KHÔNG VIỆC GÌ CẦN PHẢI LÀM THÊM NỮA
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm.’ Và ba tháng thiền tịnh này được ghi nhận. Thưa ngài Nāgasena, nếu bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm, như thế thì lời nói ‘ba tháng thiền tịnh’ là sai trái. Nếu có ba tháng thiền tịnh, như thế thì lời nói ‘bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề’ cũng là sai trái. Không có thiền tịnh đối với người có việc cần phải làm đã được làm xong, thiền tịnh là chỉ riêng đối với người có việc cần phải làm. Giống như chỉ riêng đối với người bị bệnh thì có việc cần phải làm với thuốc men, còn đối với người không bị bệnh thì có việc gì với thuốc men? Chỉ riêng đối với người đói thì có việc cần phải làm với thức ăn, còn đối với người không đói thì có việc gì với thức ăn? Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế không có thiền tịnh đối với người có việc cần phải làm đã được làm xong, thiền tịnh là chỉ riêng đối với người có việc cần phải làm. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh. Nó được dành cho ngài, nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm, và đức Như Lai có thiền tịnh ba tháng. Tâu đại vương, thiền tịnh quả là có nhiều công đức. Tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh. Tâu đại vương, giống như người nam đã nhận được ân huệ, đã đạt được của cải nhờ vào sự thân cận đức vua. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, gã liên tục đi đến phục vụ đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam bị nhiễm bệnh, khổ sở, có bệnh trầm trọng, sau khi đến gặp người thầy thuốc thì thành tựu sự an vui. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, gã thường xuyên đi đến gặp người thầy thuốc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh.
BJT 3Tâu đại vương, hơn nữa đây là hai mươi tám đức tính của thiền tịnh. Trong khi thấy rõ những đức tính này, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh. Hai mươi tám đức tính gì? Tâu đại vương, ở đây thiền tịnh hộ trì bản thân người đang thiền tịnh, làm tăng trưởng tuổi thọ, ban cho sức mạnh, lấp lại tội lỗi, loại trừ điều tai tiếng, đem lại danh tiếng, xua đi sự không hứng thú, cung cấp sự hứng thú, loại trừ sự sợ hãi, làm sanh lên sự tự tin, loại trừ sự lười biếng, tạo ra sự tinh tấn, loại trừ sự tham đắm, loại trừ sự sân hận, loại trừ sự si mê, tiêu diệt sự ngã mạn, phá vỡ sự suy tư, làm cho tâm chuyên nhất, làm cho tâm được trong sáng, sanh ra sự tươi vui, tạo sự kính trọng, làm cho đạt được sự lợi ích, tạo sự cung kính, khiến cho thành tựu hỷ, tạo sự hân hoan, làm cho thấy được bản thể của các sự tạo tác, diệt trừ sự nối liền với việc tái sanh, ban cho toàn bộ Sa-môn hạnh. Tâu đại vương, đây là hai mươi tám đức tính của thiền tịnh. Trong khi thấy rõ những đức tính này, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh.
Tâu đại vương, hơn nữa với ý muốn tận hưởng sự an tịnh, an lạc, sự hứng thú trong việc chứng đạt, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh với ý định dứt khoát. Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì bốn lý do. Vì bốn lý do gì? Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì tính chất an lạc của việc cư trú, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh nhằm sự gia tăng đức hạnh của việc không phạm lỗi lầm, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì đường lối trọn vẹn của bậc Thánh, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì đã được tán dương, khen ngợi, ca tụng của tất cả chư Phật. Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì bốn lý do này. Tâu đại vương, như thế các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh không phải vì có việc gì cần phải làm, không phải vì sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Quả vậy, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì thấy được tính chất đặc biệt về đức tính (của thiền tịnh).”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất không việc gì cần phải làm thêm nữa
là thứ chín.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘yaṁ kiñci karaṇīyaṁ tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitaṁ, natthi tathāgatassa uttariṁ karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo’ti, idañca temāsaṁ paṭisallānaṁ dissati.
Yadi, bhante nāgasena, yaṁ kiñci karaṇīyaṁ tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitaṁ, natthi tathāgatassa uttariṁ karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo, tena hi ‘temāsaṁ paṭisallīno’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi temāsaṁ paṭisallīno, tena hi ‘yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Natthi katakaraṇīyassa paṭisallānaṁ, sakaraṇīyasseva paṭisallānaṁ yathā nāma byādhitasseva bhesajjena karaṇīyaṁ hoti, abyādhitassa kiṁ bhesajjena.
Chātasseva bhojanena karaṇīyaṁ hoti, achātassa kiṁ bhojanena.
Evameva kho, bhante nāgasena, natthi katakaraṇīyassa paṭisallānaṁ, sakaraṇīyasseva paṭisallānaṁ.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Yaṁ kiñci, mahārāja, karaṇīyaṁ tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitaṁ, natthi tathāgatassa uttariṁ karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo, bhagavā ca temāsaṁ paṭisallīno, paṭisallānaṁ kho, mahārāja, bahuguṇaṁ, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṁ pattā, taṁ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṁ sevanti.
Yathā, mahārāja, puriso rañño santikā laddhavaro paṭiladdhabhogo taṁ sukataguṇamanussaranto aparāparaṁ rañño upaṭṭhānaṁ eti;
evameva kho, mahārāja, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṁ pattā, taṁ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṁ sevanti.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso āturo dukkhito bāḷhagilāno bhisakkamupasevitvā sotthimanuppatto taṁ sukataguṇamanussaranto aparāparaṁ bhisakkamupasevati;
evameva kho, mahārāja, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṁ pattā, taṁ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṁ sevanti.
Aṭṭhavīsati kho panime, mahārāja, paṭisallānaguṇā, ye guṇe samanussarantā tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Katame aṭṭhavīsati?
Idha, mahārāja, paṭisallānaṁ paṭisallīyamānaṁ attānaṁ rakkhati, āyuṁ vaḍḍheti, balaṁ deti, vajjaṁ pidahati, ayasamapaneti, yasamupaneti, aratiṁ vinodeti, ratimupadahati, bhayamapaneti, vesārajjaṁ karoti, kosajjamapaneti, vīriyamabhijaneti, rāgamapaneti, dosamapaneti, mohamapaneti, mānaṁ nihanti, vitakkaṁ bhañjati, cittaṁ ekaggaṁ karoti, mānasaṁ snehayati, hāsaṁ janeti, garukaṁ karoti, lābhamuppādayati, namassiyaṁ karoti, pītiṁ pāpeti, pāmojjaṁ karoti, saṅkhārānaṁ sabhāvaṁ dassayati, bhavappaṭisandhiṁ ugghāṭeti, sabbasāmaññaṁ deti.
Ime kho, mahārāja, aṭṭhavīsati paṭisallānaguṇā, ye guṇe samanussarantā tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Api ca kho, mahārāja, tathāgatā santaṁ sukhaṁ samāpattiratiṁ anubhavitukāmā paṭisallānaṁ sevanti pariyositasaṅkappā.
Catūhi kho, mahārāja, kāraṇehi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Katamehi catūhi?
Vihāraphāsutāyapi, mahārāja, tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti, anavajjaguṇabahulatāyapi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti, asesaariyavīthitopi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti, sabbabuddhānaṁ thutathomitavaṇṇitapasatthatopi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Imehi kho, mahārāja, catūhi kāraṇehi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Iti kho, mahārāja, tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti na sakaraṇīyatāya, na katassa vā paticayāya, atha kho guṇavisesadassāvitāya tathāgatā paṭisallānaṁ sevantī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Uttarikaraṇīyapañho navamo.
PTS vp En 196 PTS cs 67 ‘Venerable Nāgasena, your people say that everything which a Tathāgata has to accomplish that had the Blessed One already carried out when he sat at the foot of the Tree of Wisdom. There was then nothing that he had yet to do, nothing that he had to add to what he had already done. But then there is also talk of his having immediately afterwards remained plunged for three months in ecstatic contemplation. If the first statement be correct, then the second must be false. And if the second be right, then the first must be wrong. There is no need of any contemplation to him who has already accomplished his task. It is the man who still has something left to do, who has to think about it. PTS vp Pali 139 It is the sick man who has need of medicine, not the healthy; the hungry man who has need of food, not the man whose hunger is quenched. This too is a double-headed dilemma, and you have to solve it!’
PTS cs 68 ‘Both statements, O king, are true. Contemplation PTS vp En 197 has many virtues. All the Tathāgatas attained, in contemplation, to Buddhahood, and practised it in the recollection of its good qualities. And they did so in the same way as a man who had received high office from a king would, in the recollection of its advantages, of the prosperity he enjoyed by means of it, remain constantly in attendance on that king—in the same way as a man who, having been afflicted and pained with a dire disease, and having recovered his health by the use of medicine, would use the same medicine again and again, calling to mind its virtue.’
PTS cs 69 ‘And there are, O king, these twenty and eight good qualities of meditation in the perception of which the Tathāgatas devoted themselves to it. And which are they? Meditation preserves him who meditates, it gives him long life, and endows him with power, it cleanses him from faults, it removes from him any bad reputation giving him a good name, it destroys discontent in him filling him with content, it releases him from all fear endowing him with confidence, it removes sloth far from him filling him with zeal, it takes away lust and ill-will and dullness, it puts an end to pride, it breaks down all doubt, it makes his heart to be at peace, it softens his mind, PTS vp Pali 140 it makes him glad, it makes him grave, it gains him much advantage, it makes him worthy of reverence, it fills him with joy, it fills him with delight, it shows him the transitory nature of all compounded things, it puts an end to rebirth, it obtains for him all the benefits of renunciation. These, O king, are the twenty and eight virtues of meditation on the perception of which the Tathāgatas devote themselves to it. But it is because PTS vp En 198 The Tathāgatas, O king, long for the enjoyment of the bliss of attainment, of the joy of the tranquil state of Nirvāna, that they devote themselves to meditation, with their minds fixed on the end they aim at.
PTS cs 70 ‘And there are four, reasons for which the Tathāgatas, O king, devote themselves to meditation. And what are the four? That they may dwell at ease, O king—and on account of the abundance of the advantages of meditation, advantages without drawback—and on account of its being the road to all noble things without exception-and because it has been praised and lauded and exalted and magnified by all the Buddhas. These are the reasons for which the Tathāgatas devote themselves to it. So it is not, great king, because they have anything left to do, or anything to add to what they have already accomplished, but because they have perceived how diversified are the advantages it possesses, that they devote themselves to meditation.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to meditation.
KHÔNG VIỆC GÌ CẦN PHẢI LÀM THÊM NỮA
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm.’ Và ba tháng thiền tịnh này được ghi nhận. Thưa ngài Nāgasena, nếu bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm, như thế thì lời nói ‘ba tháng thiền tịnh’ là sai trái. Nếu có ba tháng thiền tịnh, như thế thì lời nói ‘bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề’ cũng là sai trái. Không có thiền tịnh đối với người có việc cần phải làm đã được làm xong, thiền tịnh là chỉ riêng đối với người có việc cần phải làm. Giống như chỉ riêng đối với người bị bệnh thì có việc cần phải làm với thuốc men, còn đối với người không bị bệnh thì có việc gì với thuốc men? Chỉ riêng đối với người đói thì có việc cần phải làm với thức ăn, còn đối với người không đói thì có việc gì với thức ăn? Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế không có thiền tịnh đối với người có việc cần phải làm đã được làm xong, thiền tịnh là chỉ riêng đối với người có việc cần phải làm. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh. Nó được dành cho ngài, nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm, và đức Như Lai có thiền tịnh ba tháng. Tâu đại vương, thiền tịnh quả là có nhiều công đức. Tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh. Tâu đại vương, giống như người nam đã nhận được ân huệ, đã đạt được của cải nhờ vào sự thân cận đức vua. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, gã liên tục đi đến phục vụ đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam bị nhiễm bệnh, khổ sở, có bệnh trầm trọng, sau khi đến gặp người thầy thuốc thì thành tựu sự an vui. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, gã thường xuyên đi đến gặp người thầy thuốc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh.
BJT 3Tâu đại vương, hơn nữa đây là hai mươi tám đức tính của thiền tịnh. Trong khi thấy rõ những đức tính này, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh. Hai mươi tám đức tính gì? Tâu đại vương, ở đây thiền tịnh hộ trì bản thân người đang thiền tịnh, làm tăng trưởng tuổi thọ, ban cho sức mạnh, lấp lại tội lỗi, loại trừ điều tai tiếng, đem lại danh tiếng, xua đi sự không hứng thú, cung cấp sự hứng thú, loại trừ sự sợ hãi, làm sanh lên sự tự tin, loại trừ sự lười biếng, tạo ra sự tinh tấn, loại trừ sự tham đắm, loại trừ sự sân hận, loại trừ sự si mê, tiêu diệt sự ngã mạn, phá vỡ sự suy tư, làm cho tâm chuyên nhất, làm cho tâm được trong sáng, sanh ra sự tươi vui, tạo sự kính trọng, làm cho đạt được sự lợi ích, tạo sự cung kính, khiến cho thành tựu hỷ, tạo sự hân hoan, làm cho thấy được bản thể của các sự tạo tác, diệt trừ sự nối liền với việc tái sanh, ban cho toàn bộ Sa-môn hạnh. Tâu đại vương, đây là hai mươi tám đức tính của thiền tịnh. Trong khi thấy rõ những đức tính này, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh.
Tâu đại vương, hơn nữa với ý muốn tận hưởng sự an tịnh, an lạc, sự hứng thú trong việc chứng đạt, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh với ý định dứt khoát. Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì bốn lý do. Vì bốn lý do gì? Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì tính chất an lạc của việc cư trú, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh nhằm sự gia tăng đức hạnh của việc không phạm lỗi lầm, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì đường lối trọn vẹn của bậc Thánh, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì đã được tán dương, khen ngợi, ca tụng của tất cả chư Phật. Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì bốn lý do này. Tâu đại vương, như thế các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh không phải vì có việc gì cần phải làm, không phải vì sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Quả vậy, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì thấy được tính chất đặc biệt về đức tính (của thiền tịnh).”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất không việc gì cần phải làm thêm nữa
là thứ chín.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘yaṁ kiñci karaṇīyaṁ tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitaṁ, natthi tathāgatassa uttariṁ karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo’ti, idañca temāsaṁ paṭisallānaṁ dissati.
Yadi, bhante nāgasena, yaṁ kiñci karaṇīyaṁ tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitaṁ, natthi tathāgatassa uttariṁ karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo, tena hi ‘temāsaṁ paṭisallīno’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi temāsaṁ paṭisallīno, tena hi ‘yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Natthi katakaraṇīyassa paṭisallānaṁ, sakaraṇīyasseva paṭisallānaṁ yathā nāma byādhitasseva bhesajjena karaṇīyaṁ hoti, abyādhitassa kiṁ bhesajjena.
Chātasseva bhojanena karaṇīyaṁ hoti, achātassa kiṁ bhojanena.
Evameva kho, bhante nāgasena, natthi katakaraṇīyassa paṭisallānaṁ, sakaraṇīyasseva paṭisallānaṁ.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Yaṁ kiñci, mahārāja, karaṇīyaṁ tathāgatassa, sabbaṁ taṁ bodhiyāyeva mūle pariniṭṭhitaṁ, natthi tathāgatassa uttariṁ karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo, bhagavā ca temāsaṁ paṭisallīno, paṭisallānaṁ kho, mahārāja, bahuguṇaṁ, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṁ pattā, taṁ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṁ sevanti.
Yathā, mahārāja, puriso rañño santikā laddhavaro paṭiladdhabhogo taṁ sukataguṇamanussaranto aparāparaṁ rañño upaṭṭhānaṁ eti;
evameva kho, mahārāja, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṁ pattā, taṁ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṁ sevanti.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso āturo dukkhito bāḷhagilāno bhisakkamupasevitvā sotthimanuppatto taṁ sukataguṇamanussaranto aparāparaṁ bhisakkamupasevati;
evameva kho, mahārāja, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṁ pattā, taṁ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṁ sevanti.
Aṭṭhavīsati kho panime, mahārāja, paṭisallānaguṇā, ye guṇe samanussarantā tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Katame aṭṭhavīsati?
Idha, mahārāja, paṭisallānaṁ paṭisallīyamānaṁ attānaṁ rakkhati, āyuṁ vaḍḍheti, balaṁ deti, vajjaṁ pidahati, ayasamapaneti, yasamupaneti, aratiṁ vinodeti, ratimupadahati, bhayamapaneti, vesārajjaṁ karoti, kosajjamapaneti, vīriyamabhijaneti, rāgamapaneti, dosamapaneti, mohamapaneti, mānaṁ nihanti, vitakkaṁ bhañjati, cittaṁ ekaggaṁ karoti, mānasaṁ snehayati, hāsaṁ janeti, garukaṁ karoti, lābhamuppādayati, namassiyaṁ karoti, pītiṁ pāpeti, pāmojjaṁ karoti, saṅkhārānaṁ sabhāvaṁ dassayati, bhavappaṭisandhiṁ ugghāṭeti, sabbasāmaññaṁ deti.
Ime kho, mahārāja, aṭṭhavīsati paṭisallānaguṇā, ye guṇe samanussarantā tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Api ca kho, mahārāja, tathāgatā santaṁ sukhaṁ samāpattiratiṁ anubhavitukāmā paṭisallānaṁ sevanti pariyositasaṅkappā.
Catūhi kho, mahārāja, kāraṇehi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Katamehi catūhi?
Vihāraphāsutāyapi, mahārāja, tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti, anavajjaguṇabahulatāyapi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti, asesaariyavīthitopi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti, sabbabuddhānaṁ thutathomitavaṇṇitapasatthatopi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Imehi kho, mahārāja, catūhi kāraṇehi tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti.
Iti kho, mahārāja, tathāgatā paṭisallānaṁ sevanti na sakaraṇīyatāya, na katassa vā paticayāya, atha kho guṇavisesadassāvitāya tathāgatā paṭisallānaṁ sevantī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Uttarikaraṇīyapañho navamo.