CỦA HÀNG TẠI GIA VÀ XUẤT GIA
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta khen ngợi sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của vị xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hoặc vị xuất gia đã thực hành đúng đắn, do kết quả của việc thực hành đúng đắn mà trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu người tại gia, mặc y phục màu trắng, trong khi sinh sống có sự thọ hưởng các dục, có việc nằm chen chúc với vợ và con, trong khi hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, trong khi đeo tràng hoa, vật thơm, và vật thoa, trong khi ưng thuận vàng và bạc, buộc búi tóc có trang điểm ngọc ma-ni và vàng, đã thực hành đúng đắn, và trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo; còn vị xuất gia, đầu được cạo, mặc y ca-sa, đi đến khất thực ở những người khác, có sự thực hành trọn vẹn đúng đắn bốn giới uẩn, thọ lãnh và hành trì một trăm năm mươi điều học, hành trì không thiếu sót mười ba hạnh từ khước, đã thực hành đúng đắn, thì cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo. Thưa ngài, ở đây người tại gia hoặc vị xuất gia có cái gì là khác biệt? Có phải việc hành khổ hạnh là không có kết quả, việc xuất gia là không có lợi ích, việc gìn giữ các điều học là vô ích, sự thọ trì các hạnh từ khước là rồ dại? Ở đây, có gì với việc theo đuổi sự khó khăn? Chẳng phải là sự an lạc có thể được chứng đạt bằng chính sự an lạc?”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta khen ngợi sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của vị xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hoặc vị xuất gia đã thực hành đúng đắn, do kết quả của việc thực hành đúng đắn mà trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế chỉ có người đã thực hành đúng đắn là hạng nhất. Tâu đại vương, thậm chí vị xuất gia (nghĩ rằng): ‘Ta là vị xuất gia’ rồi không thực hành đúng đắn, thì vị ấy bị xa rời bản thể Sa-môn, bị xa rời phẩm vị Bà-la-môn; không cần đề cập đến người tại gia mặc y phục màu trắng. Tâu đại vương, ngay cả người tại gia đã thực hành đúng đắn cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo. Tâu đại vương, luôn cả vị xuất gia đã thực hành đúng đắn cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.
Tâu đại vương, thêm nữa chính vị xuất gia là chúa tể, là người chủ của bản thể Sa-môn. Tâu đại vương, việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, giống như không thể thực hiện việc đo lường giá trị bằng tài sản đối với bảo ngọc ma-ni, vật ban cho điều ước, là: ‘Giá tiền của viên bảo ngọc ma-ni là chừng này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, hoặc là giống như không thể thực hiện việc đo lường các làn sóng ở đại dương rằng: ‘Các làn sóng ở đại dương là chừng này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc. Vì lý do gì? Tâu đại vương, vị xuất gia ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách ly, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, không mong cầu, không nhà ở, có giới tròn đủ, có hạnh giảm thiểu, thiện xảo việc thực hành các pháp từ khước. Vì lý do ấy, đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc. Tâu đại vương, giống như mũi tên, không sần sùi, bằng phẳng, khéo được làm sạch, ngay thẳng, không vết nhơ, được bắn ra khéo léo thì di chuyển chính xác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc thực hành đúng đắn
của hàng tại gia và xuất gia là thứ ba.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘gihino vāhaṁ, bhikkhave, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṁ vaṇṇemi, gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan’ti.
Yadi, bhante nāgasena, gihī odātavasano kāmabhogī puttadārasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto maṇikuṇḍalavicittamoḷibaddho sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ, pabbajitopi bhaṇḍukāsāvavatthavasano parapiṇḍamajjhupagato catūsu sīlakkhandhesu sammāparipūrakārī diyaḍḍhesu sikkhāpadasatesu samādāya vattanto terasasu dhutaguṇesu anavasesaṁ vattanto sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Tattha, bhante, ko viseso gihino vā pabbajitassa vā?
Aphalaṁ hoti tapokammaṁ, niratthakā pabbajjā.
Vañjhā sikkhāpadagopanā, moghaṁ dhutaguṇasamādānaṁ, kiṁ tattha dukkhamanuciṇṇena, nanu nāma sukheneva sukhaṁ adhigantabban”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘gihino vāhaṁ, bhikkhave, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṁ vaṇṇemi, gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan’ti.
Evametaṁ, mahārāja, sammāpaṭipannova seṭṭho, pabbajitopi, mahārāja, ‘pabbajitomhī’ti na sammā paṭipajjeyya, atha kho so ārakāva sāmaññā, ārakāva brahmaññā, pageva gihī odātavasano.
Gihīpi, mahārāja, sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ, pabbajitopi, mahārāja, sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Api ca kho, mahārāja, pabbajitova sāmaññassa issaro adhipati;
pabbajjā, mahārāja, bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṁ parimāṇaṁ kātuṁ.
Yathā, mahārāja, kāmadadassa maṇiratanassa na sakkā dhanena aggho parimāṇaṁ kātuṁ ‘ettakaṁ maṇiratanassa mūlan’ti;
evameva kho, mahārāja, pabbajjā bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṁ parimāṇaṁ kātuṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, mahāsamudde ūmiyo na sakkā parimāṇaṁ kātuṁ ‘ettakā mahāsamudde ūmiyo’ti;
evameva kho, mahārāja, pabbajjā bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṁ parimāṇaṁ kātuṁ.
Pabbajitassa, mahārāja, yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, sabbaṁ taṁ khippameva samijjhati no cirarattāya.
Kiṁ kāraṇā?
Pabbajito, mahārāja, appiccho hoti santuṭṭho pavivitto asaṁsaṭṭho āraddhavīriyo nirālayo aniketo paripuṇṇasīlo sallekhitācāro dhutappaṭipattikusalo hoti, taṁ kāraṇā pabbajitassa yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, sabbaṁ taṁ khippameva samijjhati no cirarattāya.
Yathā, mahārāja, niggaṇṭhisamasudhotaujuvimalanārāco susajjito sammā vahati;
evameva kho, mahārāja, pabbajitassa yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, sabbaṁ taṁ khippameva samijjhati no cirarattāyā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Gihipabbajitasammāpaṭipattipañho tatiyo.
PTS cs 16 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One:
“I would magnify, O brethren, the Supreme Attainment either in a layman or in a recluse. Whether he be a layman., O brethren, or a recluse, the man who has reached the Supreme Attainment PTS vp En 57 shall overcome all the difficulties inherent therein, shall win his way even to the excellent condition of Arahatship.” PTS vp Pali 243
‘Now, Nāgasena, if a layman, clad in white robes, enjoying the pleasures of sense, dwelling in a habitation encumbered with wife and children, making constant use of the sandal wood of Benares, of garlands and perfumes and unguents, accepting gold and silver, wearing a turban inlaid with jewels and gold, can, having reached the Supreme Attainment, win his way to the excellent condition of Arahatship—and if a recluse, with his shaven head and yellow robes, dependent for his livelihood on the alms of other men, perfectly fulfilling the fourfold code of morality, taking upon himself and carrying out the hundred and fifty precepts, conducting PTS vp En 58 himself according to the thirteen extra vows without omitting any one of them, can also, having reached the Supreme Attainment, win his way to the excellent condition of Arahatship—then, Sir, what is the distinction between the layman and the recluse? Your austerity is without effect, your renunciation is useless, your observance of the precepts is barren, your taking of the extra vows is vain. What is the good of your therein heaping up woes to yourselves, if thus in comfort the condition of bliss can be reached?’
PTS cs 17 ‘The words you ascribe to the Blessed One, O king, are rightly quoted. And that is even so. It is the man who has reached to the Supreme Attainment who bears the palm. If the recluse, O king, because he knows that he is a recluse, should neglect the Attainments, then is he far from the fruits of renunciation, far from Arahatship—how much more if a layman, still wearing the habit of the world, should do so! But whether he be a layman, O king, or a recluse, he who attains to the supreme insight, to the supreme conduct of life, he too will win his way to the excellent condition of Arahatship.
PTS cs 18 ‘But nevertheless, O king, it is the recluse who is the lord and master of the fruit of renunciation. And renunciation of the world, O king, is full of gain, many and immeasurable are its advantages, its profit can no man calculate. just, O king, as no man can put a measure, in wealth, on the PTS vp En 59 value of a wish-conferring gem, PTS vp Pali 244 Saying: “Such and such is the price of the gem"—just so, O king, is the renunciation of the world full of gain, many and immeasurable are its advantages, its profit can no man calculate—no more, O king, than he could count the number of the waves in the great ocean, and say: “So and so many are the waves in the sea!”
PTS cs 19 ‘Whatsoever the recluse, O king, may have yet to do, all that doth he accomplish straightway, without delay. And why is that? the recluse, O king, is content with little, joyful in heart, detached from the world, apart from society, earnest in zeal, without a home, without a dwelling-place, righteous in conduct, in action without guile, skilled in duty and in the attainments—that is why whatsoever may lie before him yet to do, that can he accomplish straightway, without delay—just as, the flight of your javelin, O king, is rapid because it is of pure metal, smooth, and burnished, and straight, and without a stain.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the recluse having no advantages over the layman.
CỦA HÀNG TẠI GIA VÀ XUẤT GIA
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta khen ngợi sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của vị xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hoặc vị xuất gia đã thực hành đúng đắn, do kết quả của việc thực hành đúng đắn mà trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu người tại gia, mặc y phục màu trắng, trong khi sinh sống có sự thọ hưởng các dục, có việc nằm chen chúc với vợ và con, trong khi hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, trong khi đeo tràng hoa, vật thơm, và vật thoa, trong khi ưng thuận vàng và bạc, buộc búi tóc có trang điểm ngọc ma-ni và vàng, đã thực hành đúng đắn, và trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo; còn vị xuất gia, đầu được cạo, mặc y ca-sa, đi đến khất thực ở những người khác, có sự thực hành trọn vẹn đúng đắn bốn giới uẩn, thọ lãnh và hành trì một trăm năm mươi điều học, hành trì không thiếu sót mười ba hạnh từ khước, đã thực hành đúng đắn, thì cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo. Thưa ngài, ở đây người tại gia hoặc vị xuất gia có cái gì là khác biệt? Có phải việc hành khổ hạnh là không có kết quả, việc xuất gia là không có lợi ích, việc gìn giữ các điều học là vô ích, sự thọ trì các hạnh từ khước là rồ dại? Ở đây, có gì với việc theo đuổi sự khó khăn? Chẳng phải là sự an lạc có thể được chứng đạt bằng chính sự an lạc?”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta khen ngợi sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của vị xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hoặc vị xuất gia đã thực hành đúng đắn, do kết quả của việc thực hành đúng đắn mà trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế chỉ có người đã thực hành đúng đắn là hạng nhất. Tâu đại vương, thậm chí vị xuất gia (nghĩ rằng): ‘Ta là vị xuất gia’ rồi không thực hành đúng đắn, thì vị ấy bị xa rời bản thể Sa-môn, bị xa rời phẩm vị Bà-la-môn; không cần đề cập đến người tại gia mặc y phục màu trắng. Tâu đại vương, ngay cả người tại gia đã thực hành đúng đắn cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo. Tâu đại vương, luôn cả vị xuất gia đã thực hành đúng đắn cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.
Tâu đại vương, thêm nữa chính vị xuất gia là chúa tể, là người chủ của bản thể Sa-môn. Tâu đại vương, việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, giống như không thể thực hiện việc đo lường giá trị bằng tài sản đối với bảo ngọc ma-ni, vật ban cho điều ước, là: ‘Giá tiền của viên bảo ngọc ma-ni là chừng này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, hoặc là giống như không thể thực hiện việc đo lường các làn sóng ở đại dương rằng: ‘Các làn sóng ở đại dương là chừng này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc. Vì lý do gì? Tâu đại vương, vị xuất gia ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách ly, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, không mong cầu, không nhà ở, có giới tròn đủ, có hạnh giảm thiểu, thiện xảo việc thực hành các pháp từ khước. Vì lý do ấy, đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc. Tâu đại vương, giống như mũi tên, không sần sùi, bằng phẳng, khéo được làm sạch, ngay thẳng, không vết nhơ, được bắn ra khéo léo thì di chuyển chính xác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc thực hành đúng đắn
của hàng tại gia và xuất gia là thứ ba.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘gihino vāhaṁ, bhikkhave, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṁ vaṇṇemi, gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan’ti.
Yadi, bhante nāgasena, gihī odātavasano kāmabhogī puttadārasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto maṇikuṇḍalavicittamoḷibaddho sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ, pabbajitopi bhaṇḍukāsāvavatthavasano parapiṇḍamajjhupagato catūsu sīlakkhandhesu sammāparipūrakārī diyaḍḍhesu sikkhāpadasatesu samādāya vattanto terasasu dhutaguṇesu anavasesaṁ vattanto sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Tattha, bhante, ko viseso gihino vā pabbajitassa vā?
Aphalaṁ hoti tapokammaṁ, niratthakā pabbajjā.
Vañjhā sikkhāpadagopanā, moghaṁ dhutaguṇasamādānaṁ, kiṁ tattha dukkhamanuciṇṇena, nanu nāma sukheneva sukhaṁ adhigantabban”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘gihino vāhaṁ, bhikkhave, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṁ vaṇṇemi, gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan’ti.
Evametaṁ, mahārāja, sammāpaṭipannova seṭṭho, pabbajitopi, mahārāja, ‘pabbajitomhī’ti na sammā paṭipajjeyya, atha kho so ārakāva sāmaññā, ārakāva brahmaññā, pageva gihī odātavasano.
Gihīpi, mahārāja, sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ, pabbajitopi, mahārāja, sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Api ca kho, mahārāja, pabbajitova sāmaññassa issaro adhipati;
pabbajjā, mahārāja, bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṁ parimāṇaṁ kātuṁ.
Yathā, mahārāja, kāmadadassa maṇiratanassa na sakkā dhanena aggho parimāṇaṁ kātuṁ ‘ettakaṁ maṇiratanassa mūlan’ti;
evameva kho, mahārāja, pabbajjā bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṁ parimāṇaṁ kātuṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, mahāsamudde ūmiyo na sakkā parimāṇaṁ kātuṁ ‘ettakā mahāsamudde ūmiyo’ti;
evameva kho, mahārāja, pabbajjā bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṁ parimāṇaṁ kātuṁ.
Pabbajitassa, mahārāja, yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, sabbaṁ taṁ khippameva samijjhati no cirarattāya.
Kiṁ kāraṇā?
Pabbajito, mahārāja, appiccho hoti santuṭṭho pavivitto asaṁsaṭṭho āraddhavīriyo nirālayo aniketo paripuṇṇasīlo sallekhitācāro dhutappaṭipattikusalo hoti, taṁ kāraṇā pabbajitassa yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, sabbaṁ taṁ khippameva samijjhati no cirarattāya.
Yathā, mahārāja, niggaṇṭhisamasudhotaujuvimalanārāco susajjito sammā vahati;
evameva kho, mahārāja, pabbajitassa yaṁ kiñci karaṇīyaṁ, sabbaṁ taṁ khippameva samijjhati no cirarattāyā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Gihipabbajitasammāpaṭipattipañho tatiyo.