye te sammāsambuddhā sabbaññuno dasabaladharā catuvesārajjavisāradā aṭṭhārasahi buddhadhammehi samannāgatā anantajinā anāvaraṇañāṇā, tesaṁ taṁ cittaṁ sabbattha lahukaṁ uppajjati lahukaṁ pavattati.
Kiṁ kāraṇā?
Sabbattha parisuddhattā, idaṁ sattamaṁ cittaṁ.
Tatra, mahārāja, yadidaṁ sabbaññubuddhānaṁ cittaṁ, taṁ channampi cittānaṁ gaṇanaṁ atikkamitvā asaṅkhyeyyena guṇena parisuddhañca lahukañca.
Yasmā ca bhagavato cittaṁ parisuddhañca lahukañca, tasmā, mahārāja, bhagavā yamakapāṭihīraṁ dasseti.
Yamakapāṭihīre, mahārāja, ñātabbaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ cittaṁ evaṁ lahuparivattanti, na tattha sakkā uttariṁ kāraṇaṁ vattuṁ, tepi, mahārāja, pāṭihīrā sabbaññubuddhānaṁ cittaṁ upādāya gaṇanampi saṅkhampi kalampi kalabhāgampi na upenti, āvajjanapaṭibaddhaṁ, mahārāja, bhagavato sabbaññutañāṇaṁ, āvajjetvā yadicchakaṁ jānāti.
Yathā, mahārāja, puriso hatthe ṭhapitaṁ yaṁ kiñci dutiye hatthe ṭhapeyya vivaṭena mukhena vācaṁ nicchāreyya, mukhagataṁ bhojanaṁ gileyya, ummīletvā vā nimīleyya, nimīletvā vā ummīleyya, samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya, cirataraṁ etaṁ, mahārāja, lahutaraṁ bhagavato sabbaññutañāṇaṁ, lahutaraṁ āvajjanaṁ, āvajjetvā yadicchakaṁ jānāti, āvajjanavikalamattakena na tāvatā buddhā bhagavanto asabbaññuno nāma hontī”ti.
“Āvajjanampi, bhante nāgasena, pariyesanāya kātabbaṁ, iṅgha maṁ tattha kāraṇena saññāpehī”ti.
“Yathā, mahārāja, purisassa aḍḍhassa mahaddhanassa mahābhogassa pahūtajātarūparajatassa pahūtavittūpakaraṇassa pahūtadhanadhaññassa sālivīhiyavataṇḍulatilamuggamāsapubbaṇṇāparaṇṇasappitelanavanītakhīradadhimadhuguḷaphāṇitā ca khaḷopikumbhipīṭharakoṭṭhabhājanagatā bhaveyyuṁ, tassa ca purisassa pāhunako āgaccheyya bhattāraho bhattābhikaṅkhī, tassa ca gehe yaṁ randhaṁ bhojanaṁ, taṁ pariniṭṭhitaṁ bhaveyya, kumbhito taṇḍule nīharitvā bhojanaṁ randheyya, api ca kho so, mahārāja, tāvatakena bhojanavekallamattakena adhano nāma kapaṇo nāma bhaveyyā”ti?
“Na hi, bhante, cakkavattirañño gharepi, bhante, akāle bhojanavekallaṁ hoti, kiṁ pana gahapatikassā”ti?
“Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa āvajjanavikalamattakaṁ sabbaññutañāṇaṁ āvajjetvā yadicchakaṁ jānāti.
Yathā vā pana, mahārāja, rukkho assa phalito oṇatavinato piṇḍibhārabharito, na kiñci tattha patitaṁ phalaṁ bhaveyya, api nu kho so, mahārāja, rukkho tāvatakena patitaphalavekallamattakena aphalo nāma bhaveyyā”ti?
“Na hi, bhante, patanapaṭibaddhāni tāni rukkhaphalāni, patite yadicchakaṁ labhatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa āvajjanapaṭibaddhaṁ sabbaññutañāṇaṁ āvajjetvā yadicchakaṁ jānātī”ti.
“Bhante nāgasena, āvajjetvā āvajjetvā buddho yadicchakaṁ jānātī”ti?
“Āma, mahārāja, bhagavā āvajjetvā āvajjetvā yadicchakaṁ jānātīti.
Yathā, mahārāja, cakkavattī rājā yadā cakkaratanaṁ sarati ‘upetu me cakkaratanan’ti, sarite cakkaratanaṁ upeti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato āvajjetvā āvajjetvā yadicchakaṁ jānātī”ti.
“Daḷhaṁ, bhante nāgasena, kāraṇaṁ, buddho sabbaññū, sampaṭicchāma buddho sabbaññū”ti.
Buddhasabbaññubhāvapañho dutiyo.