BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài dơi nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài dơi sau khi đi vào nhà, bay quanh, rồi đi ra, không chần chờ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi đi vào làng để khất thực, nên đi theo tuần tự, khi đã nhận được phần thì rời khỏi thật nhanh chóng, không nên chần chờ ở nơi ấy. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài dơi nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài dơi trong khi sống ở nhà của những người khác thì không làm việc phá hoại đến họ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi đi đến những gia đình, không nên gây ra cho họ bất cứ điều gì hối tiếc do sự xin xỏ quá mức, hoặc do nhiều sự yêu cầu, hoặc do nhiều sự sai trái của thân, hoặc do trạng thái nói quá nhiều, hoặc do trạng thái của lạc và khổ là tương đồng, cũng không nên khiến họ bỏ bê công việc căn bản của họ, nên ước muốn chỉ mỗi sự tiến triển về mọi mặt. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài dơi nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Trường Bộ quý báu, bài Kinh Lakkhaṇa:
Vì niềm tin, vì giới, vì sự nghe, vì sự thông minh,
vì sự xả thí, vì Giáo Pháp, vì các điều tốt đẹp,
vì tài sản, vì lúa gạo, và vì ruộng vườn đất đai,
vì các con, vì những người vợ, và vì các gia súc,
vì các thân quyến, vì các bạn bè, và vì các bà con,
vì sức mạnh, vì sắc đẹp, và vì sự an lạc ở cả hai trường hợp,
ước muốn: ‘Làm thế nào để các kẻ khác không thoái hóa?’
và còn mong mỏi về sự thành tựu của mục đích.”
Câu hỏi về tính chất của loài dơi là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, ‘vaggulissa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, vagguli gehaṁ pavisitvā vicaritvā nikkhamati, na tattha palibuddhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena gāmaṁ piṇḍāya pavisitvā sapadānaṁ vicaritvā paṭiladdhalābhena khippameva nikkhamitabbaṁ, na tattha palibuddhena bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, vaggulissa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, vagguli paragehe vasamāno na tesaṁ parihāniṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kulāni upasaṅkamitvā atiyācanāya vā viññattibahulatāya vā kāyadosabahulatāya vā atibhāṇitāya vā samānasukhadukkhatāya vā na tesaṁ koci vippaṭisāro karaṇīyo, napi tesaṁ mūlakammaṁ parihāpetabbaṁ, sabbathā vaḍḍhiyeva icchitabbā.
Idaṁ, mahārāja, vaggulissa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dīghanikāyavare lakkhaṇasuttante—
‘Suddhāya sīlena sutena buddhiyā,
Cāgena dhammena bahūhi sādhuhi;
Dhanena dhaññena ca khettavatthunā,
Puttehi dārehi catuppadehi ca.
Ñātīhi mittehi ca bandhavehi,
Balena vaṇṇena sukhena cūbhayaṁ;
Kathaṁ na hāyeyyuṁ pareti icchati,
Atthasamiddhiñca panābhikaṅkhatī’”ti.
Vagguliṅgapañho sattamo.
PTS cs 17 ‘Venerable Nāgasena, those two qualities of the bat you say he ought to take, which are they?’
‘Just, O king, as the bat, though it enters into men’s dwelling-places, and flies about in them, soon goes out from them, delays not therein; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when he has entered the village for alms, and gone on his rounds in regular order, depart quickly with the alms he has received, and delay not therein. This, O king, is the first quality of the bat he ought to have.
PTS cs 18 ‘And again, O king, as the bat, while frequenting other folk’s houses, does them no harm; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when visiting the houses of the laity, never give them cause for vexation by persistent requests, or by pointing out what he wants, or by wrong demeanour, or by chattering, or by being indifferent to their prosperity or adversity; he should never take them away from their chief business occupations, but desire their success in all things. This, O king, is the second quality of the bat he ought to have. For it was said, O king, PTS vp Pali 405 by the Blessed One, the god over all gods, in the Lakkhana Suttanta:
“‘Oh! How may others never suffer loss
Or diminution, whether in their faith,PTS vp En 347
Or righteousness, or knowledge of the word,
Or understanding, or self-sacrifice,
Or in religion, or in all good things,
Or in their stores of wealth, or corn, or lands,
Or tenements, or in their sons, or wives,
Or in their flocks and herds, or in their friends,
And relatives, and kinsmen, or in strength,
In beauty, and in joy’—’Tis thus he thinks—
Longing for other men’s advantage and success!”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài dơi nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài dơi sau khi đi vào nhà, bay quanh, rồi đi ra, không chần chờ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi đi vào làng để khất thực, nên đi theo tuần tự, khi đã nhận được phần thì rời khỏi thật nhanh chóng, không nên chần chờ ở nơi ấy. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài dơi nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài dơi trong khi sống ở nhà của những người khác thì không làm việc phá hoại đến họ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi đi đến những gia đình, không nên gây ra cho họ bất cứ điều gì hối tiếc do sự xin xỏ quá mức, hoặc do nhiều sự yêu cầu, hoặc do nhiều sự sai trái của thân, hoặc do trạng thái nói quá nhiều, hoặc do trạng thái của lạc và khổ là tương đồng, cũng không nên khiến họ bỏ bê công việc căn bản của họ, nên ước muốn chỉ mỗi sự tiến triển về mọi mặt. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài dơi nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Trường Bộ quý báu, bài Kinh Lakkhaṇa:
Vì niềm tin, vì giới, vì sự nghe, vì sự thông minh,
vì sự xả thí, vì Giáo Pháp, vì các điều tốt đẹp,
vì tài sản, vì lúa gạo, và vì ruộng vườn đất đai,
vì các con, vì những người vợ, và vì các gia súc,
vì các thân quyến, vì các bạn bè, và vì các bà con,
vì sức mạnh, vì sắc đẹp, và vì sự an lạc ở cả hai trường hợp,
ước muốn: ‘Làm thế nào để các kẻ khác không thoái hóa?’
và còn mong mỏi về sự thành tựu của mục đích.”
Câu hỏi về tính chất của loài dơi là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, ‘vaggulissa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, vagguli gehaṁ pavisitvā vicaritvā nikkhamati, na tattha palibuddhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena gāmaṁ piṇḍāya pavisitvā sapadānaṁ vicaritvā paṭiladdhalābhena khippameva nikkhamitabbaṁ, na tattha palibuddhena bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, vaggulissa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, vagguli paragehe vasamāno na tesaṁ parihāniṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kulāni upasaṅkamitvā atiyācanāya vā viññattibahulatāya vā kāyadosabahulatāya vā atibhāṇitāya vā samānasukhadukkhatāya vā na tesaṁ koci vippaṭisāro karaṇīyo, napi tesaṁ mūlakammaṁ parihāpetabbaṁ, sabbathā vaḍḍhiyeva icchitabbā.
Idaṁ, mahārāja, vaggulissa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dīghanikāyavare lakkhaṇasuttante—
‘Suddhāya sīlena sutena buddhiyā,
Cāgena dhammena bahūhi sādhuhi;
Dhanena dhaññena ca khettavatthunā,
Puttehi dārehi catuppadehi ca.
Ñātīhi mittehi ca bandhavehi,
Balena vaṇṇena sukhena cūbhayaṁ;
Kathaṁ na hāyeyyuṁ pareti icchati,
Atthasamiddhiñca panābhikaṅkhatī’”ti.
Vagguliṅgapañho sattamo.