BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ở đây có người tại gia nào đó phạm tội cực nặng, người ấy vào lúc khác xuất gia, người ấy tự mình cũng không biết rằng: ‘Khi là người tại gia, ta đã phạm tội cực nặng;’ cũng không có ai nói cho người ấy rằng: ‘Khi là người tại gia, ngươi đã phạm tội cực nặng.’ Và người ấy thực hành để chứng đạt Niết Bàn, phải chăng đối với người ấy có thể có sự chứng ngộ Giáo Pháp?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài, vì lý do gì?”
“Điều kiện đưa đến sự chứng ngộ Giáo Pháp của người ấy đã bị đứt đoạn đối với người ấy, do đó không có sự chứng ngộ Giáo Pháp.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đối với người biết thì có sự hối hận. Khi có sự hối hận thì có sự che lấp, khi tâm bị che lấp thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp.’ Tuy nhiên, người này trong khi không biết, thì đã không sanh lòng hối hận, sống có tâm an tịnh, vì lý do gì mà đối với người này thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp? Câu hỏi này quanh co khúc mắc. Xin ngài suy nghĩ rồi hãy trả lời.”
“Tâu đại vương, có phải hạt giống có phẩm chất, được ủ tốt đẹp sẽ nẩy mầm ở thửa ruộng mầu mỡ, được cày kỹ lưỡng, có bùn non?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, phải chăng chính hạt giống ấy có thể nẩy mầm ở bề mặt tảng đá cứng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao cũng hạt giống ấy lại nẩy mầm ở bãi bùn, tại sao lại không nẩy mầm ở tảng đá cứng?”
BJT 2“Thưa ngài, điều kiện cho việc nẩy mầm của hạt giống ấy không có ở tảng đá cứng. Do không có điều kiện, hạt giống không nẩy mầm.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế với điều kiện nào mà người ấy có sự chứng ngộ Giáo Pháp, điều kiện ấy đối với người ấy đã bị trừ tuyệt. Do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp. Tâu đại vương, hoặc là giống như cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ đi đến việc trụ lại ở trái đất, phải chăng chính các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy đi đến việc trụ lại ở không trung?” “Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy chính các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy đi đến việc trụ lại ở trái đất? Vì lý do gì chúng không trụ lại ở không trung?”
“Thưa ngài, điều kiện cho việc trụ lại của các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy không có ở không trung. Do không có điều kiện, chúng không trụ lại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tội lỗi ấy điều kiện của sự chứng ngộ đã bị đứt đoạn đối với người ấy. Khi điều kiện đã bị tiêu diệt, do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ. Tâu đại vương, hoặc là giống như ngọn lửa phát cháy ở đất bằng, tâu đại vương, phải chăng chính ngọn lửa ấy phát cháy ở trong nước?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy chính ngọn lửa ấy phát cháy ở đất bằng? Vì lý do gì nó không phát cháy ở trong nước?”
“Thưa ngài, điều kiện cho việc phát cháy của ngọn lửa không có ở trong nước. Do không có điều kiện, nó không phát cháy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tội lỗi ấy điều kiện của sự chứng ngộ đã bị đứt đoạn đối với người ấy. Khi điều kiện đã bị tiêu diệt, do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy suy nghĩ lại về ý nghĩa này. Trẫm không có sự tin chắc ở tâm về trường hợp ấy là: ‘Đối với người không biết, khi không có sự hối hận, lại có sự che lấp.’ Hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, phải chăng chất độc dữ dội đã được ăn vào mặc dầu không biết, cũng lấy đi mạng sống?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, phải chăng ngọn lửa cũng thiêu đốt người bước lên mà không biết?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, phải chăng rắn độc sau khi cắn người không biết (bản thân đã bị rắn cắn) cũng lấy đi mạng sống?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, quả là Samaṇakolañña, vua xứ Kāliṅga, được tùy tùng với bảy báu vật, sau khi cỡi lên con voi báu, trong khi đi đến thăm gia đình, mặc dầu không biết cũng đã không thể di chuyển phía bên trên khu vực cội cây Bồ Đề. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy việc ác đã được làm, mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ.”
“Thưa ngài Nāgasena, không thể bác bỏ lý do đã được đấng Chiến Thắng giảng giải. Điều này đúng là ý nghĩa của việc ấy. Trẫm chấp nhận như thế.”
Câu hỏi về chướng ngại của sự chứng ngộ là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, idha yo koci gihī pārājikaṁ ajjhāpanno bhaveyya, so aparena samayena pabbājeyya, attanāpi so na jāneyya ‘gihipārājikaṁ ajjhāpannosmī’ti, napi tassa añño koci ācikkheyya ‘gihipārājikaṁ ajjhāpannosī’ti.
So ca tathattāya paṭipajjeyya, api nu tassa dhammābhisamayo bhaveyyā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kena, bhante, kāraṇenā”ti?
“Yo tassa hetu dhammābhisamayāya, so tassa samucchinno, tasmā dhammābhisamayo na bhavatī”ti.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘jānantassa kukkuccaṁ hoti, kukkucce sati āvaraṇaṁ hoti, āvaṭe citte dhammābhisamayo na hotī’ti.
Imassa pana ajānantassa akukkuccajātassa santacittassa viharato kena kāraṇena dhammābhisamayo na hoti, visamena visameneso pañho gacchati, cintetvā visajjethā”ti.
“Ruhati, mahārāja, sukaṭṭhe sukalale maṇḍakhette sāradaṁ sukhasayitaṁ bījan”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Api nu, mahārāja, taññeva bījaṁ ghanaselasilātale ruheyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana, mahārāja, taññeva bījaṁ kalale ruhati, kissa ghanasele na ruhatī”ti?
“Natthi, bhante, tassa bījassa ruhanāya ghanasele hetu, ahetunā bījaṁ na ruhatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yena hetunā tassa dhammābhisamayo bhaveyya, so tassa hetu samucchinno, ahetunā dhammābhisamayo na hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā pathaviyā ṭhānamupagacchanti, api nu, mahārāja, teyeva daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā gagane ṭhānamupagacchantī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ panettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena teyeva daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā pathaviyā ṭhānamupagacchanti, kena kāraṇena gagane na tiṭṭhantī”ti?
“Natthi, bhante, tesaṁ daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarānaṁ patiṭṭhānāya ākāse hetu, ahetunā na tiṭṭhantī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tassa tena dosena abhisamayahetu samucchinno, hetusamugghāte ahetunā abhisamayo na hotīti.
Yathā vā pana, mahārāja, thale aggi jalati, api nu kho, mahārāja, soyeva aggi udake jalatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ panettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena soyeva aggi thale jalati, kena kāraṇena udake na jalatī”ti?
“Natthi, bhante, aggissa jalanāya udake hetu, ahetunā na jalatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tassa tena dosena abhisamayahetu samucchinno, hetusamugghāte ahetunā dhammābhisamayo na hotī”ti.
“Bhante nāgasena, punapetaṁ atthaṁ cintehi, na me tattha cittasaññatti bhavati, ajānantassa asati kukkucce āvaraṇaṁ hotīti, kāraṇena maṁ saññāpehī”ti.
“Api nu, mahārāja, visaṁ halāhalaṁ ajānantena khāyitaṁ jīvitaṁ haratī”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hoti.
Api nu, mahārāja, aggi ajānitvā akkamantaṁ ḍahatī”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hoti.
Api nu, mahārāja, ajānantaṁ āsīviso ḍaṁsitvā jīvitaṁ haratī”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hoti.
Nanu, mahārāja, kāliṅgarājā samaṇakolañño sattaratanaparikiṇṇo hatthiratanamabhiruyha kuladassanāya gacchanto ajānantopi nāsakkhi bodhimaṇḍassa uparito gantuṁ, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hotī”ti?
“Jinabhāsitaṁ, bhante nāgasena, kāraṇaṁ na sakkā paṭikkosituṁ, esovetassa attho tathā sampaṭicchāmī”ti.
Abhisamayantarāyakarapañho sattamo.
PTS cs 45 PTS vp Pali 255 ‘Venerable Nāgasena, suppose a layman had been guilty of a Pārājika offence, and some time after should enter the Order. And neither he himself should be aware that when still a layman he had so been guilty, nor should any one else inform him, saying: “When a layman you were guilty of such an offence.” Now if he were to devote himself to the attainment of Arahatship, would he be able so to comprehend the Truth as to succeed in entering upon the Excellent Way?’
‘No, O king, he would not.’
‘But why not, Sir?’
‘That, in him, which might have been the cause of his grasping the Truth has been, in him, destroyed. No comprehension can therefore take place.’
PTS cs 46 ‘Venerable Nāgasena, your people say:
“To him who is aware (of an offence) there comes PTS vp En 79 remorse. When remorse has arisen there is an obstruction in the heart. To him whose heart is obstructed there is no comprehension of the Truth.”
‘Why should there then be no such comprehension to one not aware of his offence, feeling no remorse, remaining with a quiet heart. This dilemma touches on two irreconcilable statements. Think well before you solve it.’
PTS cs 47 ‘Would selected seed, O king, successfully sown in a well-ploughed, well-watered, fertile soil, come to maturity?’
‘Certainly, Sir!’
‘But would the same seed grow on the surface of a thick slab of rock?’
‘Of course not.’
‘Why then should the same seed grow in the mud, and not on the rock?’
‘Because on the rock the cause for its growth does not exist. Seeds cannot grow without a cause.’
‘Just so, O king, the cause by reason of which his comprehension of the Truth (his conversion) might have been brought about, has been rooted out in him. Conversion cannot take place without a cause.’
PTS cs 48 ‘[Give me, Sir, another simile.’]
‘Well, O king, will sticks and clods and cudgels PTS vp En 80 and clubs find a resting-place in the air, in the same way as they do on the ground?’
‘No, Sir.’
‘But what is the reason why they come to rest on the earth, when they will not stand in the air?’
‘There is no cause in the air for their stability, and without a cause they will PTS vp Pali 256 not stand.’
‘Just so, O king, by that fault of his the cause for his conversion has been removed. And without a cause there can be no conversion. Now will fire, O king, burn in water in the same way as it will on land?’
‘No, Sir.’
‘But why not?’
‘Because in water the conditions precedent for burning do not exist. And there can be no burning without them.’
‘Just so, O king, are the conditions precedent to conversion destroyed in him by that offence of his. And when the conditions which would bring it about are destroyed there can be no conversion.’
PTS cs 49 ‘Venerable Nāgasena, think over this matter once more. I am not yet convinced about it. Persuade me by some reason how such obstruction can occur in the case of one not aware of his offence, and feeling therefore no remorse.’
‘Would the Halāhala poison, O king, if eaten by PTS vp En 81 a man who did not know he had eaten it, take away his life?’
‘Yes, Sir.’
‘Just so, O king, is there an obstruction to his comprehension of the Truth, who, without being aware of it, has committed a sin. And would fire, O king, burn a man who walked into it unawares?’
‘Yes, Sir.’
‘Well, just so in the case you put. Or would a venomous snake, if it bit a man without his knowing it, kill him?’
‘Yes, Sir.’
‘Well, just so in the case you put. And is it not true that Samaṇa Kolañña, the king of Kaliṅga—when surrounded by the seven treasures of a sovereign overlord he went mounted on his state elephant to pay a visit to his relatives—was not able to pass the Tree of Wisdom, though he was not aware that it was there ? Well, of the same kind is the reason why one who has committed an offence, even though he know it not, is nevertheless incapable of rising to the knowledge of the Truth.’
‘Verily, Nāgasena, this must be the word of the Conqueror. To find any fault with it were vain. And this (explanation of yours) must be the meaning of it. I accept it as you say.’
Here ends the dilemma of the layman’s sin.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ở đây có người tại gia nào đó phạm tội cực nặng, người ấy vào lúc khác xuất gia, người ấy tự mình cũng không biết rằng: ‘Khi là người tại gia, ta đã phạm tội cực nặng;’ cũng không có ai nói cho người ấy rằng: ‘Khi là người tại gia, ngươi đã phạm tội cực nặng.’ Và người ấy thực hành để chứng đạt Niết Bàn, phải chăng đối với người ấy có thể có sự chứng ngộ Giáo Pháp?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài, vì lý do gì?”
“Điều kiện đưa đến sự chứng ngộ Giáo Pháp của người ấy đã bị đứt đoạn đối với người ấy, do đó không có sự chứng ngộ Giáo Pháp.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đối với người biết thì có sự hối hận. Khi có sự hối hận thì có sự che lấp, khi tâm bị che lấp thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp.’ Tuy nhiên, người này trong khi không biết, thì đã không sanh lòng hối hận, sống có tâm an tịnh, vì lý do gì mà đối với người này thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp? Câu hỏi này quanh co khúc mắc. Xin ngài suy nghĩ rồi hãy trả lời.”
“Tâu đại vương, có phải hạt giống có phẩm chất, được ủ tốt đẹp sẽ nẩy mầm ở thửa ruộng mầu mỡ, được cày kỹ lưỡng, có bùn non?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, phải chăng chính hạt giống ấy có thể nẩy mầm ở bề mặt tảng đá cứng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao cũng hạt giống ấy lại nẩy mầm ở bãi bùn, tại sao lại không nẩy mầm ở tảng đá cứng?”
BJT 2“Thưa ngài, điều kiện cho việc nẩy mầm của hạt giống ấy không có ở tảng đá cứng. Do không có điều kiện, hạt giống không nẩy mầm.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế với điều kiện nào mà người ấy có sự chứng ngộ Giáo Pháp, điều kiện ấy đối với người ấy đã bị trừ tuyệt. Do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp. Tâu đại vương, hoặc là giống như cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ đi đến việc trụ lại ở trái đất, phải chăng chính các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy đi đến việc trụ lại ở không trung?” “Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy chính các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy đi đến việc trụ lại ở trái đất? Vì lý do gì chúng không trụ lại ở không trung?”
“Thưa ngài, điều kiện cho việc trụ lại của các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy không có ở không trung. Do không có điều kiện, chúng không trụ lại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tội lỗi ấy điều kiện của sự chứng ngộ đã bị đứt đoạn đối với người ấy. Khi điều kiện đã bị tiêu diệt, do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ. Tâu đại vương, hoặc là giống như ngọn lửa phát cháy ở đất bằng, tâu đại vương, phải chăng chính ngọn lửa ấy phát cháy ở trong nước?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy chính ngọn lửa ấy phát cháy ở đất bằng? Vì lý do gì nó không phát cháy ở trong nước?”
“Thưa ngài, điều kiện cho việc phát cháy của ngọn lửa không có ở trong nước. Do không có điều kiện, nó không phát cháy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tội lỗi ấy điều kiện của sự chứng ngộ đã bị đứt đoạn đối với người ấy. Khi điều kiện đã bị tiêu diệt, do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy suy nghĩ lại về ý nghĩa này. Trẫm không có sự tin chắc ở tâm về trường hợp ấy là: ‘Đối với người không biết, khi không có sự hối hận, lại có sự che lấp.’ Hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, phải chăng chất độc dữ dội đã được ăn vào mặc dầu không biết, cũng lấy đi mạng sống?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, phải chăng ngọn lửa cũng thiêu đốt người bước lên mà không biết?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, phải chăng rắn độc sau khi cắn người không biết (bản thân đã bị rắn cắn) cũng lấy đi mạng sống?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, quả là Samaṇakolañña, vua xứ Kāliṅga, được tùy tùng với bảy báu vật, sau khi cỡi lên con voi báu, trong khi đi đến thăm gia đình, mặc dầu không biết cũng đã không thể di chuyển phía bên trên khu vực cội cây Bồ Đề. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy việc ác đã được làm, mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ.”
“Thưa ngài Nāgasena, không thể bác bỏ lý do đã được đấng Chiến Thắng giảng giải. Điều này đúng là ý nghĩa của việc ấy. Trẫm chấp nhận như thế.”
Câu hỏi về chướng ngại của sự chứng ngộ là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, idha yo koci gihī pārājikaṁ ajjhāpanno bhaveyya, so aparena samayena pabbājeyya, attanāpi so na jāneyya ‘gihipārājikaṁ ajjhāpannosmī’ti, napi tassa añño koci ācikkheyya ‘gihipārājikaṁ ajjhāpannosī’ti.
So ca tathattāya paṭipajjeyya, api nu tassa dhammābhisamayo bhaveyyā”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kena, bhante, kāraṇenā”ti?
“Yo tassa hetu dhammābhisamayāya, so tassa samucchinno, tasmā dhammābhisamayo na bhavatī”ti.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘jānantassa kukkuccaṁ hoti, kukkucce sati āvaraṇaṁ hoti, āvaṭe citte dhammābhisamayo na hotī’ti.
Imassa pana ajānantassa akukkuccajātassa santacittassa viharato kena kāraṇena dhammābhisamayo na hoti, visamena visameneso pañho gacchati, cintetvā visajjethā”ti.
“Ruhati, mahārāja, sukaṭṭhe sukalale maṇḍakhette sāradaṁ sukhasayitaṁ bījan”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Api nu, mahārāja, taññeva bījaṁ ghanaselasilātale ruheyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana, mahārāja, taññeva bījaṁ kalale ruhati, kissa ghanasele na ruhatī”ti?
“Natthi, bhante, tassa bījassa ruhanāya ghanasele hetu, ahetunā bījaṁ na ruhatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yena hetunā tassa dhammābhisamayo bhaveyya, so tassa hetu samucchinno, ahetunā dhammābhisamayo na hoti.
Yathā vā pana, mahārāja, daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā pathaviyā ṭhānamupagacchanti, api nu, mahārāja, teyeva daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā gagane ṭhānamupagacchantī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ panettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena teyeva daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā pathaviyā ṭhānamupagacchanti, kena kāraṇena gagane na tiṭṭhantī”ti?
“Natthi, bhante, tesaṁ daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarānaṁ patiṭṭhānāya ākāse hetu, ahetunā na tiṭṭhantī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tassa tena dosena abhisamayahetu samucchinno, hetusamugghāte ahetunā abhisamayo na hotīti.
Yathā vā pana, mahārāja, thale aggi jalati, api nu kho, mahārāja, soyeva aggi udake jalatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ panettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena soyeva aggi thale jalati, kena kāraṇena udake na jalatī”ti?
“Natthi, bhante, aggissa jalanāya udake hetu, ahetunā na jalatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tassa tena dosena abhisamayahetu samucchinno, hetusamugghāte ahetunā dhammābhisamayo na hotī”ti.
“Bhante nāgasena, punapetaṁ atthaṁ cintehi, na me tattha cittasaññatti bhavati, ajānantassa asati kukkucce āvaraṇaṁ hotīti, kāraṇena maṁ saññāpehī”ti.
“Api nu, mahārāja, visaṁ halāhalaṁ ajānantena khāyitaṁ jīvitaṁ haratī”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hoti.
Api nu, mahārāja, aggi ajānitvā akkamantaṁ ḍahatī”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hoti.
Api nu, mahārāja, ajānantaṁ āsīviso ḍaṁsitvā jīvitaṁ haratī”ti?
“Āma, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hoti.
Nanu, mahārāja, kāliṅgarājā samaṇakolañño sattaratanaparikiṇṇo hatthiratanamabhiruyha kuladassanāya gacchanto ajānantopi nāsakkhi bodhimaṇḍassa uparito gantuṁ, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena ajānantenapi kataṁ pāpaṁ abhisamayantarāyakaraṁ hotī”ti?
“Jinabhāsitaṁ, bhante nāgasena, kāraṇaṁ na sakkā paṭikkosituṁ, esovetassa attho tathā sampaṭicchāmī”ti.
Abhisamayantarāyakarapañho sattamo.