“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài chim gõ kiến nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chim gõ kiến kêu réo báo hiệu sự an toàn hoặc sợ hãi cho những kẻ khác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập trong khi thuyết giảng Giáo Pháp cho những người khác nên chỉ cho thấy đọa xứ là sự sợ hãi, nên chỉ cho thấy Niết Bàn là sự an toàn. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài chim gõ kiến nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Piṇḍolabhāradvāja nói đến:
‘Ở địa ngục có sự sợ hãi và run sợ, ở Niết Bàn có sự an lạc bao la, vị hành giả nên chỉ cho thấy cả hai ý nghĩa này.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chim gõ kiến là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, ‘satapattassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, satapatto ravitvā paresaṁ khemaṁ vā bhayaṁ vā ācikkhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paresaṁ dhammaṁ desayamānena vinipātaṁ bhayato dassayitabbaṁ, nibbānaṁ khemato dassayitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, satapattassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena piṇḍolabhāradvājena—
‘Niraye bhayasantāsaṁ,
nibbāne vipulaṁ sukhaṁ;
Ubhayānetānatthāni,
dassetabbāni yoginā’”ti.
Satapattaṅgapañho chaṭṭho.
PTS cs 16 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the Indian crane you say he ought to take, which is it?’
‘Just, O king, as the Indian crane by its cry makes known to other folk the good fortune or disaster that is about to happen to them; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, make known to others by his preaching of the Dhamma how dreadful a state is purgatory, and how blissful is Nirvāṇa. This, O king, is the quality of the Indian crane he ought to have. For it was said, O king, by Piṇḍola Bhāra-dvāja, the elder: PTS vp En 346
“Two matters there are that the earnest recluse
Should ever to others be making clear—
How fearful, how terrible, purgatory is;
How great and how deep is Nirvāṇa’s bliss.”’
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài chim gõ kiến nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chim gõ kiến kêu réo báo hiệu sự an toàn hoặc sợ hãi cho những kẻ khác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập trong khi thuyết giảng Giáo Pháp cho những người khác nên chỉ cho thấy đọa xứ là sự sợ hãi, nên chỉ cho thấy Niết Bàn là sự an toàn. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài chim gõ kiến nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Piṇḍolabhāradvāja nói đến:
‘Ở địa ngục có sự sợ hãi và run sợ, ở Niết Bàn có sự an lạc bao la, vị hành giả nên chỉ cho thấy cả hai ý nghĩa này.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chim gõ kiến là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, ‘satapattassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, satapatto ravitvā paresaṁ khemaṁ vā bhayaṁ vā ācikkhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paresaṁ dhammaṁ desayamānena vinipātaṁ bhayato dassayitabbaṁ, nibbānaṁ khemato dassayitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, satapattassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena piṇḍolabhāradvājena—
‘Niraye bhayasantāsaṁ,
nibbāne vipulaṁ sukhaṁ;
Ubhayānetānatthāni,
dassetabbāni yoginā’”ti.
Satapattaṅgapañho chaṭṭho.