“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài đỉa nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài đỉa bám vào nơi nào thì bám chặt ngay tại nơi ấy rồi hút máu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên khiến cho đối tượng mà tâm bám vào được thiết lập một cách chắc chắn theo màu sắc, theo vị trí, theo phương hướng, theo khoảng cách, theo ranh giới, theo đặc điểm, theo dấu hiệu, rồi nhờ vào chính đối tượng ấy nên uống trọn vẹn vị chất của sự giải thoát. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài đỉa nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Anuruddha nói đến:
‘Nên thiết lập ở đối tượng bằng tâm thanh tịnh, nên uống vị chất trọn vẹn của sự giải thoát bằng tâm ấy.’”
Câu hỏi về tính chất của loài đỉa là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ‘jalūkāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, jalūkā yattha allīyati, tattheva daḷhaṁ allīyitvā ruhiraṁ pivati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yasmiṁ ārammaṇe cittaṁ allīyati, taṁ ārammaṇaṁ vaṇṇato ca saṇṭhānato ca disato ca okāsato ca paricchedato ca liṅgato ca nimittato ca daḷhaṁ patiṭṭhāpetvā tenevārammaṇena vimuttirasamasecanakaṁ pātabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, jalūkāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena anuruddhena—
‘Parisuddhena cittena,
Ārammaṇe patiṭṭhāya;
Tena cittena pātabbaṁ,
Vimuttirasamasecanan’”ti.
Jalūkaṅgapañho aṭṭhamo.
PTS cs 19 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the leech which you say he ought to take, which is it?’
‘Just, O king, as the leech, wheresoever it is put on, there does it adhere firmly, drinking the blood; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, on whatsoever subject for meditation he may fix his mind, call that subject firmly up before him in respect of its colour, and shape, and position, and extension, and boundaries, and nature, and characteristic marks, drinking the delicious draught of the ambrosia of emancipation. This, O king, is the quality of the leech he ought to have. For it was said, O king, by Anuruddha, the Elder:
“With heart made pure, in meditation firm,
Drink deep of freedom’s never-failing draught.”’
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài đỉa nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài đỉa bám vào nơi nào thì bám chặt ngay tại nơi ấy rồi hút máu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên khiến cho đối tượng mà tâm bám vào được thiết lập một cách chắc chắn theo màu sắc, theo vị trí, theo phương hướng, theo khoảng cách, theo ranh giới, theo đặc điểm, theo dấu hiệu, rồi nhờ vào chính đối tượng ấy nên uống trọn vẹn vị chất của sự giải thoát. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài đỉa nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Anuruddha nói đến:
‘Nên thiết lập ở đối tượng bằng tâm thanh tịnh, nên uống vị chất trọn vẹn của sự giải thoát bằng tâm ấy.’”
Câu hỏi về tính chất của loài đỉa là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ‘jalūkāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, jalūkā yattha allīyati, tattheva daḷhaṁ allīyitvā ruhiraṁ pivati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yasmiṁ ārammaṇe cittaṁ allīyati, taṁ ārammaṇaṁ vaṇṇato ca saṇṭhānato ca disato ca okāsato ca paricchedato ca liṅgato ca nimittato ca daḷhaṁ patiṭṭhāpetvā tenevārammaṇena vimuttirasamasecanakaṁ pātabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, jalūkāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena anuruddhena—
‘Parisuddhena cittena,
Ārammaṇe patiṭṭhāya;
Tena cittena pātabbaṁ,
Vimuttirasamasecanan’”ti.
Jalūkaṅgapañho aṭṭhamo.