Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở dưới bóng cây đạo tràng, nước Ma-kiệt, lúc mới thành Phật.
Bấy giờ Thế Tôn nghĩ như vầy: “Nay Ta đã được pháp thật sâu xa này, khó rõ, khó tường, khó hiểu, khó biết, rất là vi diệu, được giác tri bởi bực trí. Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước nhất, để người đó rõ được pháp của Ta?”
Rồi Thế Tôn lại nghĩ: “A-la-lam, với các căn đã thuần thục, đáng được độ trước. Vả lại, ông ấy đang trông đợi Ta có Pháp.” Vừa nghĩ như vậy, tức thì giữa hư không có vị trời bạch Thế Tôn rằng:
“A-la-lam đã chết bảy ngày rồi.”
Bấy giờ, Thế Tôn lại nghĩ: “Khổ thay, sao người ấy chưa nghe được Pháp của Ta mà đã chết rồi! Giả sử người ấy nếu nghe được pháp của Ta, tức thì giải thoát.”
Bấy giờ Thế Tôn lại nghĩ: “Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước để người này được giải thoát? Uất-đầu-lam-phất đáng được độ trước. Hãy thuyết pháp cho ông ấy trước hết. Nghe ta thuyết pháp xong sẽ được giải thoát trước nhất.”
Khi Thế Tôn vừa nghĩ vậy, giữa hư không có vị trời nói rằng:
“Ông ấy đã chết rồi, vào nửa đêm hôm qua.”
Khi đó Thế Tôn lại nghĩ rằng: ‘Uất-đầu-lam-phất này, khổ thay, sao chưa nghe được pháp của Ta mà đã chết mất rồi! Giả sử người ấy nếu nghe được pháp của Ta, tức thì giải thoát.”
Bấy giờ Thế Tôn lại nghĩ: “Ai nghe pháp của ta trước hết, được giải thoát?” Thế Tôn lại nghĩ: “Năm tỳ-kheo đã làm nhiều lợi ích cho Ta, vẫn theo sau Ta khi Ta mới sanh.” Rồi Thế Tôn lại nghĩ: “Năm Tỳ-kheo này hiện ở đâu?” Bèn dùng thiên nhãn quán sát, thấy năm tỳ-kheo này đang ở trong vườn Nai, trú xứ Tiên nhân, Ba-la-nại. “Nay Ta hãy đến đó thuyết pháp cho năm Tỳ-kheo trước nhất. Nghe pháp ta rồi, họ sẽ được giải thoát.”
Bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày nhìn chăm chú vào cây đạo thọ, mắt không hề nháy.
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ này:
Chỗ Ta ngồi nay đây
Trải qua khổ sanh tử.
Nắm chặt búa trí huệ
Chặt đứt rễ gai nhọn.
Thiên vương đến nơi đây.
Cùng các Ma, quyến thuộc.
Hàng phục bằng phương tiện,
Khiến đội mũ giải thoát.
Nay ở dưới cây này,
Ngồi trên tòa kim cương,
Chứng đắc huệ vô ngại,
Thành tựu nhất thiết trí.
Ta ngồi dưới cây này
Thấy rõ khổ sinh tử.
Đã dứt nguồn gốc tử
Già bệnh hẳn không còn.
Thế Tôn sau khi nói kệ này, rời chỗ ngồi đứng dậy, đi về hướng nước Ba-la-nại.
Lúc đó phạm chí Ưu-tỳ-già từ xa thấy Thế Tôn, sắc sáng rực rỡ che khuất ánh mặt trời mặt trăng. Thấy vậy, ông bạch Thế Tôn:
“Cù-đàm, Sư chủ của ông hiện đang ở đâu? Ông nương theo ai xuất gia học đạo? Thường thích thuyết pháp nào để dạy? Ông từ đâu lại? Ông muốn đi đến đâu?”
Thế Tôn nhìn phạm chí kia mà nói kệ này:
Ta thành A-la-hán,
Thế gian không ai bằng.
Trời cùng người thế gian
Nay Ta là tối thượng.
Ta cũng không thầy dạy,
Cũng không ai bì kịp;
Độc tôn, không ai hơn;
Mát lạnh, không còn nóng.
Ta đang chuyển pháp luân,
Đi đến nước Ca-thi.
Nay đem thuốc cam lồ
Mở mắt người mù kia.
Đất nước Ba-la-nại,
Vương thổ nước Ca-thi,
Trú xứ năm tỳ-kheo;
Ta sẽ thuyết diệu pháp,
Khiến họ sớm thành đạo,
Và được lậu tận thông,
Để trừ nguồn pháp ác.
Cho nên, Ta tối thắng.
Khi đó phạm chí kia than, lắc đầu, khoanh tay, búng ngón tay, mỉm cười, rồi nhắm theo đường mà đi.
Khi Thế Tôn đến Ba-la-nại, năm tỳ-kheo từ xa thấy Thế Tôn đến. Thấy vậy, họ bảo nhau: “Đó là Sa-môn Cù-đàm, đang từ xa đến. Tánh tình đã tán loạn, tâm không chuyên tinh. Chúng ta đừng nói chuyện, cũng đừng đón tiếp, cũng đừng mời ngồi.” Rồi năm người nói kệ này:
Người này không đáng kính,
Đừng gần gũi ân cần,
Cũng đừng có chào mừng
Và cũng đừng mời ngồi.
Năm tỳ-kheo kia nói kệ rồi, cùng im lặng. Bấy giờ đức Thế Tôn đến chỗ năm tỳ-kheo, càng lúc càng gần, năm tỳ-kheo kia cũng từ từ đứng dậy nghinh tiếp. Người thì trải chỗ ngồi. Người thì lấy nước. Thế Tôn liền ngồi trước mặt họ, tư duy như vầy: “Những con người ngu si, cuối cùng không thể giữ trọn giao ước của mình.”
Bấy giờ năm tỳ-kheo gọi đức Thế Tôn bằng ‘bạn.’ Thế Tôn bảo năm tỳ-kheo:
“Các ngươi chớ gọi bậc Vô thượng, Chí chân, Đẳng chánh giác là bạn Vì sao vậy? Nay Ta đã thành Vô thượng, Chí chân, Đẳng chánh giác, đã được thiện cam lồ. Các ngươi hãy chú tâm nghe pháp ngữ của Ta.”
Bấy giờ năm tỳ-kheo kia nói với Thế Tôn:
“Cù-đàm, xưa tu khổ hạnh còn không thể được pháp thượng nhân, huống chi hôm nay ý tình tán loạn mà nói đắc đạo ư?”
Thế Tôn bảo:
“Thế nào, năm người, các ngươi đã từng nghe Ta vọng ngữ chưa?”
Năm tỳ-kheo đáp:
“Chưa, Cù-đàm!”
Thế Tôn bảo:
“Như Lai, Đẳng chánh giác, đã có được cam lồ. Các ngươi hãy chú tâm nghe ta thuyết pháp.”
Khi đó đức Thế Tôn lại nghĩ thầm: “Nay Ta có thể hàng phục năm người này.” Rồi Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Này năm tỳ-kheo, các ngươi nên biết, có bốn chân lý này. Những gì là bốn? Đó là khổ đế, khổ tập đế, khổ tận đế, khổ xuất yếu đế.
“Thế nào là khổ đế? Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ưu bi não khổ, sầu ưu khổ, không thể kể hết. Oán ghét gặp nhau khổ, ân ái chia lìa khổ, không được những điều ham muốn cũng lại là khổ. Nói tóm, năm thủ uẩn là khổ. Đó gọi là khổ đế.
“Thế nào là khổ tập đế? Ái đưa đến tái sanh, tập hành không mệt mỏi, ý thường tham đắm. Đó gọi là khổ tập đế.
“Thế nào là khổ tận đế? Ái kia diệt tận không dư tàn, cũng không tái sanh khởi. Đó gọi là khổ tận đế.
“Thế nào là khổ xuất yếu đế? Đó là tám phẩm đạo của Hiền Thánh, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
“Đó gọi là pháp tứ đế.
“Lại nữa, này năm Tỳ-kheo, pháp bốn thánh đế này, khổ đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ. Đó là pháp trước kia chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều đượcThế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ đế.
“Khổ tập đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ; là pháp trước đây chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ tập đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều được Thế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ tập đế.
“Khổ tận đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ; là pháp trước đây chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ tận đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều đượcThế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ tận đế.
“Khổ xuất yếu đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ; là pháp trước đây chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ xuất yếu đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều đượcThế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ xuất yếu đế.
“Năm tỳ-kheo nên biết, bốn đế này được ba lần chuyển với mười hai hành. Ai không biết như thật, không thành Vô thượng Chánh chân, Đẳng chánh giác. Ta vì đã phân biệt bốn đế này, ba lần chuyển với mười hai hành, biết nó như thật, cho nên thành Vô thượng Chí chân, Đẳng chánh giác.”
Sau khi nghe thuyết pháp này, A-nhã Câu-lân dứt sạch trần cấu, được mắt pháp trong sạch. Lúc đó đức Thế Tôn bảo A-nhã Câu-lân:
“Nay Ông đã đến với pháp, đã đắc pháp.”
Câu-lân đáp:
“Thưa vâng, Thế Tôn! Con đã đến với pháp, đã đắc pháp.”
Địa thần sau khi nghe nghe những lời như vậy, liền xướng rằng:
“Nay Như Lai tại nước Ba-la-nại đã chuyển pháp luân mà chư Thiên, người đời, Ma và Ma thiên, người cùng phi nhân, đều không chuyển được. Hôm nay Như Lai chuyển pháp luân này, A-nhã Câu-lân đã được pháp cam lồ.”
Khi đó, Tứ Thiên vương nghe địa thần xướng, lại chuyển lời tiếp xướng rằng:
“A-nhã Câu-lân đã đắc pháp vị cam lồ.”
Rồi trời Tam thập tam lại nghe từ Tứ Thiên vương. Diễm Thiên nghe từ Trời Tam thập tam, cho đến Đâu-suất thiên, lần lượt nghe tiếng, và cho đến Phạm thiên cũng nghe tiếng: “Như Lai tại nước Ba-la-nại đã chuyển pháp luân mà chư Thiên, người đời, Ma và Ma thiên, người cùng phi nhân, đều không chuyển được. Nay Như Lai chuyển pháp luân này.” Bấy giờ liền có tên gọi là A-nhã Câu-lân.
Rồi Thế Tôn bảo năm tỳ-kheo:
“Các ngươi, hai người ở lại để được chỉ dạy; ba người đi khất thực. Ba người khất thực được rồi thì sáu người sẽ cùng ăn. Ba người ở lại để được chỉ dạy, hai người đi khất thực. Hai người khất thực được rồi thì sáu người cùng ăn.”
Bấy giờ, bằng sự giáo huấn này mà trở thành pháp vô sanh Niết-bàn, cũng thành không sanh, không bệnh, không già, không chết. Lúc đó cả thảy năm tỳ-kheo đều thành A-la-hán. Bấy giờ, ba ngàn đại thiên sát độ có năm vị A-la-hán, với Phật là sáu.
Rồi Thế Tôn bảo năm tỳ-kheo:
“Tất cả các ngươi cùng nhau đi khất thực trong nhân gian. Cẩn thận đừng đi một mình. Còn những chúng sanh mà các căn thuần thục, những người đáng được độ. Nay Ta sẽ đến thôn Ưu-lưu-tì, thuyết pháp tại đó.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến thôn xóm Ưu-lưu-tì. Khi đó bên dòng sông Liên-nhã có Ca-diếp đang sinh sống tại đó. Ông biết thiên văn, địa lý; không gì không thông suốt. Toán số cây lá tất cả đều biết rõ. Ông dẫn năm trăm đệ tử thường ngày đi giáo hóa. Cách Ca-diếp không xa có thạch thất. Ở trong thạch thất, có rồng độc đang sống tại đó.
Thế Tôn đến chỗ Ca-diếp, nói với Ca-diếp:
“Tôi muốn ngủ nhờ trong thạch thất một đêm. Nếu ông đồng ý, tôi sẽ đến ở.”
Ca-diếp đáp rằng:
“Tôi không tiếc gì. Nhưng ở đó có một con rồng độc, sợ nó sẽ làm tổn hại đến ông.”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp, đừng lo, rồng không hại Ta! Chỉ cần đồng ý, Ta ở đó một đêm.”
Ca-diếp đáp:
“Nếu ông muốn ở, tùy ý đến ở.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền vào thạch thất, trải chỗ nằm mà nghỉ, kiết già phu tọa, chánh thân, chánh ý, buộc niệm tại tiền. Lúc đó, rồng độc thấy Thế Tôn ngồi; nó liền phun lửa độc. Thế Tôn nhập từ tam-muội, xuất từ tam-muội, nhập diệm quang tam-muội.
Bấy giờ lửa của rồng và ánh sáng Phật cùng lúc phát sáng. Đêm đó Ca-diếp dậy quan sát tinh tú, thấy trong thạch thất có ánh sáng và lửa lớn. Thấy vậy, ông bảo các đệ tử:
“Sa-môn Cù-đàm này dung mạo xinh đẹp, nay bị con rồng này hại. Thật đáng thương tiếc. Trước đây, ta cũng đã có lời này, ở đó có rồng ác không thể nghỉ đêm!”
Lúc đó Ca-diếp bảo năm trăm đệ tử:
“Các người cầm bình nước và mang thang cao đến chữa lửa, để Sa-môn kia được thoát khỏi nạn này.”
Bấy giờ, Ca-diếp dẫn năm trăm đệ tử đến thạch thất để chữa lửa này. Người thì cầm nước rưới, người thì bắc thang. Nhưng không thể dập tắt được lửa, đều là do oai thần của Như Lai tạo nên.
Bấy giờ, Thế Tôn nhập từ tam-muội dần dần khiến cho con rồng kia không còn sân hận nữa. Lúc này tâm rồng ác kia tỏ ra sợ sệt, chạy qua chạy lại muốn thoát ra khỏi thạch thất, nhưng không ra khỏi thạch thất được. Khi đó con rồng ác kia, hướng đến Như Lai, chui vào bát Thế Tôn ở. Khi đó, Thế Tôn dùng tay phải xoa mình rồng ác, rồi nói kệ này:
Rồng xuất thế khó có.
Rồng với rồng gặp nhau.
Rồng chớ nổi tâm hại.
Rồng xuất thế, hó có..
Quá khứ hằng sa số,
Chư Phật bát-niết-bàn;
Mà ngươi chưa hề gặp
Đều do lửa sân hận.
Tâm thiện hướng Như Lai,
Mau bỏ độc sân này.
Đã trừ độc sân nhuế,
Liền được sanh lên Trời.
Bấy giờ, con rồng dữ kia thè lưỡi liếm tay Như Lai và nhìn kỹ mặt Như Lai. Sáng hôm sau, Thế Tôn mang rồng dữ đó đến gặp Ca-diếp và nói với Ca-diếp:
“Đây là con rồng dữ, thật hung bạo. Nay nó đã bị hàng phục.”
Khi Ca-diếp thấy được rồng dữ, trong lòng hoảng sợ, bạch Thế Tôn:
“Thôi, thôi, Sa-môn! Đừng bước tới, rồng sẽ gây hại!”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp, đừng sợ! Nay Ta đã hàng phục nó rồi, sau này sẽ không gây hại nữa. Vì sao vậy? Vì rồng này đã được giáo hóa rồi.”
Bấy giờ, Ca-diếp cùng năm trăm đệ tử khen ngợi:
“Việc chưa từng có! Thật là kỳ diệu! Sa-môn Cù-đàm này oai thần thật lớn, có thể hàng phục con rồng dữ này, khiến không nó làm ác. Tuy vậy, vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Bấy giờ Ca-diếp bạch Phật:
“Đại Sa-môn, hãy nhận lời thỉnh cầu chín mươi ngày của tôi. Những thứ cần dùng như y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, tôi sẽ cung cấp hết thảy.”
Thế Tôn im lặng nhận lời thỉnh cầu của Ca-diếp. Thế Tôn đem rồng thần này thả vào trong biển lớn. Rồng dữ kia tùy theo mạng sống dài ngắn, sau khi mạng chung sanh lên trời Tứ Thiên vương. Sau đó Như Lai trở về nghỉ tại thạch thất. Ca-diếp sắp đặt nhiều đồ ăn uống xong, đến bạch Thế Tôn:
“Đồ ăn thức uống đã chuẩn bị xong, xin mời đến thọ thực.”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp về trước. Tôi sẽ đi ngay vậy.”
Sau khi Ca-diếp đi khỏi, Phật liền đến trên cõi Diêm-phù-đề, bên dưới cây diêm-phù, nhặt quả diêm-phù rồi, trở về trước, ngồi trong thạch thất Ca-diếp.
Khi Ca-diếp về đã thấy Thế Tôn ở trong thạch thất, liền bạch Thế Tôn:
“Sa-môn từ đường nào đến thạch thất?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Sau khi Ông đi, tôi đến phía trên cõi Diêm-phù-đề, bên dưới cây diêm-phù, nhặt quả diêm-phù rồi trở về ngồi đây. Ca-diếp nên biết, quả này rất thơm ngon, hãy cầm lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần cái này. Sa-môn tự lấy ăn.”
Bấy giờ Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Sa-môn này có thần túc siêu việt, có oai lực lớn, mới có thể đến phía trên cõi Diêm-phù nhặt trái ngon này. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Sau khi Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Sáng sớm Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
“Đã đến giờ ăn, mời đến thọ thực.”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Ca-diếp vừa đi khỏi, Phật liền đến phía trên cõi Diêm-phù, nhặt trái a-ma-lặc rồi trở về trước, ngồi trong thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Thế Tôn:
“Sa-môn từ đường nào đến chốn nầy?”
Phật trả bảo:
“Sau khi Ông đi, tôi đến trên cõi Diêm-phù, nhặt trái này lại, nó rất là thơm ngon, nếu cần thì lấy ăn!”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy ăn.”
Khi đó Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này rất có thần lực, có oai thần lớn. sau khi ta đi, đi lấy quả này về. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Sau khi Thế Tôn ăn xong liền trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn mà nói rằng:
“Đã đến giờ cơm, xin mời đến thọ thực.”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Sau khi Ca-diếp đi, Thế Tôn đến Bắc Uất-đan-viết lấy lúa tẻ chín tự nhiên, rồi trở về trước thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Sa-môn từ đường nào đến ngồi đây?”
Thế Tôn bảo:
“Sau khi ông đi, tôi đến Uất-đan-viết gặt lấy lúa chín muộn tự nhiên rất là thơm ngon. Ca-diếp cần thì lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này có thần lực lớn, có oai thần lớn. Tuy nhiên vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Sau khi, Thế Tôn ăn xong thì về chỗ kia nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn nói:
“Đã đến giờ cơm, xin mời đến thọ thực.”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Sau khi Ca-diếp đi, Thế Tôn đến Cù-da-ni nhặt quả a-lê-lặc, về trước vào thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Sa-môn từ đường nào đến ngồi đây?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Sau khi Ông đi, tôi đến Cù-da-ni nhặt quả này lại rất thơm ngon. Ca-diếp cần thì lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp rằng:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này có thần lực lớn, có oai thần lớn. Tuy nhiên vẫn không bằng ta đắc chơn đạo.”
Sau khi, Thế Tôn ăn xong thì về chỗ kia nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn bạch:
“Đã đến giờ cơm, xin mời đến thọ thực!”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Sau khi Ca-diếp đi, Thế Tôn đến Phất-vu-đãi nhặt trái tì-hê-lặc rồi, về trước ngồi trong thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Sa-môn từ đường nào đến ngồi đây?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Sau khi ông đi, tôi đến Phất-vu-đãi nhặt quả này rất thơm ngon. Ca-diếp cần thì lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này có thần lực lớn, có oai thần lớn. Tuy nhiên vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Thế Tôn ăn xong trở về chỗ kia nghỉ ngơi.
Lúc bấy gời Ca-diếp đang chuẩn bị đại tế đàn. Năm trăm đệ tử cầm búa bửa củi. Tay nhấc búa lên nhưng búa không xuống. Lúc đó, Ca-diếp nghĩ thầm như vầy: “Đây chắc Sa-môn làm.” Khi đó Ca-diếp hỏi Thế Tôn:
“Nay muốn bửa củi, vì sao búa không hạ xuống được?”
Thế Tôn bảo:
“Muốn cho búa hạ xuống được phải không?”
Đáp:
“Muốn hạ xuống.”
Búa liền hạ xuống. Lúc búa kia đã hạ xuống, lại không nhấc lên được. Ca-diếp lại bạch Phật:
“Búa sao không nhấc lên được?”
Thế Tôn bảo:
“Muốn cho búa lên chăng?”
Đáp:
“Muốn nhấc lên.”
Búa liền nhấc lên.
Bấy giờ, đệ tử của Ca-diếp muốn nhen lửa, nhưng nhen không cháy. Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Đây chắc Sa-môn Cù-đàm gây ra.”
Ca-diếp bạch Phật:
“Vì sao nhen lửa không cháy?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Muốn lửa cháy phải không?”
Đáp:
“Muốn cho cháy.”
Lửa liền cháy. Sau đó muốn dập tắt, lửa lại không tắct. Ca-diếp bạch Phật:
“Sao lửa dập không tắt?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Muốn cho lửa tắt phải không?”
Đáp:
“Muốn cho tắt.”
Lửa liền tắt ngay. Ca-diếp liền nghĩ thầm như vầy: “Sa-môn Cù-đàm này diện mạo đoan chánh, hiếm có trong đời. Ngày mai ta có tế lễ lớn. Quốc vương, nhân dân tất cả đều tụ tập. Nếu họ thấy Sa-môn này, ta sẽ không còn được cúng dường. Sa-môn này ngày mai không đến sẽ là đại phúc.”
Thế Tôn biết những suy nghĩ trong lòng Ca-diếp. Sáng hôm sau, Phật đến Uất-đan-viết, lấy lúa chín muôn tự nhiên; đến Cù-da-ni lấy sữa; rồi đến ao A-nậu-đạt mà dùng. Trọn ngày ở chỗ đó, chiều tối về thạch thất nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn hỏi:
“Sa-môn, hôm qua sao không đến?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Hôm qua ông đã nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm này diện mạo đoan chánh, hiếm có trong đời. Ngày mai ta có tế lễ lớn. Nếu quốc vương, nhân dân thấy được Sa-môn này, sẽ cắt đứt cúng dường cho ta. Nếu ông ta không đến sẽ là đại phúc.’ Tôi biết được những suy nghĩ trong lòng của ông, mới đến Uất-đan-viết gặt lấy lúa chín muôn tự nhiên, đến Cù-da-ni lấy sữa; rồi đến bên ao A-nậu-đạt mà ăn. Trọn ngày ở chỗ đó, chiều tối về thạch thất nghỉ ngơi.”
Khi ấy Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Đại Sa-môn này, có thần túc lớn, có thật oai thần. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về thạch thất nghỉ ngơi. Ngay đêm đó, Tứ Thiên vương đến chỗ Thế Tôn nghe kinh pháp. Tứ Thiên vương cũng có ánh sáng, Phật cũng phóng ánh sáng lớn, chiếu cả sơn động hoang dã kia tỏa sáng một màu. Đêm hôm đó Ca-diếp thấy được ánh sáng. Sáng hôm sau đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
“Đêm qua, ánh sáng gì chiếu sáng núi non hoang dã này?”
Thế Tôn bảo:
“Đêm qua Tứ Thiên vương đến chỗ tôi nghe Pháp. Đó là ánh sáng của Tứ Thiên Vương kia.”
Lúc đó Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này rất có thần lực, mới khiến cho Tứ Thiên vương đến nghe kinh pháp. Tuy nhiên, thần lực này vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Nửa đêm, Thích Đề-hoàn Nhân đến chỗ Thế Tôn nghe pháp. Ánh sáng của Thiên Đế lại chiếu sáng núi đó. Ca-diếp kia đêm dậy ngắm sao, thấy ánh sáng này. Sáng hôm sau, Ca-diếp tới chỗ Thế Tôn, hỏi:
“Cù-đàm, đêm qua có ánh sáng thật là đặc biệt. Vì sao có ánh sáng như vậy?”
Thế Tôn bảo:
“Đêm qua, Thiên đế Thích đến đây nghe kinh. Cho nên có ánh sáng như vậy.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn Cù-đàm này thật có thần lực, có oai thần lớn, mới có thể khiến cho Thiên Đế Thích đến nghe kinh pháp. Tuy vậy vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Nửa đêm Phạm Thiên vương phóng ánh sáng lớn chiếu xuống núi này, đến chỗ Thế Tôn nghe kinh pháp. Đêm đó Ca-diếp thức dậy, thấy ánh sáng. Sáng hôm sau đến chỗ Thế Tôn, hỏi:
“Đêm qua, ánh sáng chiếu sáng hơn ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Có những nhân duyên gì mà có thứ ánh sáng này?”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp nên biết, đêm qua, Đại Phạm Thiên vương đến chỗ Ta nghe kinh pháp.”
Lúc đó Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Sa-môn Cù-đàm này rất có thần lực, mới khiến Tổ phụ của ta đến chỗ Sa-môn này mà nghe kinh pháp. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Bấy giờ, Thế Tôn được y năm mảnh cũ rách, muốn giặt dũ, nghĩ thầm: “Ta sẽ giặt y này ở chỗ nào?”
Lúc đó, Thích Đề-hoàn Nhân biết được trong lòng Thế Tôn nghĩ gì, liền biến ra một hồ tắm, rồi bạch Thế Tôn: ‘Xin hãy đến đây giặt y.’
Thế Tôn lại nghĩ thầm: “Ta phải đứng chỗ nào để đạp giặt y này?”
Lúc đó, Tứ Thiên vương biết được trong lòng Thế Tôn nghĩ gì, liền nhấc một tảng đá vuông lớn đặt mé nước, rồi bạch Thế Tôn: “Xin hãy đứng chỗ này mà đạp y.”
Thế Tôn lại nghĩ: “Ta phơi y này ở chỗ nào?”
Lúc đó, Thần cây biết được trong lòng Thế Tôn nghĩ gì, liền làm oằn nhánh cây xuống, rồi bạch Thế Tôn: “Cúi xin Thế Tôn phơi y chỗ này.”
Sáng hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
“Chỗ này trước đây không có ao, nay có ao này? Trước không có cây, nay có cây này? Trước không có đá, nay có tảng đá này. Nguyên nhân gì mà có sự thay đổi này?”
Thế Tôn bảo:
“Đây là hôm qua Thiên đế Thích biết tôi muốn giặt y cho nên làm hồ tắm này. Tôi lại nghĩ: ‘Đứng chỗ nào để đạp giặt y này?’ Tứ Thiên vương biết tôi đang nghĩ gì, liền mang đá này đến. Tôi lại nghĩ: ‘Phơi y này ở chỗ nào?’ Thần cây biết tôi đang nghĩ gì, liền oằn nhánh cây này vậy.”
Lúc đó, Ca-diếp nghĩ như vầy: “Sa-môn Cù-đàm này tuy có thần lực những vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Nửa đêm, có nhiều mây đen nổi lên, rồi đổ mưa lớn. Sông lớn Liên-nhã bị nước lũ ngập tràn.
Lúc đó, Ca-diếp nghĩ thầm: “Nước lũ tràn sông này, Sa-môn nhất định sẽ bị nước cuốn trôi. Nay ta ra xem thử.”
Ca-diếp cùng năm trăm đệ tử đi ra bờ sông. Bấy giờ Thế Tôn đang đi trên nước, chân không bị dính nước. Khi đó Ca-diếp từ xa thấy Thế Tôn đi trên mặt nước. Ca-diếp thấy vậy, liền nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Sa-môn Cù-đàm lại có thể đi trên mặt nước. Ta cũng có thể đi trên mặt nước, nhưng không thể khiến cho chân không dính nước mà thôi. Sa-môn này tuy thật có thần lực. Nhưng vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Khi đó Thế Tôn bảo Ca-diếp:
“Ông không phải là A-la-hán, cũng không biết đạo A-la-hán. Ông còn chưa biết tên A-la-hán, huống chi là đắc đạo sao? Ông là người mù. Mắt không trông thấy gì hết. Như Lai đã biến hóa ngần ấy sự, mà ông vẫn cứ nói ‘Không bằng ta đắc đạo chân.’ Ông vừa nói rằng: ‘Ta có thể đi trên mặt nước.’ Bây giờ là lúc thích hợp. Có thể cùng đi trên mặt nước chăng? Ông nay hãy bỏ tâm tà kiến, đừng để phải chịu khổ não lâu dài như vậy.”
Khi Ca-diếp nghe Thế Tôn nói như vậy, liền đến trước, mặt đảnh lễ sát chân: “Con xin hối lỗi, biết rõ sai trái xúc phạm Như Lai. Cúi xin nhận sự sám hối này.” Như vậy ba lần.
Thế Tôn bảo:
“Chấp nhận sự hối lỗi của ông, đã biết tội quấy nhiễu Như Lai.”
Lúc đó, Ca-diếp bảo năm trăm đệ tử:
“Các ngươi, mỗi người hãy làm theo những gì mình thích. Ta nay tự quy y Sa-môn Cù-đàm.”
Khi ấy năm trăm đệ tử bạch Ca-diếp:
“Chúng con trước đây, lúc hàng phục rồng cũng có ý muốn quy Sa-môn Cù-đàm. Nếu thầy tự quy y Cù-đàm thì năm trăm đệ tử chúng con thảy đều tự quy y với Cù-đàm.”
Ca-diếp nói:
“Nay thật là thích hợp. Nhưng tâm ta lại chấp vào sự ngu si này, thấy ngần ấy sự biến hóa mà tâm ý vần còn không tỏ, vẫn tự xưng ta được đạo chân chánh.”
Rồi Ca-diếp cùng với năm trăm đệ tử vây quanh trước sau đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn cho phép chúng con được làm Sa-môn, tu hạnh thanh tịnh.”
Theo pháp thường của chư Phật, nếu Phật nói ‘Thiện lai, Tỳ-kheo!’ Người ấy liền thành Sa-môn.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Ca-diếp:
“Thiện lại, Tỳ-kheo! Pháp này vi diệu. Hãy khéo tu phạm hạnh.”
Ngay khi ấy, y phục đang mặc của Ca-diếp và năm trăm đệ tử thảy đều biến thành cà-sa, tóc trên đầu tự rụng, giống như cạo tóc được bảy ngày. Rồi những dụng cụ học thuật và liên hệ đến chú thuật của Ca-diếp đều được ném xuống sông. Sau đó, năm trăm đệ tử bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn cho chúng con được làm Sa-môn!”
Thế Tôn bảo:
“Thiện lai, Tỳ-kheo!”
Tức thì, năm trăm đệ tử liền thành Sa-môn, thân mặc cà-sa, tóc trên đầu tự rụng.
Lúc bấy giờ, thuận dòng nước về hạ lưu có phạm-chí tên là Giang Ca-diếp sống ở bên sông. Khi Giang Ca-diếp thấy những dụng cụ chú thuật bị nước cuốn trôi, bèn nghĩ: ‘Ối! Đại huynh của ta bị nước nhận chìm rồi!’
Giang Ca-diếp liền dẫn ba trăm đệ tử theo dòng sông lên thượng lưu, tìm thi hài của đại huynh. Từ xa, thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, thuyết pháp cho Đại Ca-diếp và năm trăm đệ tử, trước sau vây quanh. Thấy vậy, ông đến trước Ca-diếp mà nói: “Việc này há tốt đẹp sao? Trước kia làm thầy người. Nay làm đệ tử. Vì sao đại huynh làm đệ tử của Sa-môn?’
Ca-diếp đáp:
“Nơi này tuyệt diệu. Không nơi nào hơn.”
Lúc đó Ưu-tỳ Ca-diếp quay sang Giang Ca-diếp mà nói kệ này:
Thầy này trời người quý;
Nay ta thờ làm Thầy.
Chư Phật hiện thế gian,
Gặp được thật là khó.
Lúc đó Giang Ca-diếp nghe danh hiệu Phật, lòng rất vui mừng hớn hở khôn xiết, đến trước bạch Thế Tôn:
“Xin cho phép tu đạo!”
Thế Tôn bảo:
“Thiện lai, tỳ-kheo! Hãy khéo tu phạm hạnh để diệt tận khổ.”
Khi đó Giang Ca-diếp cùng ba trăm đệ tử liền thành Sa-môn, thân mặc cà-sa, tóc trên đầu tự rụng. Rồi Giang Ca-diếp cùng ba trăm đệ tử ném hết dụng cụ chú thuật xuống nước.
Bấy giờ thuận theo dòng nước cuối sông, có phạm-chí tên là Già-di Ca-diếp sống ở bên sông. Từ xa, trông thấy dụng cụ chú thuật bị nước cuốn trôi, liền nghĩ: “Ta có hai người anh học đạo ở trên đó. Nay dụng cụ chú thuật bị nước cuốn hết. Hai đại Ca-diếp chắc bị nước hại.” Nghĩ rồi, liền dẫn hai trăm đệ tử theo sông lên thượng lưu, đến chỗ học thuật. Từ xa thấy hai anh đang làm sa-môn, liền nói: “Nơi này tốt đẹp chăng? Xưa là bực tôn kính của người, nay làm đệ tử Sa-môn!”
Ca-diếp đáp:
“Nơi này rất tốt đẹp. Không nơi nào hơn.”
Già-di Ca-diếp suy nghĩ: “Hai anh của ta biết nhiều, học rộng. Nơi này chắc là mảnh đất tốt, mới khiến cho hai anh của ta vào học đạo. Nay ta cũng nên xin vào học đạo.”
Già-di Ca-diếp bèn đến trước, bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn cho phép con làm Sa-môn.”
Thế Tôn bảo:
“Thiện lai, tỳ-kheo! Hãy khéo tu phạm hạnh để diệt tận khổ.”
Già-di Ca-diếp tức thì trở thành Sa-môn, thân mặc cà-sa, tóc trên đầu tự rụng giống như cạo đầu được bảy ngày.
Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ở dưới cây ni-câu-loại bên sông kia, sau khi thành Phật chưa bao lâu, đã có một ngàn đệ tử, đều là các bậc bậc kỳ túc trưởng lão.
Lúc đó, Thế Tôn giáo hóa bằng ba sự. Thế nào là ba? Đó là thần túc giáo hóa, ngôn giáo giáo hóa, huấn hối giáo hóa.
“Sao gọi là thần túc giáo hóa? Bấy giờ Thế Tôn hoặc biến ra nhiều hình rồi hợp lại một, hoặc hiện hoặc ẩn. Đi qua vách đá mà không gì chướng ngại. Hoặc ra khỏi mặt đất, hoặc nhập vào đất giống như xuống nước mà không bị trở ngại. Hoặc ngồi kiết-già đầy khắp giữa hư không như chim bay trên không chẳng bị ngăn cản. Cũng như núi lửa lớn, phun khói vô lượng. Như mặt trời mặt trăng kia có đại thần lực, có thần lực lớn không thể hạn lượng, mà có thể dùng tay với đến. Thân cao cho đến Phạm thiên. Thế Tôn hiện thần túc như vậy.
“Sao gọi là ngôn giáo giáo hóa? Bấy giờ Thế Tôn dạy các tỳ-kheo nên xả điều này, nên giữ điều này; nên gần điều này, nên xa điều này; nên nhớ điều này, nên trừ điều này; nên quán điều này, nên không quán điều này.
“Sao gọi là nên tu điều này, không tu điều này? Hãy tu bảy giác chi, diệt ba kết. Sao là nên quán, không nên quán? Hãy quán ba kết, và ba thiện của sa-môn, đó là lạc do xuất yếu, lạc do không nhuế, lạc do không nộ. Sao gọi là không quán? Đó là ba khổ của sa-môn. Những gì là ba? Dục quán, nhuế quán, nộ quán. Sao gọi là niệm, sao gọi là không niệm? Bấy giờ, nên niệm khổ đế, nên niệm tập đế, nên niệm tận đế, nên niệm đạo đế; chớ niệm tà đế, thường kiến, vô thường kiến; biên kiến, vô biên kiến; mạng khác thân khác; chẳng phải mạng chẳng phải thân; Như Lai mạng chung, Như Lai không mạng chung, vừa hữu chung vừa vô chung; cũng chẳng hữu chung cũng chẳng vô chung. Đừng niệm như vậy.
“Sao gọi là huấn hối giáo hóa? Lại nữa, hãy đi như vầy, không nên đi như vầy; nên đến như vậy, không nên đến như vậy; nên im lặng như vậy, nên nói năng như vậy; phải thọ trì y như vậy, không được thọ trì y như vầy; nên vào thôn như vầy, không nên vào thôn như vầy. Đây gọi là huấn hối giáo giới.”
Lúc đức Thế Tôn bằng ba sự này giáo hóa một ngàn tỳ-kheo, những tỳ-kheo đó nhận được sự giáo hóa của Phật xong, trở thành một ngàn A-la-hán.
Khi ấy Thế Tôn thấy một ngàn tỳ-kheo đã đắc A-la-hán. Bấy giờ cõi Diêm-phù-đề có một ngàn A-la-hán cùng năm tỳ-kheo và Phật là sáu, Ngài quay ngồi hướng về Ca-tỳ-la-vệ.
Lúc đó, Ưu-tỳ Ca-diếp suy nghĩ như vầy: “Vì sao Thế Tôn ngồi quay lại hướng về Ca-tỳ-la-vệ?” Rồi Ưu-tỳ Ca-diếp liền đến trước, quỳ thẳng bạch Thế Tôn:
“Chẳng hiểu tại sao Như Lai ngồi quay hướng về Ca-tỳ-la-vệ?”
Thế Tôn bảo:
“Như Lai ở đời cần làm năm việc. Sao gọi là năm? Một là chuyển pháp luân; hai là thuyết pháp cho cha; ba là thuyết pháp cho mẹ; bốn là dẫn dắt phàm phu lập hạnh Bồ-tát; năm là thọ ký riêng cho Bồ-tát. Này Ca-diếp, đó gọi là Như Lai xuất hiện ở đời cần làm năm việc như vậy.”
Ưu-tỳ Ca-diếp bèn nghĩ: “Như Lai vì nhớ thân tộc xứ sở nên quay hướng đó ngồi vậy.”
Khi đó năm tỳ-kheo lần hồi đi đến bờ sông Ni-liên.Đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Lúc đó Tôn giả Ưu-đà-da xa thấy Thế Tôn ngồi hướng về Ca-tỳ-la-vệ. Thấy vậy liền nghĩ rằng: “Nhất định Thế Tôn muốn trở về Ca-tỳ-la-vệ để thăm thân quyến.” Ưu-đà-da liền tới trước quỳ thẳng bạch Thế Tôn:
“Nay con kham nhậm có điều muốn hỏi, xin được giải bày.”
Thế Tôn bảo:
“Muốn hỏi gì thì cứ hỏi.”
Ưu-đà-da bạch Thế Tôn:
“Xem ý Như Lai muốn trở về Ca-tỳ-la-vệ?”
“Thật vậy, như lời ông nói. Ưu-đà-da, nên biết, ông hãy tới chỗ Bạch Tịnh Vương trước. Ta sẽ đến sau. Vì sao vậy? Vì phải báo cho chủng tộc sát-lợi biết tin trước, rồi sau Như Lai mới tới. Ngươi đến bẩm với Vua rằng, bảy ngày sau Như Lai sẽ về thăm Vua.”
Ưu-đà-da đáp:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”
Bấy giờ Ưu-đà-da từ chỗ ngồi đứng dậy sửa lại y phục lễ sát chân Thế Tôn, rồi biến mất khỏi Thế Tôn, hiện đến Ca-tỳ-la-vệ, tới chỗ của Chân Tịnh vương, đến rồi đứng ở phía trước vua.
Khi Chân Tịnh vương đang ở trên đại điện, ngồi cùng với các thể nữ, lúc ấy Ưu-đà-da đang bay ở trên không. Rồi Chân Tịnh vương thấy Ưu-đà-da tay mang bình bát, cầm trượng, đang đứng trước mặt. Thấy vậy, trong lòng lo sợ mà nói rằng:
“Đây là người nào? Là người, hay phi nhân; trời, hay quỷ, dạ-xoa, la-sát, thiên long, quỷ thần?”
Lúc đó Chân Tịnh vương hỏi Ưu-đà-da:
“Ngươi là người nào?”
Lại nói với Ưu-đà-da bằng bài kệ này:
Là trời, hay là quỷ,
Hay càn-thát-bà chăng?
Ông nay tên là gì?
Hiện tại ta muốn biết.
Lúc bấy giờ Ưu-đà-da lại dùng kệ này đáp vua:
Tôi cũng chẳng là trời,
Chẳng phải càn-thát-bà.
Ở nước Ca-tỳ này,
Người đất nước Đại vương.
Xưa phá mười tám ức
Quân Ba-tuần xấu ác:
Thích-ca Văn, Thầy tôi.
Tôi đệ tử của Ngài.
Chân Tịnh Vương lại dùng kệ này hỏi Ưu-đà-da:
Ai phá mười tám ức
Quân Ba-tuần xấu ác?
Thích-ca Văn là ai
Nay Ông lại ca ngợi?
Ưu-đà-da lại nói kệ này:
Lúc Như Lai mới sanh
Trời đất rung động khắp.
Thệ nguyện quyết làm xong,
Nên gọi hiệu Tất-đạt.
Người thắng mười tám ức
Quân Ba-tuần xấu ác,
Người tên Thích-ca Văn.
Ngày nay thành Phật đạo.
Người kia con họ Thích,
Đệ tử thứ Cù-đàm;
Hôm nay làm Sa-môn,
Vốn tên Ưu-đà-da.
Chân Tịnh vương nghe những lời này rồi, trong lòng lvui mừng không thể tự kiềm được, hỏi Ưu-đà-da rằng:
“Thế nào Ưu-đà-da, Thái tử Tất-đạt nay vẫn còn sống sao?”
Ưu-đà-da đáp:
“Thích-ca Văn Phật nay đang hiện tại.”
Vua hỏi:
“Nay đã thành Phật rồi sao?”
Ưu-đà-da đáp:
“Nay đã thành Phật.”
Vua lại hỏi:
“Hôm nay Như Lai đang ở đâu?”
Ưu-đà-da đáp rằng:
“Như Lai hiện đang ở dưới cây ni-câu-loại tại nước Ma-kiệt.”
Rồi vua lại hỏi:
“Những người đệ tử theo hầu là những ai?”
Ưu-đà-da đáp:
“Hàng ức chư Thiên cùng một ngàn tỳ-kheo và Tứ Thiên Vương thường ở hai bên.”
Lúc đó vua hỏi:
“Mặc những loại y phục như nào?”
Ưu-đà-da đáp:
“Y Như Lai mặc được gọi là ca-sa.”
Rồi vua hỏi:
“Ăn những loại thức ăn nào?”
Ưu-đà-da đáp:
“Thân Như Lai dùng pháp làm thức ăn.”
Vua lại hỏi:
“Thế nào Ưu-đà-da, có thể gặp Như Lai được không?”
Ưu-đà-da đáp:
“Vua đừng sầu lo, sau bảy ngày Như Lai sẽ vào thành.”
Bấy giờ Vua rất vui mừng không kiềm chế được, tự tay rót nước cúng dường Ưu-đà-da. Rồi Chân Tịnh Vương đánh trống lớn, lệnh cho nhân dân cả nước sửa bằng đường lộ, dọn dẹp sạch sẽ, rưới dầu thơm trên đất, treo lụa tràng phan, bảo cái, trổi các kỷ nhạc không thể tính kể. Lại ra lệnh trong nước những người đui, điếc, ngọng, câm đều không được xuất hiện, bảy ngày sau Tất-đạt sẽ vào thành. Sau khi Chân Tịnh Vương nghe Phật sẽ vào thành, trong bảy ngày cũng không ngủ nghỉ.
Bấy giờ đã đến ngày thứ bảy, Thế Tôn nghĩ thầm: “Nay Ta nên dùng sức thần túc đi đến nước Ca-tỳ-la-vệ.” Rồi Thế Tôn dẫn các tỳ-kheo trước sau vây quanh đi đến nước Ca-tỳ-la-vệ. Đến nơi, Ngài vào vườn Tát-lư ở phía bắc thành.
Bấy giờ đó vua Chân Tịnh nghe Thế Tôn đã đến Ca-tỳ-la-vệ, ở trong vườn Tát-lư phía bắc thành. Vua bèn dẫn những người họ Thích đến chỗ Thế Tôn. Lúc đó Thế Tôn nghĩ thầm: “Nếu Vua Chân Tịnh tự thân hành đến đây, điều này không thích hợp cho Ta. Nay Ta phải đi gặp Vua. Vì sao vậy? Ân cha mẹ rất nặng, tình dưỡng dục sâu dày. Rồi Thế Tôn dẫn các tỳ-kheo đến cửa thành, bay lên hư không, cách đất bảy nhẫn. Vua Chân Tịnh thấy Thế Tôn đoan chánh không gì bằng, hiếm có trên đời, các căn tịch tịnh, không có các vọng niệm, thân có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tự trang nghiêm, liền phát tâm hoan hỷ, tức liền đảnh lễ sát chân mà nói:
“Tôi Vua dòng sát-lị, tên là Chân Tịnh Vương.”
Thế Tôn bảo:
“Chúc Đại vương hưởng thọ vô cùng. Đại vương hãy dùng chánh pháp cai trị giáo hóa, đừng dùng tà pháp. Đại vương nên biết, những ai dùng chánh pháp để cai trị giáo hóa, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên cõi thiện, ở trên trời.”
Rồi Thế Tôn từ trên không trung đi vào trong cung vua Chân Tịnh. Đến nơi, ngồi lên chỗ dọn sẵn.
Khi vua thấy Thế Tôn ngồi yên ổn, tự tay châm nước, phục vụ vô số đồ ăn uống. Khi Thế Tôn ăn xong, đã dùng nước rửa rồi, vua lấy một cái ghế nhỏ, ngồi nghe pháp.
Bấy giờ đức Thế Tôn thuận tự thuyết nghĩa vi diệu cho vua Chân Tịnh; luận về thí, luận về giới, luận về sanh thiên, dục là hạnh bất tịnh, xuất yếu là an lạc.
Bấy giờ đức Thế Tôn thấy tâm ý vua đã giải khai. Như Pháp mà chư Phật thường thuyết; Phật giảng thuyết tường tận cho vua nghe, về khổ, tập, tận, đạo. Khi đó vua Chân Tịnh liền ngay trên chỗ ngồi, sạch hết các trần cấu, được mắt pháp trong sạch.
Thế Tôn sau khi thuyết pháp cho vua nghe xong, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
Lúc đó vua Chân Tịnh tập họp toàn bộ dòng họ Thích lại và nói:
“Các sa-môn đều có mặt mày xấu xí. Dòng sát-lị mà dẫn theo chúng bà-la-môn như vậy là không thích hợp. Dòng họ Thích sát-lị phải có chúng sát-lị, vậy thì mới tốt đẹp.”
Các người họ Thích đáp:
“Thật vậy, Đại vương! Như Đại vương dạy, dòng sát-lị phải có chúng sát-lị, như vậy mới tuyệt.”
Bấy giờ vua bố cáo trong nước, những gia đình có anh em hai người thì bắt một người phải hành đạo. Ai không như vậy thì sẽ bị xử phạt nặng. Khi trong dòng họ Thích nghe vua ra lịnh, “Gia đình có hai người là anh em thì bắt một người phải hành đạo, ai không theo mệnh lệnh sẽ xử phạt nặng”, bấy giờ Thích Đề-bà-đạt-đâu nói với Thích A-nan rằng:
“Nay vua Chân Tịnh ra lệnh, ai có hai người anh em, thì phải phân một người hành đạo. Nay ngươi nên xuất gia học đạo. Ta phải ở nhà giữ gìn gia nghiệp.”
Lúc đó Thích A-nan vui mừng hớn hở nói:
“Như lời anh dạy”.
Lúc đó Thích Nan-đà nói với Thích A-na-luật rằng:
“Vua Chân Tịnh ra lệnh rằng ai có hai người anh em, thì phải phân một người hành đạo, ai không như vậy thì sẽ bị xử phạt nặng. Nay ngươi xuất gia, ta sẽ ở nhà”.
Thích A-na-luật nghe được những lời như vậy rồi, vui mừng hớn hở, không thể kiềm chế, đáp lại:
“Thật vậy, như lời anh nói.”
Lúc đó vua Chân Tịnh dẫn Thích Hộc Tịnh, Thích Thúc Tịnh, Thích Cam Lộ đến chỗ Thế Tôn. Vua ngự giá bằng xe tứ mã, xe màu trắng, lọng màu trắng, ngựa kéo xe màu trắng. Vị họ Thích thứ hai đi bằng xe màu xanh, lọng màu sanh, ngựa kéo xe màu xanh. Vị họ Thích thứ ba đi bằng xe màu vàng, lọng màu vàng, ngựa kéo xe màu vàng. Vị họ Thích thứ tư đi bằng xe màu đỏ, lọng màu đỏ, ngựa kéo xe màu đỏ. Cũng có những người họ Thích khác đi bằng voi, bằng ngựa, thảy đều tập hợp đến.
Thế Tôn từ xa thấy vua Chân Tịnh dẫn dòng họ Thích đến, bèn bảo các tỳ-kheo:
“Các ông xem chúng họ Thích này, và xem những người theo vua Chân Tịnh. Tỳ-kheo nên biết, trời Tam thập tam khi ra dạo vườn cảnh cũng như vậy, không có gì khác.”
Khi đó A-nan đi voi lớn màu trắng, áo màu trắng, lọng màu trắng. Thấy vậy, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các ông thấy Thích A-nan này, đi voi trắng, áo trắng chưa?”
Các tỳ-kheo đáp:
“Dạ vâng, Thế Tôn, chúng con đã thấy.”
Phật bảo các tỳ-kheo:
“Người này sẽ xuất gia học đạo, trở thành đa văn đệ nhất, chịu hầu hạ gần gũi Ta. Các ông thấy A-na-luật này không?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Dạ vâng, chúng con thấy.”
Phật bảo các tỳ-kheo:
“Người này sẽ xuất gia học đạo, trở thành thiên nhãn đệ nhất.”
Khi ấy Vua Chân Tịnh, bốn anh em cả thảy, cùng A-nan-đà, đều đi bộ tới trước, cởi bỏ năm loại nghi trượng, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ vua Chân Tịnh bạch Thế Tôn:
“Đêm hôm qua tôi sanh ý niệm như vầy: ‘Chúng sát-lị không nên dẫn chúng bà-la-môn, mà dẫn chúng sát-lị, như vậy là thích hợp. Tôi liền ra lịnh trong nước, nhà nào có hai người anh em, một người phải xuất gia học đạo. Cúi xin Thế Tôn cho phép họ xuất gia học đạo.”
Thế Tôn đáp:
“Lành thay, Đại vương! Trời người được nhiều lợi ích, được an vui. Vì sao vậy? Thiện tri thức này là ruộng phước tốt. Ta cũng nhờ thiện tri thức mà thoát được sanh, lão, bịnh, tử này.”
Khi đó chúng họ Thích được xuất gia. Rồi Vua Chân Tịnh bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn dạy dỗ những vị tân tỳ-kheo này cũng như dạy dỗ Ưu-đà-da. Vì sao vậy? Tỳ-kheo Ưu-đà-da này rất có thần lực. Xin Tỳ-kheo Ưu-đà-da được ở lại trong cung giáo hóa, khiến cho các loài chúng sanh được an ổn lâu dài. Vì sao vậy? Vì tỳ-kheo này rất có thần lực. Lần đầu tôi gặp tỳ-kheo Ưu-đà-da liền phát tâm hoan hỷ, tôi liền khởi nghĩ như vầy: Đệ tử còn có thần lực huống chi Như Lai kia lại không có thần lực này?”
Thế Tôn đáp:
“Thật vậy, Đại vương, như lời đại vương dạy, Tỳ-kheo Ưu-đà-da này rất có thần lực, có oai đức lớn.”
Bấy giờ Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo, đệ tử đứng đầu việc hiểu rộng biết nhiều mà Quốc vương nghĩ đến chính là Tỳ-kheo A-nhã Câu-lân. Có thể khuyến hóa nhân dân chính là Tỳ-kheo Ưu-đà-da. Có trí mau lẹ chính là Tỳ-kheo Ma-ha-nam. thường thích phi hành chính là Tỳ-kheo Tu-bà-hưu. Đi lại trên không chính là Tỳ-kheo Bà-phá. Có nhiều đệ tử, là Tỳ-kheo Ưu-tỳ Ca-diếp. Ý đắc quán Không, là tỳ-kheo Giang Ca-diếp. Ý đắc chỉ quán chính, Tỳ-kheo Tượng Ca-diếp.”
Bấy giờ Thế Tôn giảng rộng pháp vi diệu cho vua Chân Tịnh nghe. Vua nghe pháp rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, rồi lui ra về.
Các tỳ-kheo cùng Vua Chân Tịnh sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
聞如是:
一時,佛在摩竭國道場樹下,初 T 0618a28始得佛。
爾時,世尊便作是念:「我今以得此 T 0618a29甚深之法,難解、難了、難曉、難知,極微極妙 T 0618b01智所覺知,我今當先與誰說法?使解吾法 T 0618b02者是誰?」爾時,世尊便作是念:「羅勒迦藍諸 T 0618b03根純熟,應先得度,又且待我有法。」作此 T 0618b04念已,虛空中有天白世尊曰:「羅勒迦藍死 T 0618b05已七日。」
是時,世尊復作念曰:「何其苦哉,不 T 0618b06聞吾法,而取命終;設當聞吾法者,即得解 T 0618b07脫。」是時,世尊復作是念:「我今先與誰說法, T 0618b08使得解脫?今欝頭藍弗先應得度,當與 T 0618b09說之,聞吾法已,先得解脫。」世尊作是念,虛 T 0618b10空中有天語言:「昨日夜半,以取命終。」是時, T 0618b11世尊便作是念:「欝頭藍弗何其苦哉!不聞 T 0618b12吾法,而取命過;設得聞吾法者,即得解脫。」
T 0618b13爾時,世尊復作是念:「誰先聞法而得解脫?」 T 0618b14是時,世尊重更思惟:「五比丘多所饒益,我初 T 0618b15生時,追隨吾後。」是時,世尊復作是念:「今五比 T 0618b16丘竟為所在?」即以天眼觀五比丘,乃在波 T 0618b17羅 [木*奈] 仙人鹿園所止之處。「我今當往先與五 T 0618b18比丘說法,聞吾法已,當得解脫。」
爾時,世尊 T 0618b19七日之中熟視道樹,目未曾眴。爾時,世尊 T 0618b20便說此偈:
T 0618b21
「我今此坐處, 經歷生死苦, T 0618b22
執御智慧斧, 永斷根元栽。 T 0618b23
天王來至此, 及諸魔怨屬, T 0618b24
復以方便降, 令著解脫冠。 T 0618b25
今於此樹下, 坐於金剛床, T 0618b26
以獲一切智, 逮無所礙慧。 T 0618b27
我坐此樹下, 見生死之苦, T 0618b28
已却死元本, 老病永無餘。」
T 0618b29爾時,世尊說此偈已,便從坐起而去,欲向 T 0618c01波羅 [木*奈] 國。
是時,優毘伽梵志遙見世尊光 T 0618c02色炳然,翳日月明,見已,白世尊曰:「瞿曇!師 T 0618c03主今為所在?為依何人出家學道?恒喜說 T 0618c04何法教?為從何來?為欲所至?」
爾時,世尊向 T 0618c05彼梵志,而說此偈:
T 0618c06
「我成阿羅漢, 世間最無比, T 0618c07
天及世間人, 我今最為上。 T 0618c08
我亦無師保, 亦復無與等, T 0618c09
獨尊無過者, 冷而無復溫。 T 0618c10
今當轉法輪, 往詣加尸邦, T 0618c11
今以甘露藥, 開彼盲冥者。 T 0618c12
波羅 [木*奈] 國界, 加尸國王土, T 0618c13
五比丘住處, 欲說微妙法。 T 0618c14
使彼早成道, 及得漏盡通, T 0618c15
以除惡法元, 是故最為勝。」
T 0618c16時,彼梵志歎吒,儼頭叉手,彈指含笑,引道 T 0618c17而去。
時,世尊往詣波羅 [木*奈] 。是時,五比丘遙 T 0618c18見世尊來,見已各共論議:「此是沙門瞿曇從 T 0618c19遠而來,情性錯亂,心不專精。我等勿復共 T 0618c20語,亦莫起迎,亦莫請坐。」
爾時,五人便說此 T 0618c21偈:
T 0618c22
「此人不應敬, 亦莫共親視, T 0618c23
勿復稱善來, 亦莫請使坐。」
T 0618c24爾時,五人說此偈已,皆共默然。爾時,世尊至 T 0618c25五比丘所,漸漸欲至。時,五比丘漸起來迎,或 T 0618c26與敷 座 者,或與取水者。爾時,世尊即前就 T 0618c27坐,作是思惟:「此是愚癡之人,竟不能全其 T 0618c28本限。」爾時,五比丘稱世尊為卿,是時,世尊 T 0618c29告五比丘曰:「汝等莫卿無上至真、等正覺。 T 0619a01所以然者,我今已成無上至真、等正覺,已 T 0619a02獲甘露善。自專念,聽吾法語。」
爾時,五比丘 T 0619a03白世尊曰:「瞿曇!本苦行時,尚不能得上人 T 0619a04之法,況復今日意情錯亂,言得道乎?」
世尊 T 0619a05告曰:「云何,五人!汝等曾聞吾妄語乎?」
五比 T 0619a06丘曰:「不也。瞿曇!」
世尊告曰:「如來、等正覺已得 T 0619a07甘露,汝等悉共專心,聽吾說法。」是時,世尊便 T 0619a08復作是念:「我今堪任降此五人。」
是時,世尊 T 0619a09告五比丘:「汝等當知,有此四諦。云何為四? T 0619a10苦諦、苦習諦、苦盡諦、苦出要諦。彼云何名為 T 0619a11苦諦?所謂生苦、老苦、病苦、死苦、憂悲惱苦、愁 T 0619a12憂苦痛,不可稱記。怨憎會苦、恩愛別苦、所 T 0619a13欲不得,亦復是苦,取要言之,五盛陰苦,是謂 T 0619a14苦諦。
「云何苦習諦?所謂受愛之分,習之 T 0619a15不惓,意常貪著,是謂苦習諦。
「彼云何苦盡 T 0619a16諦?能使彼愛滅盡無餘,亦不更生,是謂苦 T 0619a17盡諦。
「彼云何名為苦出要諦?所謂賢聖八品 T 0619a18道。所謂等見、等治、等語、等業、等命、等 T 0619a19方便、等念、等定。是謂名為四諦之法。
「然復, T 0619a20五比丘!此四諦之法,苦諦者眼生、智生、明生、 T 0619a21覺生、光生、慧生,本未聞法。復次,苦諦者,實、 T 0619a22定,不虛不妄,終不有異;世尊之所說,故名 T 0619a23為苦諦。苦習諦者,本未聞法,眼生、智生、明 T 0619a24生、覺生、光生、慧生。復次,苦習諦者,實、定,不 T 0619a25虛不妄,終不有異;世尊之所說,故名為苦 T 0619a26習諦,苦盡諦者,本未聞法,眼生、智生、明生、 T 0619a27覺生、慧生、光生。復次,苦盡諦者,實、定,不虛不 T 0619a28妄,終不有異;世尊之所說,故名為苦盡諦。 T 0619a29苦出要諦者,本未聞法,眼生、智生、明生、覺生、 T 0619b01光生、慧生。復次,苦出要諦者,實、定,不虛不妄, T 0619b02終不有異;世尊之所說,故名為苦出要諦。
T 0619b03「五比丘當知,此四諦者,三轉十二行,如實 T 0619b04不知者,則不成無上正真、等正覺。以我分 T 0619b05別此四諦三轉十二行,如實知之、是故成 T 0619b06無上至真、等正覺。」
爾時,說此法時,阿若拘 T 0619b07隣諸塵垢盡,得法眼淨。
是時,世尊告拘隣 T 0619b08曰:「汝今以逮法、得法?」
拘隣報曰:「如是。世 T 0619b09尊!以得法、逮法。」
是時,地神聞此語已,作 T 0619b10是唱:「今如來在波羅 [木*奈] 國轉法輪。諸天、 T 0619b11世人、魔、若魔天、人及非人所不能轉者,今日 T 0619b12如來轉此法輪,阿若拘隣已得甘露之法。」
T 0619b13是時,四天王從地神聞唱令聲,復傳告曰: T 0619b14「阿若拘隣以得甘露之法。」
是時,三十三天復 T 0619b15從四天王聞,艶天從三十三天聞,乃至兜 T 0619b16術天展轉聞聲,乃至梵天亦復聞聲:「如來 T 0619b17在波羅 [木*奈] 轉法輪,諸天、世人、魔、若魔天、人 T 0619b18及非人所不轉者,今日如來轉此法輪。」爾 T 0619b19時,便名為阿若拘隣。
爾時,世尊告五比丘:「汝 T 0619b20等二人住受教誨,三人乞食,三人所得食者, T 0619b21六人當共食之;三人住受教誨,二人往乞 T 0619b22食,二人所得食者,六人當取食之。」爾時教 T 0619b23誨,此時成無生涅槃法,亦成無生、無病、無老、 T 0619b24無死。是時,五比丘盡成阿羅漢。是時,三千大 T 0619b25千剎土有五阿羅漢,佛為第六。
爾時,世尊 T 0619b26告五比丘:「汝等盡共人間乞食,慎莫獨行。然 T 0619b27復眾生之類,諸根純熟,應得度者,我今當 T 0619b28往優留毘村聚,在彼說法。」
爾時,世尊便往 T 0619b29至優留毘村聚所。爾時,連若河側有迦葉 T 0619c01在彼止住,知天文、地理,靡不貫博,算數樹 T 0619c02葉皆悉了知,將五百弟子,日日教化。去迦 T 0619c03葉不遠有石室,於石室中,有毒龍在彼 T 0619c04止住。
爾時,世尊至迦葉所。到已,語迦葉言: T 0619c05「吾欲寄在石室中一宿;若見聽者,當往止 T 0619c06住。」
迦葉報曰:「我不愛惜,但彼有毒龍,恐相 T 0619c07傷害耳。」
世尊告曰:「迦葉!無苦!龍不害吾,但 T 0619c08見聽許,止住一宿。」
迦葉報曰:「若欲住者,隨 T 0619c09意往住。」
爾時,世尊即往石室,敷座而宿,結 T 0619c10跏趺坐,正身正意,繫念在前。是時,毒龍見世 T 0619c11尊坐,便吐火毒。爾時,世尊入慈三昧,從慈 T 0619c12三昧起,入焰光三昧。爾時,龍火、佛光一時俱 T 0619c13作。
爾時,迦葉夜起,瞻視星宿,見石室中,有 T 0619c14大火光。見已,便告弟子曰:「此瞿曇沙門容貌 T 0619c15端政,今為龍所害,甚可憐慜!我先亦有 T 0619c16此言:『彼有惡龍,不可止宿。』」是時,迦葉告五 T 0619c17百弟子:「汝持水瓶,及輿高梯,往救彼火, T 0619c18使彼沙門得濟此難。」
爾時,迦葉將五百弟 T 0619c19子,往詣石室,而救此火;或持水灑者,或施 T 0619c20梯者,而不能使火時滅,皆是如來威神所 T 0619c21致。爾時,世尊入慈三昧,漸使彼龍無復瞋 T 0619c22恚。時,彼惡龍心懷恐怖,東西馳走,欲得出 T 0619c23石室,然不能得出石室。是時,彼惡龍來向 T 0619c24如來,入世尊鉢中住。
是時,世尊以右手摩 T 0619c25惡龍身,便說此偈:
T 0619c26
「龍出甚為難, 龍與龍共集, T 0619c27
龍勿起害心, 龍出甚為難。 T 0619c28
過去恒沙數, 諸佛般涅槃, T 0619c29
汝竟不遭遇, 皆由瞋恚火。 T 0620a01
善心向如來, 速捨此恚毒, T 0620a02
已除瞋恚毒, 便得生天上。」
T 0620a03
增壹阿含經卷第十四
T 0620a04 T 0620a05 T 0620a06
增壹阿含經卷第十五 T 0620a07 T 0620a08
東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯
T 0620a09高幢品第二十四之二
T 0620a10爾時,彼惡龍吐舌,舐如來手,熟視如來面。
T 0620a11是時,世尊明日清旦,手擎此惡龍,往詣迦 T 0620a12葉,語迦葉曰:「此是惡龍,極為兇暴,今以 T 0620a13降之。」
爾時,迦葉見惡龍已,便懷恐怖,白世 T 0620a14尊曰:「止!止!沙門!勿復來前,龍備相害。」
世尊 T 0620a15告曰:「迦葉!勿懼,我今已降之,終不相害。 T 0620a16所以然者,此龍已受教化。」
是時,迦葉及五 T 0620a17百弟子歎未曾有:「甚奇!甚特!此瞿曇沙門極 T 0620a18大威神,能降此惡龍,使不作惡;雖爾,故 T 0620a19不如我得道真。」
爾時,迦葉白世尊曰:「大沙 T 0620a20門!當受我九十日請,所須衣被、飯食、床臥 T 0620a21具、病瘦醫藥,盡當供給。」爾時,世尊默然受迦 T 0620a22葉請。
時,世尊以此神龍著大海中,而彼惡 T 0620a23龍隨壽長短,命終之後,生四天王天上。是時, T 0620a24如來還止石室。
迦葉供辦種種飯食已,往白 T 0620a25世尊:「飯食已辦,可往就食。」
世尊告曰:「迦 T 0620a26葉在前,吾正爾當往。」迦葉去後,便往至閻浮 T 0620a27提界上,閻浮樹下取閻浮果。還,先至迦葉石 T 0620a28室中坐。
是時,迦葉見世尊在石室中,白世 T 0620a29尊曰:「沙門!為從何道,來至石室?」
佛告迦 T 0620b01葉:「汝去之後,吾至閻浮提界上,取閻浮果, T 0620b02還來至此坐。迦葉當知,此果甚為香美, T 0620b03可取食之。」
迦葉對曰:「我不須是。沙門自取 T 0620b04食之。」是時,迦葉復作是念:「此沙門極有神 T 0620b05足,有大威力,乃能至閻浮界上,取此美 T 0620b06果。雖爾,故不如我道真。」
是時,世尊食已,還 T 0620b07在彼止宿。
迦葉清朝至世尊所,到已,白世 T 0620b08尊曰:「食時以至,可往就食。」
佛告迦葉:「汝 T 0620b09並在前,吾後當往。」迦葉去後,便至閻浮界 T 0620b10上,取阿摩勒果。還,先至迦葉石室中坐。
迦 T 0620b11葉白世尊曰:「沙門!為從何道,來至此間?」
T 0620b12世尊告曰:「汝去之後,至閻浮界上,取此果 T 0620b13來,極為香美。若須者便取食之。」
迦葉對曰: T 0620b14「吾不須是,沙門自取食之。」是時,迦葉復作 T 0620b15是念:「此沙門極有神力,有大威神,吾去之 T 0620b16後,取此果來。雖爾,故不如我,我已得道。」
T 0620b17是時,世尊食已,還彼止宿。
明日,迦葉至世尊 T 0620b18所,而作是說:「食時已至,可往就食。」
佛告 T 0620b19迦葉:「汝並在前,吾後當往。」迦葉去後,世尊 T 0620b20至北欝單曰,取自然粳米來,還至迦葉 T 0620b21石室。
迦葉問佛:「沙門!為從何道,來至此 T 0620b22坐?」
世尊告曰:「迦葉當知,汝去之後,吾至欝 T 0620b23單曰,取自然粳米,極為香好。迦葉!須者便 T 0620b24取食之。」
迦葉對曰:「吾不須是。沙門自取食 T 0620b25之。」迦葉復作是念:「此沙門極有神足,有大 T 0620b26神力。雖爾,故不如我得道真。」
是時,世尊食 T 0620b27已,還彼止宿。
明日,迦葉至世尊所,而作是 T 0620b28說:「食時已至,可往就食。」
佛告迦葉:「汝並 T 0620b29在前,吾後當往。」迦葉去後,世尊至瞿耶尼, T 0620c01取呵梨勒果,先至迦葉石室中坐。
迦葉問 T 0620c02佛:「沙門!為從何道,來至此坐?」
佛告迦葉: T 0620c03「汝去之後,吾至瞿耶尼,取此果來,極為香 T 0620c04美。迦葉!須者可取食之。」
迦葉對曰:「不須 T 0620c05是。沙門自取食之。」迦葉復作是念:「此沙門 T 0620c06極有神力,有大威神。雖爾,故不如我得道 T 0620c07真。」
是時,世尊食已,還彼止宿。
明日,迦葉至世 T 0620c08尊所而白:「時至,可往就食。」
佛告迦葉:「汝並 T 0620c09在前,吾後當往。」迦葉去後,世尊至弗于逮, T 0620c10取毘醯勒果,先至迦葉石室中坐。
迦葉問 T 0620c11佛:「沙門!為從何道,來至此坐?」
佛告迦葉: T 0620c12「汝去之後,吾至弗于逮,取此果來,極為香 T 0620c13好。迦葉!須者可取食之。」
迦葉對曰:「吾不須 T 0620c14是,沙門自取食之。」迦葉復作是念:「此沙門極 T 0620c15有神力,有大神足。雖爾,故不如我得道 T 0620c16真。」
是時,世尊食已,還彼止宿。
是時,迦葉時欲 T 0620c17大祠,五百弟子執斧破薪,手擎斧而斧不 T 0620c18下。是時,迦葉復作是念:「此必沙門所為。」是時, T 0620c19迦葉問世尊曰:「今欲破薪,斧何故不下也?」
T 0620c20世尊告曰:「欲得斧下耶?」
曰:「欲使下。」斧尋 T 0620c21時下。
是時,彼斧既下,復不得舉。迦葉復白佛 T 0620c22言:「斧何故不舉?」
世尊告曰:「欲使斧舉耶?」
曰: T 0620c23「欲使舉。」斧尋得舉。
爾時,迦葉弟子意欲 T 0620c24然火,火不得然。是時,迦葉復作是念:「此必 T 0620c25沙門瞿曇所為。」迦葉白佛:「火何故不然?」
佛 T 0620c26告迦葉:「欲使火然耶?」
曰:「欲使然。」火尋時 T 0620c27然。
爾時,意欲滅火,火復不滅。迦葉白佛:「火 T 0620c28何故不滅?」
佛告迦葉:「欲使火滅耶?」
曰:「欲 T 0620c29使滅。」火尋時滅。迦葉便作是念:「此沙門瞿 T 0621a01曇,面目端政,世之希有。吾明日欲大祠,國 T 0621a02王人民盡當來集,設當見此沙門者,吾不 T 0621a03復得供養。此沙門明日不來者,便為大幸。」
T 0621a04是時,世尊知迦葉心中所念:明日清旦,至欝 T 0621a05單曰,取自然粳米,瞿耶尼取乳汁,往至阿 T 0621a06耨達泉而食。竟日在彼住,向暮還至石室 T 0621a07止宿。
迦葉明日至世尊所,問曰:「沙門!昨日 T 0621a08何故不來?」
佛告迦葉:「汝昨日作是念:『此瞿 T 0621a09曇極為端政,世之希有。吾明日大祠,若國 T 0621a10王人民見者,便斷吾供養。設不來者,便是大 T 0621a11幸。』我尋知汝心之所念,乃至欝單曰,取自 T 0621a12然粳米,瞿耶尼取乳汁,往阿耨達泉上食。 T 0621a13竟日在彼,向暮還至石室中止宿。」
是時,迦 T 0621a14葉復作是念:「此大沙門,極有神足,實有威 T 0621a15神。雖爾,故不如我得道真。」
是時,世尊食已, T 0621a16還石室止宿。即夜,四天王至世尊所而聽 T 0621a17經法,四天王亦有光明,佛亦大放光,照彼 T 0621a18山野,洞然一色。
時,彼迦葉夜見光明。明日清 T 0621a19旦,至世尊所,到已,白世尊曰:「昨夜是何光 T 0621a20明照此山野?」
世尊告曰:「昨夜四天王來至我 T 0621a21所而聽法,是彼四天王之光明。」
是時,迦葉 T 0621a22復作是念:「此沙門極有神力,乃能使四天 T 0621a23王來聽經法。雖有此力,由不如我得道 T 0621a24真。」
T 0621a25是時,世尊食已,還在彼宿。夜半,釋提桓因來 T 0621a26至世尊所而聽法,天帝光明復照彼山。
時, T 0621a27彼迦葉夜起瞻星,見此光明。明日清旦,迦葉 T 0621a28至世尊所,問曰:「瞿曇!昨夜光明極為殊特, T 0621a29有何因緣,有此光明?」
世尊告曰:「昨夜天帝 T 0621b01釋來至此聽經,故有此光明耳。」
時,迦葉 T 0621b02復作是念:「此沙門瞿曇極有神力,有大威 T 0621b03神,乃能使天帝釋來聽經法。雖爾,故不如 T 0621b04我得道真。」
是時,世尊食已,還在彼宿。夜半,梵 T 0621b05天王放大光明照彼山中,至世尊所而聽 T 0621b06經法。
時,迦葉夜起見光明,明日至世尊所 T 0621b07而問曰:「昨夜光明倍有所照,勝於日月光 T 0621b08明,有何等因緣,致此光明?」
世尊告曰:「迦葉 T 0621b09當知,昨夜大梵天王來至我所而聽經法。」
T 0621b10是時,迦葉復作是念:「此沙門瞿曇極有神力, T 0621b11乃能使我祖父來至此沙門所而聽經法。 T 0621b12雖爾,故不如我得道真。」
爾時,世尊得弊壞 T 0621b13五納衣,意欲浣濯,便作是念:「我當於何處 T 0621b14而浣此衣?」是時,釋提桓因知世尊心中所念, T 0621b15即化作浴池,白世尊曰:「可在此浣衣。」
是 T 0621b16時,世尊復作是念:「吾當於何處蹋浣此衣?」 T 0621b17時,四天王知世尊心中所念,便舉大方石 T 0621b18著水側,白世尊曰:「可在此而蹋衣。」
是時, T 0621b19世尊復作是念:「吾何處而曝此衣?」時,樹神 T 0621b20知世尊心中所念,便垂樹枝,白世尊曰:「唯 T 0621b21願在此 曝 衣。」
明日清旦,迦葉至世尊所,問 T 0621b22世尊曰:「本無此池,今有此池;本無此樹,今 T 0621b23有此樹;本無此石,今有此石。有何因緣,而 T 0621b24有此變?」
世尊告曰:「此是昨夜天帝釋知吾 T 0621b25欲浣衣,故作此浴池。吾復作是念:『當於何 T 0621b26處蹋浣此衣?』時四天王知吾心中所念,便 T 0621b27持此石來。吾復作是念:『當於何處而 曝 T 0621b28此衣?』時樹神知我心中所念,便垂此樹枝 T 0621b29耳。」
是時,迦葉復作是念:「此沙門瞿曇雖神,故 T 0621c01不如我得道真。」
是時,世尊食已,還於彼宿。 T 0621c02是時,夜半有大黑雲起而作大雨,連若大 T 0621c03河,極為瀑溢。是時,迦葉復作是念:「此河瀑 T 0621c04溢,沙門必當為水所漂,我今看之。」是時, T 0621c05迦葉及五百弟子往至河所,爾時世尊在水 T 0621c06上行,脚不為水所漬。是時,迦葉遙見世尊 T 0621c07在水上行。是時,迦葉便作是念:「甚奇!甚特! T 0621c08沙門瞿曇乃能在水上行,我亦能在水上 T 0621c09行,但不能使脚不污耳。此沙門雖神,故不 T 0621c10如我得道真。」
是時,世尊語迦葉言:「汝亦非 T 0621c11阿羅漢,復不知阿羅漢道,汝尚不識阿羅 T 0621c12漢名,況得道乎?汝是盲人,目無所覩,如來 T 0621c13現爾許變化,故言:『不如我得道真。』汝方作 T 0621c14是語:『吾能在水上行。』今正是時,可共在水 T 0621c15上行耶?汝今可捨邪見之心,無令長夜 T 0621c16受此苦惱。」
是時,迦葉聞世尊語已,便前頭 T 0621c17面禮足:「我今悔過,深知非法,乃觸如來,唯 T 0621c18願受悔。」如是再三。
世尊告曰:「聽汝改過, T 0621c19乃能自知觸擾如來。」
是時,迦葉告五百弟 T 0621c20子曰:「汝等各隨所宜,我今自歸沙門瞿曇。」
T 0621c21是時,五百弟子白迦葉言:「我等先亦有心 T 0621c22於沙門瞿曇,當降龍時,尋欲歸命。若師自 T 0621c23歸瞿曇者,我等五百弟子盡自歸於瞿曇 T 0621c24所。」
迦葉報言:「今正是時,然復我心執此愚 T 0621c25癡,見爾許變化,意由不解,故自稱言:『我道 T 0621c26真正。』」
是時,迦葉將五百弟子,前後圍繞,至世 T 0621c27尊所,頭面禮足,在一面立,白世尊曰:「唯願 T 0621c28世尊聽我等得作沙門!修清淨行。」
諸佛常 T 0621c29法。若稱:「善來,比丘!」便成沙門。是時,世尊告 T 0622a01迦葉曰:「善來,比丘!此法微妙,善修梵行。」是 T 0622a02時,迦葉及五百弟子所著衣裳,盡變作袈 T 0622a03裟,頭髮自落,如似剃髮,以經七日。是時,迦 T 0622a04葉學術之具及於呪術,盡投水中。
時,五百弟 T 0622a05子白世尊曰:「唯願世尊聽我等得作沙 T 0622a06門。」
世尊告曰:「善來,比丘!」時,五百弟子即成 T 0622a07沙門,袈裟著身,頭髮自落。
爾時,順水下流,有 T 0622a08梵志,名江迦葉,在水側住。是時,江迦葉見 T 0622a09呪術之具,盡為水所漂,便作是念:「咄哉!我 T 0622a10大兄為水所溺?」是時,江迦葉將三百弟子, T 0622a11順水上流,求兄屍骸。遙見世尊在一樹下 T 0622a12坐,及大迦葉五百弟子前後圍繞而為說法。 T 0622a13見已,便前至迦葉所,而作是語:「此事為好 T 0622a14耶?本為人師,今為弟子。大兄何故與沙 T 0622a15門作弟子乎?」
迦葉對曰:「此處為妙,無過此 T 0622a16處。」
是時,優毘迦葉向江迦葉而說此偈:
T 0622a17
「此師人天貴, 我今師事之, T 0622a18
諸佛興出世, 甚為難得遇。」
T 0622a19是時,江迦葉聞佛名號,甚懷歡喜,踊躍不 T 0622a20能自勝,前白世尊:「願聽為道。」
世尊告曰:「善 T 0622a21來,比丘!善修梵行,盡於苦際。」
是時,江迦葉 T 0622a22及三百弟子即成沙門,袈裟著身,頭髮自落。 T 0622a23是時,江迦葉及三百弟子呪術之具,盡投水 T 0622a24中。
爾時,順水下頭有梵志,名伽夷迦葉,在 T 0622a25水側住。遙見呪術之具,為水所漂,便作是 T 0622a26念:「我有二兄,在上學道。今呪術之具,盡為 T 0622a27水所漂,二大迦葉必為水所害。」即將二百 T 0622a28弟子,順水上流,乃至學術之處,遙見二兄 T 0622a29而作沙門,便作是語:「此處好耶?本為人尊, T 0622b01今為沙門弟子。」
迦葉報曰:「此處最妙,無過 T 0622b02此處。」
是時,伽夷迦葉便作是念:「今我二兄多 T 0622b03知博學,此處必是善地,使我二兄在中學 T 0622b04道,我今亦可在中學道。」是時,伽夷迦葉前 T 0622b05白世尊:「唯願世尊聽作沙門。」
世尊告 曰 :「善 T 0622b06來,比丘!善修梵行,盡於苦際。」
是時,伽夷迦 T 0622b07葉即成沙門,袈裟著身,頭髮自落,如似 T 0622b08剃頭,以經七日。
是時,世尊在彼河側住, T 0622b09尼拘類樹下,成佛未久,將千弟子,是皆耆 T 0622b10舊宿長。是時,世尊以三事教化。云何為三? T 0622b11所謂神足教化,言教教化,訓誨教化。
彼云 T 0622b12何名為神足教化?爾時,世尊或作若干形,還 T 0622b13合為一,或不現,或現。石壁皆過,無所罣礙, T 0622b14或出地,或入地,猶如流水,無所觸礙,或結 T 0622b15跏趺坐,滿虛空中,如鳥飛空,無有罣礙。亦 T 0622b16如大火山,烟出無量。此日月有大神力,不 T 0622b17可限量,以手往捉,身乃至梵天。如是,世尊 T 0622b18現神足。
彼云何名為言教教化?爾時,世尊教 T 0622b19諸比丘:「當捨是、置是。當近是、遠是。當念 T 0622b20是、去是。當觀是、不觀是。」彼云何當修是、 T 0622b21不修是者,當修七覺意,滅三結。彼云何當 T 0622b22觀、當不觀者?當觀三結、沙門善:所謂出要 T 0622b23樂、無恚樂、無怒樂。彼云何不觀?所謂三沙門 T 0622b24苦。云何為三?所謂欲觀、恚觀、怒觀。彼云何念、 T 0622b25云何不念?爾時,當念苦諦,當念習諦,當 T 0622b26念盡諦,當念道諦;莫念邪諦:有常見、無常 T 0622b27見,有邊見、無邊見,彼命、彼身,非命、非身,如來 T 0622b28命終、如來不命終,有終、有不終,亦不有終、 T 0622b29亦不無終。莫作是念。
彼云何名為訓誨教 T 0622c01化?復次,當作是去、不應作是去,作是來、 T 0622c02不應作是來,默然、作是言說:「當持如是 T 0622c03衣、不應持如是衣,應如是入村、不應 T 0622c04如是入村。」是謂名為訓誨教化。
是時,世尊 T 0622c05以此三事,教化千比丘。是時,彼比丘受佛 T 0622c06教已,千比丘盡成阿羅漢。是時,世尊以見 T 0622c07千比丘得羅漢,爾時閻浮里地有千阿羅 T 0622c08漢及五比丘,佛為六師,迴坐向迦毘羅衛。
T 0622c09是時,優毘迦葉便作是念:「世尊何故向迦毘 T 0622c10羅衛坐?」是時,優毘迦葉即前長跪,白世尊 T 0622c11曰:「不審如來,何故向迦毘羅衛坐耶?」
世尊 T 0622c12告曰:「如來在世間,應行五事。云何為五?一 T 0622c13者當轉法輪,二者當與父說法,三者當與 T 0622c14母說法,四者當導凡夫人立菩薩行,五者 T 0622c15當授菩薩別。是謂,迦葉!如來出世當行 T 0622c16此五法。」
是時,優毘迦葉復作是念:「如來故 T 0622c17念親族本邦,故向彼坐耳。」
是時,五比丘漸 T 0622c18來至尼連水側,到世尊所,頭面禮足,在一 T 0622c19面坐。
是時,尊者優陀耶遙見世尊向迦毘羅 T 0622c20衛坐,見已,便作是念:「世尊必當欲往至迦 T 0622c21毘羅衛見諸親里。」是時,優陀耶即前長跪,白 T 0622c22世尊曰:「我今堪任欲有所問,唯願敷演。」
世 T 0622c23尊告曰:「欲所問者便問之。」
優陀耶白世 T 0622c24尊曰:「觀如來意,欲向迦毘羅衛。」
世尊告曰: T 0622c25「如是,如汝所言。優陀耶當知,先至白淨王 T 0622c26所,吾比後當往。所以然者,剎利之種先當 T 0622c27遣使令知,然後如來當往。汝到,語王: T 0622c28『却後七日,如來當來見王。』」
優陀耶對曰:「如 T 0622c29是。世尊!」是時,優陀耶即從坐起,整衣服,禮 T 0623a01世尊足,於世尊前不現,往至迦毘羅衛,到 T 0623a02真淨王所。到已,在王前立。
爾時,真淨王在 T 0623a03大殿上坐,及諸婇女。是時,優陀耶飛在空 T 0623a04中。時真淨王見優陀耶手執鉢,持杖而在 T 0623a05前立,見已便懷恐怖,而作是說:「此是何人? T 0623a06人耶?非人耶?天耶?鬼耶?閱叉、羅剎、天、龍、鬼神 T 0623a07耶?」
時,真淨王問優陀耶曰:「汝是何人?」又以 T 0623a08此偈向優陀耶說:
T 0623a09
「為天為是鬼? 乾沓惒等乎? T 0623a10
汝今名為誰? 我今欲知之?」
T 0623a11是時,優陀耶復以此偈報王曰:
T 0623a12
「我亦非是天, 非是乾沓惒, T 0623a13
於是迦毘國, 大王邦土人。 T 0623a14
昔壞十八億, 弊魔波旬眾, T 0623a15
我師釋迦文, 是彼真弟子。」
T 0623a16時,真淨王復以此偈,向優陀耶說:
T 0623a17
「誰壞十八億, 弊魔波旬眾? T 0623a18
誰字釋迦文? 汝今歎說之。」
T 0623a19是時,優陀耶復說此偈:
T 0623a20
「如來初生時, 天地普大動, T 0623a21
誓願悉成辦, 今曰號悉達! T 0623a22
彼降十八億, 弊魔波旬眾, T 0623a23
彼名釋迦文, 今日成佛道! T 0623a24
彼人釋師子, 瞿曇次弟子, T 0623a25
今日作沙門, 本字優陀耶!」
T 0623a26是時,真淨王聞此語已,便懷歡喜,不能自 T 0623a27勝,語優陀耶曰:「云何,優陀耶!悉達太子今 T 0623a28故在耶?」
優陀耶報言:「釋迦文佛今日現在。」
時 T 0623a29王問言:「今已成佛耶?」
優陀耶報言:「今已成 T 0623b01佛。」
王復問言:「今日如來竟為所在?」
優陀耶 T 0623b02報言:「如來今在摩竭國界尼拘類樹下。」
時 T 0623b03王報言:「翼從弟子斯是何人?」
優陀耶報曰: T 0623b04「諸天億數及千比丘、四天王,恒在左右。」
時王 T 0623b05問言:「所著衣服,為像何類?」
優陀耶報言:「如 T 0623b06來所著衣裳,名曰袈裟。」
時王問言:「食何等 T 0623b07食?」
優陀耶報言:「如來身者,以法為食。」
王復 T 0623b08問曰:「云何,優陀耶!如來可得見不?」
優陀耶報 T 0623b09言:「王勿愁悒,却後七日,如來當來入城。」
是 T 0623b10時,王極歡喜,不能自勝,手自斟酌,供養優陀 T 0623b11耶。
是時,真淨王擊大鳴鼓,勅國界人民,平 T 0623b12治道路,除去不淨,以香汁灑地,懸繒幡蓋, T 0623b13作倡伎樂,不可稱計。復勅國中諸有聾、 T 0623b14盲、瘖、瘂者,盡使不現,却後七日,悉達當來 T 0623b15入城。是時,真淨王聞佛當來入城,七日之 T 0623b16中,亦不睡眠。
是時,世尊以至七日,便作 T 0623b17是念:「我今宜可以神足力,往詣迦毘羅衛 T 0623b18國。」是時,世尊即將諸比丘,前後圍遶,往詣 T 0623b19迦毘羅衛國。到已,便詣城北薩盧園中。
是時, T 0623b20真淨王聞世尊已達迦毘羅衛城北薩盧園 T 0623b21中。是時,真淨王將諸釋眾,往詣世尊所。
是 T 0623b22時,世尊復作是念:「若真淨王躬自來者,此非 T 0623b23我宜,我今當往與共相見。所以然者,父母 T 0623b24恩重,育養情甚。」是時,世尊將諸比丘眾,往 T 0623b25詣城門,飛在虛空,去地七仞。
是時,真淨 T 0623b26王見世尊端政無比,世之希有,諸根寂靜, T 0623b27無眾多念,身有三十二相、八十種好,而自 T 0623b28莊身,發歡喜之心,即便頭面禮足,而作是 T 0623b29說:「我是剎利王種,名曰真淨王。」
世尊告曰: T 0623c01「令大王享壽無窮。是故,大王!當以正法治 T 0623c02化,勿用邪法。大王當知,諸有用正法治化 T 0623c03者,身壞命終,生善處天上。」
是時,世尊即空中 T 0623c04行,至真淨王宮中。到已,就座而坐。
時,王見 T 0623c05世尊坐定,手自斟酌,行種種飲食,見世尊食 T 0623c06竟,行淨水,更取一小座而聽經。
爾時,世尊 T 0623c07與真淨王漸說妙義,所謂論者:施論、戒論、生 T 0623c08天之論,欲不淨行,出要為樂。爾時,世尊見王 T 0623c09心開意解,諸佛世尊常所說法,苦、習、盡、道, T 0623c10盡向王說。
是時,真淨王即於座上,諸塵垢盡, T 0623c11得法眼淨。
是時,世尊與王說法已,即從座 T 0623c12起而去。
是時,真淨王普集釋眾,而作是說: T 0623c13「諸沙門等,顏貌極醜,剎利之種,將諸梵志眾, T 0623c14此非其宜;剎利釋種還得剎利眾,此乃為 T 0623c15妙。」
諸釋報言:「如是,大王!如大王教,剎利還 T 0623c16得剎利眾,此乃為妙。」
是時,王告國中:「諸有 T 0623c17兄弟二人,當取一人作道,其不爾者,當重 T 0623c18謫罰。」
時,諸釋眾聞王教令:「諸有兄弟二人, T 0623c19當取一人為道,其不從教,當重謫罰。」是 T 0623c20時,提婆達兜釋種語阿難釋言:「真淨王今日 T 0623c21有教:『諸有兄弟二人,當分一人作道。』汝今 T 0623c22出家學道,我當在家修治家業。」是時,阿難 T 0623c23釋歡喜踊躍,報言:「如兄來教。」
是時,難陀釋語 T 0623c24阿那律釋言:「真淨王有教:『其有兄弟二人 T 0623c25者,當分一人作道,其不爾者,當重謫罰。』 T 0623c26汝今出家,我當在家。」是時,阿那律釋聞此語 T 0623c27已,歡喜踊躍,不能自勝,報曰:「如是。如兄來 T 0623c28教。」
是時,真淨王將斛淨、叔淨釋、甘露釋, T 0623c29至世尊所。爾時,駕四馬之車,白車、白蓋,白馬 T 0624a01駕之;第二釋乘青車、青蓋,青馬駕之;第三 T 0624a02釋乘黃車、黃蓋,黃馬駕之;第四釋乘赤車、 T 0624a03赤蓋,赤馬駕之。是時,諸釋有乘象者,有乘 T 0624a04馬者,皆悉來集。
是時,世尊遙見真淨王將 T 0624a05諸釋眾而來,告諸比丘:「汝等觀此釋眾,并 T 0624a06觀真淨王眾。比丘當知,三十三天出園觀 T 0624a07時,亦如此法,無有異。」
是時,阿難乘大白 T 0624a08象、白衣、白蓋。見已,告諸比丘:「汝等見此阿 T 0624a09難釋乘白象、白衣不乎?」
諸比丘對曰:「唯然, T 0624a10世尊!我等見之。」
佛告比丘:「此人當出家學 T 0624a11道,第一多聞,堪侍左右。汝等見此阿那律 T 0624a12不乎?」
諸比丘對曰:「唯然,見之。」
佛告比丘:「此 T 0624a13人當出家學道,天眼第一。」
是時,真淨王及兄 T 0624a14弟四人,并難陀、阿難,皆步進前,除去五好,至 T 0624a15世尊所,頭面禮足,在一面坐。爾時,真淨王 T 0624a16白佛言:「昨日夜生此念:『剎利之眾不應將 T 0624a17梵志眾,還將剎利眾,此是其宜。』我便告令 T 0624a18國中:『諸有兄弟二人者,便取一人,使出家 T 0624a19學道。』唯願世尊聽出家學道。」
世尊告曰:「善 T 0624a20哉!大王!多所饒益,天、人得安。所以然者, T 0624a21此善知識良祐福田,我亦緣善知識,得 T 0624a22脫此生、老、病、死。」是時,諸釋眾便得為道。
是 T 0624a23時,真淨王白世尊曰:「唯願世尊教誨此新 T 0624a24比丘,當如教誨優陀耶!所以然者,此優陀 T 0624a25耶比丘極有神力。願優陀耶比丘恒在宮中 T 0624a26教化,使眾生之類,長夜獲安隱。所以然者, T 0624a27此比丘極有神力,我初見優陀耶比丘,便 T 0624a28發歡喜之心。我便作此念:『弟子尚有神力, T 0624a29況彼如來而無此神力乎?』」
世尊告曰:「如是, T 0624b01大王!如大王教,此優陀耶比丘極有神力, T 0624b02有大威德。」
爾時,世尊告諸比丘:「第一弟子,博 T 0624b03識多知,國王所念,所謂阿若拘鄰比丘是。能 T 0624b04勸化人民,優陀耶比丘是。有速疾智,所謂 T 0624b05摩訶男比丘是。恒喜飛行,所謂須婆休比丘 T 0624b06是。空中往來,所謂婆破比丘是。多諸弟子, T 0624b07所謂優毘迦葉比丘是。意得觀空,所謂江迦 T 0624b08葉比丘是。意得止觀。所謂象迦葉比丘是。」
T 0624b09爾時,世尊廣與真淨王說微妙之法。爾時,王 T 0624b10聞法已,即從坐起,頭面禮足,便退而去。
爾 T 0624b11時,諸比丘及真淨王聞佛所說,歡喜奉行。
T 0624b12
增壹阿含經卷第十五
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was sitting under the bodhi tree when he first became a Buddha.
Who to Teach First
SC 2It was then that the Bhagavān had this thought, “Now, I have attained this profound teaching that’s hard to understand, hard to comprehend, hard to realize, and hard to know. It’s an extremely subtle and sublime knowledge that I’ve realized and known. Now, to whom will I explain this teaching first? Who’ll understand this teaching of mine?”
SC 3The Bhagavān then thought, “Āḷāra Kālāma’s faculties are fully matured. He should be the first to be liberated. He had helped me come into possession of this teaching, too.”
SC 4After he had that thought, there was a god in the sky that said to the Bhagavān, “Āḷāra Kālāma died seven days ago.”
SC 5The Bhagavān again had this thought, “How terrible for him! He didn’t hear my teaching, but he reached the end of his life. If he had heard my teaching, he would have been liberated immediately.”
SC 6The Bhagavān again had this thought, “To whom will I explain this teaching first? Who can I liberate? Now, Udraka Rāmaputra should be the first to whom I share this teaching. After he hears my teaching, he’ll be the first to be liberated.”
SC 7When the Bhagavān had that thought, a god in the sky told him, “Just last night, he reached the end of his life.”
SC 8The Bhagavān then thought, “How terrible for Udraka Rāmaputra! He didn’t to hear my teaching, but he reached the end of his life. If he had heard my teaching, he would have been liberated immediately.”
SC 9The Bhagavān then thought, “Who’ll be the first to hear this teaching and attain liberation?” The Bhagavān then seriously contemplated this: “The five monks were of great help to me. They had followed me since I was first born.”
SC 10Again, he thought, “Where are those five monks living now?” He then used his heavenly eye to observe the five monks, who were residing at Ṛṣipatana in the deer preserve of Bārāṇasī. “I’ll go there now, and they’ll be the first to whom I explain this teaching. After they hear my teaching, they’ll be liberated.”
Seven Days at the Bodhi Tree
SC 11The Bhagavān spent seven days looking at the bodhi tree, and his eyes never closed. He then spoke these verses:
“Here I sit in this place,
Gone beyond the suffering of birth and death.
I picked up the ax of wisdom
And cut forever its root origin.
The god king came to me,
A host of māras did, too.
With the methods to defeat them,
I made them put on the cap of liberation.
Now, here under this tree,
Seated on a diamond seat,
I’ve won omniscience,
Acquired unobstructed wisdom.
Here I sit under this tree,
Observing the suffering of birth and death.
Gone [for me] is the origin of death,
Old age, and illness forever, without remainder.”
SC 12After the Bhagavān said these verses, he then rose from his seat and set out for Bārāṇasī.
The Ascetic Upaka
SC 13It was then that the ascetic Upaka saw the Bhagavān from afar. His glowing form was clear and bright, blotting out the light of the sun and moon. Upon seeing him, Upaka said to the Bhagavān, “Gautama, where does your teacher reside? On whom do you base your homeless religious training? What teaching do you always discuss with delight? Where are you coming from? Where are you going?”
SC 14The Bhagavān then spoke these verses to that ascetic:
“I’ve become an arhat
Supreme and without comparison.
Among gods and worldly people,
I’m now unsurpassed.
“I have no teacher
And no other equal, either.
I’m the sole worthy who’s without flaw,
Cooled and no longer warmed.
Now, I will turn the Dharma wheel
And go to visit Kāśī.
Now, with the happiness of immortality,
I’ll reveal their benightedness.
The realm of Bārāṇasī,
The royal domain of Kāśī,
That’s where the five monks are living
To whom I’m going to explain this subtle teaching.
They will swiftly be awakened
And realize their contaminants have ended.
Eliminating the origin of what’s evil,
Therefore, is the greatest thing.”
SC 15That ascetic mockingly bowed his head and put his palms together. He then snapped his fingers with a smile, set out on the road, and departed.
Converting the Five Monks
SC 16The Bhagavān went on to Bārāṇasī. When the five monks saw the Bhagavān coming in the distance, they held a discussion about him. “There is the ascetic Gautama coming in the distance. He has a confused disposition, and his mind isn’t focused. We shouldn’t speak with him again. Don’t get up to look at him or ask him to sit.”
SC 17Those five monks then spoke this verse:
“That man shouldn’t be respected,
Nor should he be befriended.
Again, don’t say, ‘Welcome!’
Don’t ask him to sit down, either.”
SC 18After the five monks spoke these verses, they all fell silent. When the Bhagavān arrived, he slowly approached the five monks. They got up to watch him come. Some of them prepared a seat; others fetched water. The Bhagavān then took the seat that was readied in front of them, and he thought, “These foolish men aren’t capable of keeping their own rules.”
SC 19The five monks then called the Bhagavān “friend,” and he told the five monks, “Don’t say ‘friend’ to an unsurpassed Tathāgata, a completely and correctly awakened one. Why is that? I’m an unsurpassed arhat, a completely and correctly awakened one who has gained the good of immortality. You should focus your thoughts and listen to my teaching.”
SC 20The five monks then said to the Bhagavān, “Gautama, when you practiced asceticism before, you still weren’t able to attain the state of a superior man. How could someone whose thinking was confused say today that he has attained awakening?”
SC 21The Bhagavān told them, “How is it, five monks? Have you ever heard me tell a lie before?”
The five monks said, “No, Gautama.”
SC 22The Bhagavān told them, “The Tathāgata, the Completely and Correctly Awakened One, has attained immortality. You should focus your minds and listen to my teaching.” The Bhagavān then thought, “I can train these five men now.”
Turning the Dharma Wheel
SC 23The Bhagavān then told the five monks, “You should know, there are these four truths. What are the four? The truth of suffering, truth of suffering’s formation, truth of suffering’s cessation, and the truth of suffering’s escape.
SC 24“What’s called the truth of suffering? It’s the suffering of birth, suffering of old age, suffering of illness, suffering of death, suffering of sorrow, and suffering of grief, which cannot be described. It’s also the suffering of association with what’s disliked, suffering of separation from what’s liked, and the suffering of not getting what’s desired. Essentially speaking, it’s the suffering of the five proliferating aggregates. This is called the truth of suffering.
SC 25“What’s the truth of suffering’s formation? It’s the factors of acquiring and craving. When accumulating tirelessly, the mind constantly covets and attaches to them. This is called the truth of suffering’s formation.
SC 26“What’s the truth of suffering’s cessation? It’s possible to make that craving cease and end without remainder so that it doesn’t arise anymore. This is called the truth of suffering’s cessation.
SC 27“What is the truth of suffering’s escape? It’s the noble eightfold path, which is right view, right control, right speech, right action, right livelihood, right method, right mindfulness, and right concentration. This is called the teaching of the four truths.
SC 28“Moreover, five monks: In this teaching of the four truths, the truth of suffering is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering is real, certain, neither fake nor false, and doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering.
SC 29“The truth of suffering’s formation is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering’s formation is real, certain, neither fake nor false, and doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering’s formation.
SC 30“The truth of suffering’s cessation is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering’s cessation is real, certain, neither fake nor false, and doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering’s cessation.
SC 31“The truth of suffering’s escape is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering’s escape is real, certain, and neither fake nor false, and it doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering’s escape.
SC 32“Five monks, you should know that these are the three turnings and twelve steps of the four truths. Someone who doesn’t truly know them doesn’t achieve the unsurpassed, correct, and complete awakening. It was by discerning these four truths in three turnings and twelve steps and truly knowing them that I achieved the unsurpassed, correct, and complete awakening.”
SC 33Once he had explained this teaching, Ajñāta Kauṇḍinya’s dust and defilements were removed, and his Dharma eye was purified.
SC 34The Bhagavān then addressed Kauṇḍinya, “Have you grasped and attained the teaching now?”
Kauṇḍinya replied, “So it is, Bhagavān! I’ve attained and grasped the teaching.”
SC 35After hearing this discourse, the spirit of the earth called out, “The Tathāgata has turned the Dharma wheel while staying in Bārāṇasī. None of the gods, worldly people, and demons or the god Māra, humans, and non-humans could turn it, but today the Tathāgata has turned the Dharma wheel. Ajñāta Kauṇḍinya has also attained the teaching of immortality!”
SC 36The four god kings then heard the earth spirit’s call and passed it on: “Ajñāta Kauṇḍinya has attained the teaching of immortality!”
SC 37The Trāyastriṃśa gods also heard it from the four god kings … the Yama gods heard it from the Trāyastriṃśa gods … the Tuṣita gods in turn heard the call … the Brahma gods also heard the call: “The Tathāgata has turned the Dharma wheel while staying in Bārāṇasī. None of the gods, worldly people, and demons or the god Māra, humans, and non-humans could turn it, but today the Tathāgata has turned the Dharma wheel. Ajñāta Kauṇḍinya has also attained the teaching of immortality!”
Then, he was named Ajñāta Kauṇḍinya.
Teaching the Five Monks
SC 38It was then that the Bhagavān told the five monks, “You two stay here and receive instruction, and you three go and solicit alms. When the three of you have gotten alms, then the six of us will share a meal. You three then will stay to receive instruction, and you two go to solicit alms. When the two of you have gotten alms, the six of us will take our meal.”
SC 39He instructed them for a time, and they achieved the birthless quality of Nirvāṇa, and they became birthless, healthy, ageless, and deathless. The five monks then all became arhats. At that point, there were five arhats, and the Buddha was the sixth in the three thousand great thousand lands.
SC 40It was then that the Bhagavān addressed the five monks, “All of you go together to solicit alms from people. Be heedful, and don’t go alone. When there are sentient beings whose faculties are fully matured, they should be liberated. I’m going to Uruvilvā to explain the teaching there.”
Taming the Evil Serpent
SC 41The Bhagavān then went to the region of Uruvilvā. Kāśyapa was living near there on the shore of the Nairañjanā River. He knew astronomy and geography, and there was nothing he couldn’t comprehend. He even knew how to calculate the number of leaves in a tree. He led 500 disciples, whom he instructed daily. Not far away from Kāśyapa, there was a cave where a poisonous serpent lived.
SC 42It was then that the Bhagavān visited Kāśyapa. When he arrived, he said to Kāśyapa, “I’d like to stay for the night in the cave. If you would permit me, I’ll go there to stay.”
Kāśyapa replied, “I don’t care about it, but there is a poisonous serpent there that’s frightful and dangerous.”
SC 43The Bhagavān told him, “Kāśyapa, that’s no problem. That serpent won’t hurt me. I just need permission to stay there for the night.”
Kāśyapa replied, “If you want to stay there, then do as you like.”
SC 44The Bhagavān then went to the cave and prepared a seat for the night. Sitting down cross-legged with upright body and mind, he fixed his attention to what was in front of him. The poisonous serpent saw the Bhagavān sitting there and spat flaming venom at him. The Bhagavān at that moment had entered a concentration of kindness. He emerged from that concentration of kindness and entered a concentration of blazing light. The serpent’s fire and the Buddha’s light met at the same time.
SC 45Kāśyapa got up that night to look up at the stars, and he saw the light of a large fire in the cave. Seeing that, he told a disciple, “This ascetic Gautama is handsome looking, but now he’s being killed by that serpent. What a pity! I told him earlier that it was there. ‘There’s an evil serpent; you can’t stay the night there.’” Kāśyapa then told his 500 disciples, “Get pitchers of water and high ladders and go douse that fire! Save that ascetic from danger!”
SC 46Kāśyapa then led his 500 disciples to the cave to put out the fire. Some of them carried water and others brought ladders, but they weren’t able to put out the fire. It was the Bhagavān’s power that did. The Bhagavān then entered the concentration of kindness and slowly made that serpent stop being hateful. The evil serpent’s mind then became fearful. It ran east and west, trying to leave the cave, but it wasn’t able to find the exit. The evil serpent then went up to the Tathāgata and coiled up in his alms bowl.
SC 47The Bhagavān stroked the evil serpent’s body with his right hand and spoke these verses:
“Serpent, escaping is so hard to do,
One serpent and another have come together.
Serpent, don’t have harmful thoughts;
Escaping is so hard to do, serpent.
Numbering like the Gaṅgā River’s sands,
Buddhas [have attained] parinirvāṇa.
You haven’t met any of them;
That’s the reason for your hateful fire.
Have good thoughts towards the Tathāgata;
Quickly abandon this hateful venom.
Once the venom of hate is gone,
Then you’ll be born up in heaven.”
SC 48The evil serpent then stuck out its tongue, licked the Tathāgata’s hand, and looked up at his face.
SC 49Early the next morning, the Bhagavān carried the evil serpent in his hand and went to Kāśyapa. He said to Kāśyapa, “Here is the evil serpent that’s so dangerous. I’ve tamed it.”
SC 50When he saw the evil serpent, Kāśyapa was terrified and said to the Bhagavān, “Stop! Stop, ascetic! Don’t come any closer! That serpent looks ready to strike!”
The Bhagavān said, “Kāśyapa, don’t be afraid. I’ve tamed it. It’ll never harm anyone because this serpent has accepted my instruction.”
SC 51Kāśyapa and his 500 disciples then praised this unprecedented thing. [He thought,] “Amazing! Extraordinary! This ascetic Gautama has such miraculous power; he can tame this evil serpent and make it do no evil. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 52Kāśyapa said to the Bhagavān, “Great ascetic, will you accept my invitation to stay for ninety days? I’ll supply you with all the clothes, food, seats, bedding, and medicines that you’ll need.”
The Bhagavān then silently accepted Kāśyapa’s invitation.
SC 53The Bhagavān released that magical serpent into the ocean, and the evil serpent lived a short time longer. After its life ended, it was born up in the heaven of the four god kings. The Tathāgata then returned to stay in the cave.
Miraculous Gifts
SC 54Kāśyapa arranged for a variety of foods to be provided, and then went and said to the Bhagavān, “A meal is ready; you can go eat.”
The Bhagavān told him, “Kāśyapa, you go first; I’ll be right behind you.” After Kāśyapa left, he went to the top of Jambudvīpa and picked a Jambu fruit from under the Jambu tree there. He then returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 55When he saw the Bhagavān there in the cave, Kāśyapa said to him, “Ascetic, what path did you take to come to this cave?”
The Buddha told Kāśyapa, “After you left, I went to the top of Jambudvīpa and picked a Jambu fruit from under the Jambu tree. I then returned to sit here. Kāśyapa, you should know that this fruit is fragrant. You can take it for your meal.”
SC 56Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Then Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. He’s even able to go to the top of Jambudvīpa and pick this delicious fruit. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 57After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
SC 58Early in the morning, Kāśyapa went to the Buddha and said to him, “Mealtime has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa left, he went to the top of Jambudvīpa and picked an āmalaka fruit. He then returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 59Kāśyapa said to the Bhagavān, “Ascetic, what path did you take to get here?”
The Bhagavān told him, “After you left, I went to the top of Jambudvīpa, picked this fruit, and came back. It’s very fragrant. If you need it, you can have it to eat.”
SC 60Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.”
Then Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. After I left, he picked this fruit and came back. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 61After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
SC 62The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and said, “Mealtime has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa had left, the Bhagavān went north to Uttarakuru, took some naturally cooked rice and came back. He returned to the cave before Kāśyapa arrived.
SC 63Kāśyapa asked the Buddha, “Ascetic, what path did you take to come and sit here?”
The Bhagavān told him, “Kāśyapa, you should know that after you left, I went to Uttarakuru and brought back some naturally cooked rice. It’s very fragrant. Kāśyapa, if you need it, you can have it to eat.”
SC 64Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 65After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
SC 66The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and said, “Mealtime has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa left, the Bhagavān went to Godānīya, picked a black myrobalan fruit, and returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 67Kāśyapa asked the Buddha, “Ascetic, what path did you take to come and sit here?”
The Buddha told Kāśyapa, “After you left, I went to Godānīya and brought back this fruit. It’s very fragrant. Kāśyapa, if you need it, you can take it to eat.”
SC 68Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 69After he had eaten, the Bhagavān then returned to his place for the night.
SC 70The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and said, “The time has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa left, the Bhagavān went to Pūrvavideha, picked a bahera myrobalan fruit, and returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 71Kāśyapa asked the Buddha, “Ascetic, what path did you take to come and sit here?”
The Buddha told Kāśyapa, “After you left, I went to Pūrvavideha and brought back this fruit. It’s very fragrant. Kāśyapa, if you need it, you can take it to eat.”
SC 72Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 73After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
The Ceremonial Fire
SC 74Kāśyapa then was going to perform a large sacrifice. His 500 disciples held axes to chop firewood, but once they had lifted the axes in their hands, the axes wouldn’t go down. Kāśyapa thought, “Surely, this is that ascetic’s doing.” Kāśyapa then asked the Bhagavān, “We would like to chop firewood. Why won’t the axes go down?”
The Bhagavān asked, “You would like the axes to go down?”
“We would like them to go down.” The axes immediately dropped.
SC 75After the axes had gone down, they couldn’t lift them again. Kāśyapa again asked the Buddha, “Why won’t the axes go up?”
The Bhagavān asked him, “You would like the axes to go up?”
“We would like them to go up.” The axes immediately rose up.
SC 76Kāśyapa’s disciples then went to start the fire, but the fire wouldn’t light. Kāśyapa again thought, “Surely, this is the ascetic Gautama’s doing.” Kāśyapa said to the Buddha, “Why won’t the fire light?”
The Buddha asked Kāśyapa, “You would like to light the fire?”
“We would like to light it.” The fire immediately started.
SC 77They then went to douse the fire, but the fire wouldn’t go out. Kāśyapa asked the Buddha, “Why won’t the fire go out?”
The Buddha asked, “You would like the fire to go out?”
“We would like it to go out.” The fire immediately went out.
SC 78Kāśyapa then thought, “This ascetic Gautama has a handsome countenance; it’s extraordinary for this world. Tomorrow, I’m going to perform a large sacrifice, so the king and the people will come and gather. If they see this ascetic, I won’t get their offerings anymore. It would be a great fortune if that ascetic didn’t come tomorrow.”
SC 79Knowing that thought in Kāśyapa’s mind, the Bhagavān went to Uttarakuru the next day early in the morning. He took some naturally cooked rice there, went to Godānīya to get milk, and then went to Lake Anavatapta to eat. At the end of the day, he returned to the cave at sunset to spend the night.
SC 80The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and asked, “Ascetic, why didn’t you come yesterday?”
The Buddha told Kāśyapa, “Yesterday, you had the thought, ‘This ascetic Gautama has a handsome countenance; it’s extraordinary for this world. Tomorrow will be my large sacrifice. If the king and the people see him, they’ll stop supporting me. It would be a great fortune if that ascetic didn’t come.’ I immediately knew that thought in your mind, so I went to Uttarakuru to get some naturally cooked rice, went to Godānīya for milk, and then went to Lake Anavatapta to eat. At the end of the day, I returned to the cave at sunset to spend the night.”
SC 81Kāśyapa again had this thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
The Gods Visit the Bhagavān
SC 82After the Bhagavān had eaten, he returned to the cave for the night. That night, the four god kings visited the Bhagavān and listened to the sūtra teachings. The four god kings were radiant, and the Buddha also emitted a great radiance. They illuminated the mountain forest, which blazed with a single color.
SC 83Kāśyapa saw their radiance that night, so he went to the Bhagavān the next day. Upon arriving, he said, “What was so radiant that it illuminated the mountain forest last night?”
The Bhagavān told him, “The four god kings came to visit me and listened to the teaching. It was the radiance of those four god kings.”
SC 84Kāśyapa again had the thought, “This ascetic Gautama has such miraculous abilities, even the four god kings come to listen to his sūtra teachings. Even though he has this power, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 85After the Bhagavān had eaten, he returned to the cave for the night. In the middle of the night, Śakra the Lord of the Gods visited the Bhagavān to listen to the teachings. The Lord of the Gods’ radiance also illuminated the mountain.
SC 86That night, Kāśyapa got up and looked at the stars, and he saw this radiance. Early the next morning, he went to the Bhagavān and asked, “Gautama, what was that extraordinary radiance last night? What were the causes and conditions for it?”
The Bhagavān told him, “Last night, the Lord of the Gods visited me to listen to the sūtras. It was just his radiance.”
SC 87Kāśyapa again had the thought, “This ascetic Gautama has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even the Lord of the Gods visits him to listen to his sūtra teachings. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 88After the Bhagavān had eaten, he returned to the cave for the night. In the middle of the night, the god king Brahmā emitted a great radiance that illuminated the mountain while he visited the Bhagavān and listened to the sūtra teachings.
SC 89That night, Kāśyapa got up and saw the radiance. The next day he went to the Bhagavān and asked, “Last night, there was a radiance that illuminated twice as much as before. It was brighter than the sun and moon! What were the causes and conditions for it?”
The Bhagavān told him, “Kāśyapa, you should know that last night the great god king Brahmā visited me to listen to the sūtra teachings.”
SC 90Kāśyapa again thought, “This ascetic Gautama has such miraculous ability. Even our ancestral father visits this ascetic to listen to his sūtra teachings. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
Washing the Bhagavān’s Robes
SC 91The Bhagavān had obtained a fivefold robe that was in tatters, and he thought about washing it. He thought, “Where will I go to wash this robe?”
Śakra the Lord of the Gods then knew that thought in the Bhagavān’s mind. He magically created a bathing pool and said to the Bhagavān, “You can wash your robes there.”
SC 92The Bhagavān again had the thought, “Where will I lay out the robe to wash it?”
The four god kings then knew that thought in the Bhagavān’s mind, so they presented a large, square stone to him, putting it next to the water. They said to the Bhagavān, “You can lay out your robes here.”
SC 93The Bhagavān had another thought, “Where will I hang these robes to dry?”
A tree spirit knew that thought in the Bhagavān’s mind, so it lowered a tree limb. It said to the Bhagavān, “Please dry your robes here.”
SC 94The next morning, Kāśyapa went to the Bhagavān and asked him, “It wasn’t here before, but now here’s this pool. It wasn’t here before, but now here’s this tree [limb]. It wasn’t here before, but now here’s this stone. What causes and conditions has brought these things into being?”
The Bhagavān told him, “Last night, Śakra the Lord of the Gods knew that I wanted to wash my robes, so he created this bathing pool. I then had the thought, ‘Where will I lay out my robes to wash them?’ The four god kings knew that thought in my mind, and they brought me this stone. I also thought, ‘Where will I hang up these robes to dry?’ A tree spirit knew that thought in my mind, so it lowered this tree limb.”
SC 95Kāśyapa again thought, “This ascetic Gautama may be miraculous, but it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
Walking on Water
SC 96After the Bhagavān had eaten, he returned to his place for the night. In the middle of the night, a large, black cloud appeared, and it brought a great rainstorm. The great Nairañjanā River became a raging torrent. Kāśyapa thought, “The river is a raging torrent. Surely that ascetic will be swept away! I’ll go look for him now!”
SC 97Kāśyapa and his 500 disciples went to river, and there was the Bhagavān walking on top of the water, and his legs weren’t wet. When Kāśyapa saw the Bhagavān walking on the water from a distance, he thought, “Amazing! Extraordinary! The ascetic Gautama can walk on water. I’m able to walk on water, too, but I’m not able to keep my legs from getting wet. Despite this ascetic’s miracles, it’s not the same as the truth I’ve attained.”
The Conversion of Uruvilvā Kāśyapa
SC 98The Bhagavān said to Kāśyapa, “You are still not an arhat, and you don’t know the awakening of an arhat. You aren’t even aware of the name ‘arhat,’ so how could you attain that awakening? You are a blind man without the eyes to see. The Tathāgata has performed so many miracles, yet you say, ‘It’s not the same as the truth I’ve attained.’ You say, ‘I’m able to walk on water.’ Now is the right time. Can you walk on the water with me? You can abandon the wrong views in your mind now, and nothing will cause you to experience this suffering for long.”
SC 99When he heard what the Bhagavān said, Kāśyapa faced him and bowed at his feet. “Now, I repent my mistake, deeply knowing what’s not the teaching. I’ve come into contact with a Tathāgata. Please accept my repentance!” He repeated this three times.
The Bhagavān told him, “I accept your repentance since you’re able to recognize that you’ve come into contact with a Tathāgata.”
SC 100Kāśyapa then addressed his 500 disciples, “Each of you should do what you think is fitting, but I’m taking refuge in the ascetic Gautama.”
SC 101His 500 disciples then said to Kāśyapa, “We had that thought about the ascetic Gautama before when he tamed the serpent. We immediately wanted to take refuge in him. If the teacher himself takes refuge in Gautama, then we 500 disciples will all take refuge in Gautama as well.”
Kāśyapa replied, “Now is the right time. It was just that my mind was attached to this foolishness: Seeing so many miracles, my mind still didn’t understand, so I said, ‘My truth is correct.’”
SC 102Kāśyapa then led his 500 disciples who surrounded him in front and behind, and they went to the Bhagavān. They bowed their heads at his feet and withdrew to stand to one side. He then said to the Bhagavān, “Please, Bhagavān, permit us to become ascetics and cultivate the pure practice.”
SC 103The eternal rule of Buddhas is that if they say, “Welcome, monk!” then one becomes an ascetic. The Bhagavān told Kāśyapa, “Welcome, monk! This teaching is subtle. Cultivate the religious life well!” The robes that Kāśyapa and the 500 disciples were wearing all turned into reddish-brown robes, and their hair fell out on its own. They looked like they shaved their heads, and it lasted for seven days. Kāśyapa then took his implements for studying magic and incantations and tossed them all into the river.
SC 104The 500 disciples then said to the Bhagavān, “Please, Bhagavān, permit us to become ascetics!”
The Bhagavān said, “Welcome, monks!” The 500 disciples became ascetics wearing reddish-brown robes, and the hair on their heads fell out on its own.
The Conversion of Nadī Kāśyapa
SC 105They followed the river downstream to where the ascetic named Nadī Kāśyapa lived on the riverbank. Nadī Kāśyapa saw all their implements of magical incantation floating in the water. He then thought, “What? Did my older brother drown in the river?” Nadī Kāśyapa then led his 300 disciples upstream searching for his brother’s body. He saw the Bhagavān sitting under a tree from a distance, surrounded in front and behind by Great Kāśyapa and his 500 disciples. He said, “What’s the reason for this marvel? A man who was once a teacher now is a disciple! Why did my older brother become a disciple of that ascetic that he’s accompanying?”
SC 106Uruvelā Kāśyapa replied, “It’s wonderful! There are no faults here.” He then spoke a verse to Nadī Kāśyapa,
“This teacher is esteemed by humans and gods;
He is the teacher whom I serve now.
Buddhas arise in the world,
But it’s so rare to meet one!”
SC 107When Nadī Kāśyapa heard the name “Buddha,” he felt ecstatic and danced with joy, unable to control himself. He went before the Bhagavān and said, “May I hear about the path?”
The Bhagavān told him, “Welcome, monk! Cultivate the religious life well until the end of suffering!”
SC 108Nadī Kāśyapa then became an ascetic along with his 300 disciples. All of them wore reddish-brown robes, and their hair fell out on its own. Nadī Kāśyapa and his 300 disciples threw all their implements of magical incantation into the water.
The Conversion of Gayā Kāśyapa
SC 109They then followed the river downstream to where the ascetic named Gayā Kāśyapa was living on the riverbank. He saw the implements of magical incantation floating in the river from a distance and thought, “I have two brothers upstream who are religious mendicants. Now, all these implements of magical incantation are floating in the river. Surely, the river has killed those two older Kāśyapas!” He then led his 200 disciples upstream until they reached that place where the incantations had been studied. He saw from a distance that his two brothers had become ascetics, so he said, “What marvel is this? Men who before were honored now are this ascetic’s disciples!”
Kāśyapa replied, “It’s so wonderful! There are no faults here.”
SC 110Gayā Kāśyapa then thought, “Now, these two brothers of mine knew much and were erudite. This must be a virtuous place for my two brothers to stay here as religious mendicants. I can also stay here as a religious mendicant.” Gayā Kāśyapa then went before the Bhagavān and said, “Please, Bhagavān, permit me to become an ascetic!”
The Bhagavān told him, “Welcome, monk! Cultivate the religious practice well until the end of suffering.”
SC 111Gayā Kāśyapa then became an ascetic who wore the reddish-brown robes, and his hair fell out on its own. He looked like he shaved his head, and it lasted for seven days.
Three Ways of Teaching
SC 112The Bhagavān then stayed there on the riverbank under a banyan tree. It hadn’t been long since he became a Buddha, and he led a thousand disciples. They were the elders and resided there a long time. The Bhagavān taught them in three ways. What were the three? He taught them with miraculous abilities, taught them with verbal teachings, and taught them with instructions.
SC 113How did he teach them with miraculous abilities? The Bhagavān sometimes divided into any number of forms and then combined them into one again. Sometimes, he disappeared and reappeared. Sometimes, he passed through stone walls without being obstructed at all. Sometimes, he entered the earth as though it were a flowing river without being blocked by it. Sometimes, he sat cross-legged and went up into the sky like a bird flying without being obstructed at all. He also could be like a giant volcano that produces smoke without measure. His great miraculous power wasn’t limited even by the sun and moon, which he could touch with his hand. He could go physically up to the Brahma heaven. Thus, the Bhagavān demonstrated miraculous abilities.
SC 114How did he teach them with verbal teachings? The Bhagavān instructed the monks, “You must abandon that and establish this.” “You must stay close to this and away from that.” “You must think this and let that go.” “You must contemplate this and not contemplate that.”
“What must be cultivated and not cultivated? You must cultivate the seven factors of awakening, and the three bonds are to be ceased.”
“What must be contemplated and not contemplated? You must contemplate the three bonds and the virtues of the ascetic, which are the happiness of escape, the happiness of having no hostility, and the happiness of having no anger. What must not be contemplated? That’s the three pains of the ascetic. What are the three? They are contemplation of desires, contemplation of hostility, and the contemplation of anger.”
“What’s to be thought and not thought? You must think about the truth of suffering, think about the truth of formation, think about the truth of cessation, and think about the truth of the path. Don’t think about wrong truths, which are the view of permanence, view of impermanence, view of limits, and view of limitlessness as well as what’s a person, what’s not the soul, what’s not the person, ‘the Tathāgata’s life ends,’ ‘the Tathāgata’s life doesn’t end,’ ‘existence ends,’ ‘existence doesn’t end,’ and ‘neither existence nor inexistence ends.’ Don’t think those things.”
SC 115How did he teach with instructions? “Furthermore, you must do this to let go and shouldn’t do that to let go.” “Do this when you arrive; you shouldn’t do that when you arrive.” “Be silent, or do this when you speak.” “You must hold your robes this way; you shouldn’t hold your robes in that way.” “You should enter a town this way; you shouldn’t enter a town in that way.” This was how he taught them with instructions.
SC 116The Bhagavān then taught those 1,000 monks in these three ways. When the monks had received the Buddha’s teaching, all 1,000 of them became arhats, and the Bhagavān saw that those 1,000 monks had become arhats. At that point, the region of Jambudvīpa had 1,000 arhats, plus the five monks and the Buddha made six teachers. He then turned to sit facing Kapilavastu.
The Return to Kapilavastu
SC 117Then Uruvilvā Kāśyapa had the thought, “Why does the Bhagavān sit facing Kapilavastu?” Uruvilvā Kāśyapa then knelt down before the Bhagavān and asked, “Judge not, Tathāgata, but why do you sit facing Kapilavastu?”
The Bhagavān told him, “When a Tathāgata is present in the world, he should do five things. What are the five? First is to turn the Dharma wheel. Second is to explain the teaching to his father. Third is to explain the teaching to his mother. Fourth is to lead ordinary men to establish the bodhisattva practice. Fifth is to give the prediction [of becoming a Buddha] to a bodhisattva. These, Kāśyapa, are the five things a Tathāgata appears in the world to do.”
SC 118Uruvilvā Kāśyapa again thought, “It’s because the Tathāgata is thinking of his native kinsmen that he sits facing that way.”
SC 119The five monks eventually came to the bank of the Nairañjanā River. They bowed their heads to the Bhagavān’s feet when they arrived and then sat to one side.
SC 120Venerable Udāyī then saw the Bhagavān sitting facing Kapilavastu from a distance. Seeing that, he thought, “Surely, the Bhagavān will go to Kapilavastu to see his relatives there.” Udāyī then knelt before the Bhagavān and said, “I have a question now that’s worthy of asking, if you would please explain it fully.”
The Bhagavān told him, “If you have a question, then ask it.”
SC 121Udāyī said to the Bhagavān, “Examining the Tathāgata’s mind, [I see] he wants to head for Kapilavastu.”
The Bhagavān told him, “It’s as you say. Udāyī, you should know that before I visit King Śuddhodana, I need to be his equal, then after that I will go. Why is that? Before the warrior caste honors someone, a messenger announces them. Afterward, the Tathāgata will go. When you arrive, tell the king this: ‘In seven days, the Tathāgata will come to see the king.’”
SC 122Udāyī replied, “Yes, Bhagavān.” Udāyī then rose from his seat, adjusted his robes, bowed at the Bhagavān’s feet, and then disappeared from in front of him. He went to Kapilavastu to visit King Śuddhodana. He appeared standing before the king.
SC 123King Śuddhodana was seated in a great hall with his concubines. Udāyī then flew up into the air. King Śuddhodana saw Udāyī holding a bowl in his hand, so he picked up his staff and stood before him. Looking at [Udāyī], he was frightened and said, “What is this person? Is he human or non-human? A god or demon? A yakṣa, rākṣasa, god, nāga, or demonic spirit?”
SC 124King Śuddhodana asked Udāyī, “What sort of person are you?” and spoke this verse to Udāyī:
“Are you a god, demon,
Gandharva, or something else?
Now, who are you?
This is what I want to know.”
SC 125Udāyī then replied to the king with verse:
“I am neither a god
Nor a gandharva.
Here in Kapilavastu,
The great king is a defiled human.
Once he destroyed 18 million [demons],
That host of corrupt Māra Pāpīyān,
My teacher became Śākyamuni.
I am his true disciple.”
SC 126King Śuddhodana again said to Udāyī in verse:
“Who has destroyed 18 million [demons],
That host of corrupt Māra Pāpīyān?
Who is this ‘Śākyamuni’?
Now, I implore you to tell me.”
SC 127Udāyī then spoke these verses:
“When the Tathāgata was first born,
There was an earthquake in heaven and earth.
He vowed to complete the task,
So today he’s called ‘Siddhârtha.’
He defeated 18 million [demons],
That host of corrupt Māra Pāpīyān.
He’s called Śākyamuni
Because today he achieved the Buddha path.
That man who is the lion of the Śākyas
Was ‘Gautama’ when he was a disciple.
Today, I’ve become an ascetic
Who was formerly named Udāyī.”
SC 128When he heard this, King Śuddhodana was overjoyed and couldn’t control himself. He said to Udāyī, “How is it, Udāyī? The prince Siddhârtha exists as he did before?”
Udāyī replied, “The Buddha Śākyamuni is present today.”
SC 129The king asked, “He has become a Buddha now?”
Udaya replied, “He has now become a Buddha.”
SC 130The king again asked, “Where is the Tathāgata today?”
Udāyī replied, “The Tathāgata is presently in Magadha sitting under a banyan tree.”
SC 131The king replied, “By what disciples is he served?”
Udāyī replied, “A million gods, a thousand monks, and the four god kings are always present to his left and right.”
SC 132The king asked, “What do the robes that he wears look like?”
Udāyī replied, “The robe and lower garment worn by the Tathāgata are called ‘reddish-brown.’”
SC 133The king asked, “What food does he eat?”
Udāyī replied, “The Tathāgata’s body eats teachings as its food.”
SC 134The king again asked, “How is it, Udāyī? Can I meet the Tathāgata?”
Udāyī replied, “Fear not, king! In seven days, the Tathāgata will come and enter this city.”
SC 135The king was overjoyed and couldn’t control himself. He served food and drink to Udāyī with his own hands as an offering.
SC 136King Śuddhodana then beat a great drum and ordered the kingdom’s people to repair the roads, remove refuse, sprinkle the ground with perfume, set up banners and canopies, play music, and other indescribable things. He also ordered all the deaf, blind, and mute people in the kingdom to stay inside until after seven days had passed, and then everyone would come into the city. When King Śuddhodana heard that the Buddha would be coming to the city in seven days, he couldn’t sleep.
Teaching Śuddhodana
SC 137When the seventh day arrived, the Bhagavān then thought, “Now, it would be fitting to use my miraculous abilities to go to Kapilavastu.” The Bhagavān then led the monks, who surrounded him in front and behind, and went to Kapilavastu. Upon arriving, he then went to the cedar park to the north of the city.
SC 138Hearing that the Bhagavān had passed through Kapilavastu and was in the cedar park to the north, King Śuddhodana then led a crowd of Śākyas to visit the Buddha.
SC 139The Bhagavān thought, “If King Śuddhodana comes here in person, this won’t be fitting for me. I’ll go and meet with him. Why is that? A father and mother’s love is deep, and their nurturing feeling is great.” The Bhagavān then led a crowd of monks to the city gate while flying seven fathoms from the ground.
SC 140King Śuddhodana saw the Bhagavān, who was handsome without comparison. He was extraordinary for this world. His faculties were peaceful, lacking a multitude of thoughts, and his body was adorned by thirty-two signs and eighty excellencies. Feeling encouraged, the king bowed his head at the Bhagavān’s feet and said, “I am a king of the warrior caste named King Śuddhodana.”
SC 141The Bhagavān told him, “Let the great king’s life be without want. Therefore, great king, you should rule with the correct teaching. Don’t rule with the wrong teaching. Great king, you should know that those who rule using the correct teaching are born in a good place up in heaven when their bodies break up and their lives end.”
SC 142The Bhagavān then walked on air to King Śuddhodana’s palace. When he arrived, he prepared a seat and sat down.
SC 143When he saw the Bhagavān sitting concentrated, the king served him a meal with his own hands. When he saw that the Bhagavān was finished eating, he brought clean water, fetched a small seat, and listened to the teaching.
SC 144The Bhagavān at that point gradually explained the sublime goal to King Śuddhodana. He discussed the topics of generosity, discipline, birth in heaven, desiring impure actions, and the happiness of escape. When the Bhagavān saw that the king’s mind was open and understood his intent, he expounded the teaching that Buddhas and Bhagavāns always do: suffering, its formation, its cessation, and the path. He taught it all to the king.
SC 145There on his high seat, King Śuddhodana’s dust and defilements were removed, and his Dharma eye was purified. After he had shared this exposition of the teaching with the king, the Bhagavān then rose from his seat and departed.
Ānanda and Aniruddha Become Disciples
SC 146King Śuddhodana called a meeting of the Śākya assembly and said, “The appearance of these ascetics is disgraceful. The warrior caste leads the assembly of priests, but it’s not fitting for us. The warrior Śākya clan will recruit from the warrior assemblies to make them marvelous.”
The Śākyas replied, “Yes, great king. As the king instructs, the warriors will recruit from the warrior assemblies to make them marvelous.”
SC 147The king told those in the kingdom, “Wherever there are two brothers, one will be chosen to become an ascetic. Those who refuse will be severely punished.”
The Śākya assembly heard the king’s instruction and ordered it: “Where there are two brothers, one will be chosen to become an ascetic. Those who don’t follow this order will be severely punished.”
SC 148The Śākyan Devadatta said to the Śākyan Ānanda, “King Śuddhodana has today ordered, ‘Where there are two brothers, one will be chosen to become an ascetic.’ Now, you leave home to train on the path. I will remain at home and cultivate the occupation of the household.”
The Śākyan Ānanda rejoiced and danced. He replied, “As your brother, I’ll heed the order!”
SC 149The Śākyan Ānanda then said to the Śākyan Aniruddha, “King Śuddhodana has instructed, ‘Where there’s a second brother, one of them is to become an ascetic. Those who refuse will be severely punished.’ Now, you and I will leave home!”
SC 150When the Śākyan Aniruddha heard this, he rejoiced and danced, being unable to control himself. He replied, “Yes! As a brother, I’ll come as instructed!”
SC 151King Śuddhodana then led the Śākyans Droṇodana, Śuklodana, and Amṛtodana to the Bhagavān. They rode in four-horse team chariots. [The first] chariot was white, had a white canopy, and was pulled by white horses. The second Śākyan rode a blue chariot with a blue canopy and was pulled by blue horses. The third Śākyan rode a yellow chariot with a yellow canopy and was pulled by yellow horses. The fourth Śākyan rode a red chariot with a red canopy and was pulled by red horses. There were also Śākyans riding elephants and horses. They all went together as an assembly.
SC 152The Bhagavān saw King Śuddhodana leading this assembly of Śākyans from a distance. He told the monks, “All of you, look at that assembly of Śākyans. Look at that assembly of King Śuddhodana. Monks, you should know that when the Trayastriṃśa gods leave their garden, they do so in this way, too. There’s no difference at all.”
SC 153Ānanda rode a white elephant, wore white clothes, and had a white umbrella. Seeing him, the Bhagavān told the monks, “All of you, do you see that Śākyan Ānanda riding a white elephant and wearing white clothes?”
The monks replied, “We do, Bhagavān. We see him.”
SC 154The Buddha told the monks, “This man will leave home to train on the path. He’ll be the best in learning and worthy of waiting on me left and right. Do all of you see that Śākyan Aniruddha there?”
The monks replied, “We do. We see him.”
SC 155The Buddha told the monks, “This man will leave home and train on the path. His heavenly eye will be the best.”
SC 156King Śuddhodana and his brothers made four men, and Nandika and Ānanda were in front of them. They abandoned the five desires and went to the Bhagavān. They bowed their heads at his feet and sat to one side.
SC 157King Śuddhodana said to the Buddha, “Last night, I had this thought occur to me, ‘The assembly of warriors shouldn’t lead the assembly of priests. They should return to leading the warrior assembly. This would be fitting for them.’ I then gave the order to the kingdom, ‘Where there’s a second brother, one man will be chosen who’ll leave home and train on the path.’ Please, Bhagavān, permit them to leave home and train on the path.”
The Bhagavān told him, “Good, great king! That will be helpful. It’ll bring peace to gods and humans. Why is that? These good friends are an excellent blessing and a field of merit. To me, good friends are also a cause for attaining liberation from birth, old age, illness, and death.” That assembly of Śākyans then attained the path.
SC 158King Śuddhodana said to the Bhagavān, “Please, Bhagavān, instruct these new monks. They should be instructed like Udāyī. Why is that? That monk Udāyī has great miraculous abilities! May the monk Udāyī always reside in the palace and teach us, making sentient beings gain well-being for a long time. Why is that? This monk has great miraculous abilities. When I first met the monk Udāyī, it made my heart rejoice. I then thought, ‘Even his disciples have miraculous abilities, so how could that Tathāgata not have these miraculous abilities?”
The Bhagavān told him, “So it is, great king. As the great king says, this monk Udāyī has great miraculous abilities and possesses great power.”
SC 159The Bhagavān then addressed the monks, “The first disciple is widely known and recognized by many and remembered by the king. He’s this monk Ajñāta Kauṇḍinya. Able to encourage people is this monk Udāyī. Having a quick intelligence is this monk Mahānāma. Always delighted to fly is this monk Subāhu. Coming and going by air is this monk Vāṣpa. With many disciples is this monk Uruvilvā Kāśyapa. Thinking of observing the sky is this monk Nadī Kāśyapa. Thinking of calmness is this monk Gaya Kāśyapa.”
SC 160The Bhagavān broadly shared the subtle teaching with King Śuddhodana. After the king heard the teaching, he rose from his seat, bowed his head at the Bhagavān’s feet, and withdrew and departed.
SC 161The monks and King Śuddhodana who heard what the Buddha taught then rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở dưới bóng cây đạo tràng, nước Ma-kiệt, lúc mới thành Phật.
Bấy giờ Thế Tôn nghĩ như vầy: “Nay Ta đã được pháp thật sâu xa này, khó rõ, khó tường, khó hiểu, khó biết, rất là vi diệu, được giác tri bởi bực trí. Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước nhất, để người đó rõ được pháp của Ta?”
Rồi Thế Tôn lại nghĩ: “A-la-lam, với các căn đã thuần thục, đáng được độ trước. Vả lại, ông ấy đang trông đợi Ta có Pháp.” Vừa nghĩ như vậy, tức thì giữa hư không có vị trời bạch Thế Tôn rằng:
“A-la-lam đã chết bảy ngày rồi.”
Bấy giờ, Thế Tôn lại nghĩ: “Khổ thay, sao người ấy chưa nghe được Pháp của Ta mà đã chết rồi! Giả sử người ấy nếu nghe được pháp của Ta, tức thì giải thoát.”
Bấy giờ Thế Tôn lại nghĩ: “Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước để người này được giải thoát? Uất-đầu-lam-phất đáng được độ trước. Hãy thuyết pháp cho ông ấy trước hết. Nghe ta thuyết pháp xong sẽ được giải thoát trước nhất.”
Khi Thế Tôn vừa nghĩ vậy, giữa hư không có vị trời nói rằng:
“Ông ấy đã chết rồi, vào nửa đêm hôm qua.”
Khi đó Thế Tôn lại nghĩ rằng: ‘Uất-đầu-lam-phất này, khổ thay, sao chưa nghe được pháp của Ta mà đã chết mất rồi! Giả sử người ấy nếu nghe được pháp của Ta, tức thì giải thoát.”
Bấy giờ Thế Tôn lại nghĩ: “Ai nghe pháp của ta trước hết, được giải thoát?” Thế Tôn lại nghĩ: “Năm tỳ-kheo đã làm nhiều lợi ích cho Ta, vẫn theo sau Ta khi Ta mới sanh.” Rồi Thế Tôn lại nghĩ: “Năm Tỳ-kheo này hiện ở đâu?” Bèn dùng thiên nhãn quán sát, thấy năm tỳ-kheo này đang ở trong vườn Nai, trú xứ Tiên nhân, Ba-la-nại. “Nay Ta hãy đến đó thuyết pháp cho năm Tỳ-kheo trước nhất. Nghe pháp ta rồi, họ sẽ được giải thoát.”
Bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày nhìn chăm chú vào cây đạo thọ, mắt không hề nháy.
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ này:
Chỗ Ta ngồi nay đây
Trải qua khổ sanh tử.
Nắm chặt búa trí huệ
Chặt đứt rễ gai nhọn.
Thiên vương đến nơi đây.
Cùng các Ma, quyến thuộc.
Hàng phục bằng phương tiện,
Khiến đội mũ giải thoát.
Nay ở dưới cây này,
Ngồi trên tòa kim cương,
Chứng đắc huệ vô ngại,
Thành tựu nhất thiết trí.
Ta ngồi dưới cây này
Thấy rõ khổ sinh tử.
Đã dứt nguồn gốc tử
Già bệnh hẳn không còn.
Thế Tôn sau khi nói kệ này, rời chỗ ngồi đứng dậy, đi về hướng nước Ba-la-nại.
Lúc đó phạm chí Ưu-tỳ-già từ xa thấy Thế Tôn, sắc sáng rực rỡ che khuất ánh mặt trời mặt trăng. Thấy vậy, ông bạch Thế Tôn:
“Cù-đàm, Sư chủ của ông hiện đang ở đâu? Ông nương theo ai xuất gia học đạo? Thường thích thuyết pháp nào để dạy? Ông từ đâu lại? Ông muốn đi đến đâu?”
Thế Tôn nhìn phạm chí kia mà nói kệ này:
Ta thành A-la-hán,
Thế gian không ai bằng.
Trời cùng người thế gian
Nay Ta là tối thượng.
Ta cũng không thầy dạy,
Cũng không ai bì kịp;
Độc tôn, không ai hơn;
Mát lạnh, không còn nóng.
Ta đang chuyển pháp luân,
Đi đến nước Ca-thi.
Nay đem thuốc cam lồ
Mở mắt người mù kia.
Đất nước Ba-la-nại,
Vương thổ nước Ca-thi,
Trú xứ năm tỳ-kheo;
Ta sẽ thuyết diệu pháp,
Khiến họ sớm thành đạo,
Và được lậu tận thông,
Để trừ nguồn pháp ác.
Cho nên, Ta tối thắng.
Khi đó phạm chí kia than, lắc đầu, khoanh tay, búng ngón tay, mỉm cười, rồi nhắm theo đường mà đi.
Khi Thế Tôn đến Ba-la-nại, năm tỳ-kheo từ xa thấy Thế Tôn đến. Thấy vậy, họ bảo nhau: “Đó là Sa-môn Cù-đàm, đang từ xa đến. Tánh tình đã tán loạn, tâm không chuyên tinh. Chúng ta đừng nói chuyện, cũng đừng đón tiếp, cũng đừng mời ngồi.” Rồi năm người nói kệ này:
Người này không đáng kính,
Đừng gần gũi ân cần,
Cũng đừng có chào mừng
Và cũng đừng mời ngồi.
Năm tỳ-kheo kia nói kệ rồi, cùng im lặng. Bấy giờ đức Thế Tôn đến chỗ năm tỳ-kheo, càng lúc càng gần, năm tỳ-kheo kia cũng từ từ đứng dậy nghinh tiếp. Người thì trải chỗ ngồi. Người thì lấy nước. Thế Tôn liền ngồi trước mặt họ, tư duy như vầy: “Những con người ngu si, cuối cùng không thể giữ trọn giao ước của mình.”
Bấy giờ năm tỳ-kheo gọi đức Thế Tôn bằng ‘bạn.’ Thế Tôn bảo năm tỳ-kheo:
“Các ngươi chớ gọi bậc Vô thượng, Chí chân, Đẳng chánh giác là bạn Vì sao vậy? Nay Ta đã thành Vô thượng, Chí chân, Đẳng chánh giác, đã được thiện cam lồ. Các ngươi hãy chú tâm nghe pháp ngữ của Ta.”
Bấy giờ năm tỳ-kheo kia nói với Thế Tôn:
“Cù-đàm, xưa tu khổ hạnh còn không thể được pháp thượng nhân, huống chi hôm nay ý tình tán loạn mà nói đắc đạo ư?”
Thế Tôn bảo:
“Thế nào, năm người, các ngươi đã từng nghe Ta vọng ngữ chưa?”
Năm tỳ-kheo đáp:
“Chưa, Cù-đàm!”
Thế Tôn bảo:
“Như Lai, Đẳng chánh giác, đã có được cam lồ. Các ngươi hãy chú tâm nghe ta thuyết pháp.”
Khi đó đức Thế Tôn lại nghĩ thầm: “Nay Ta có thể hàng phục năm người này.” Rồi Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Này năm tỳ-kheo, các ngươi nên biết, có bốn chân lý này. Những gì là bốn? Đó là khổ đế, khổ tập đế, khổ tận đế, khổ xuất yếu đế.
“Thế nào là khổ đế? Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ưu bi não khổ, sầu ưu khổ, không thể kể hết. Oán ghét gặp nhau khổ, ân ái chia lìa khổ, không được những điều ham muốn cũng lại là khổ. Nói tóm, năm thủ uẩn là khổ. Đó gọi là khổ đế.
“Thế nào là khổ tập đế? Ái đưa đến tái sanh, tập hành không mệt mỏi, ý thường tham đắm. Đó gọi là khổ tập đế.
“Thế nào là khổ tận đế? Ái kia diệt tận không dư tàn, cũng không tái sanh khởi. Đó gọi là khổ tận đế.
“Thế nào là khổ xuất yếu đế? Đó là tám phẩm đạo của Hiền Thánh, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
“Đó gọi là pháp tứ đế.
“Lại nữa, này năm Tỳ-kheo, pháp bốn thánh đế này, khổ đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ. Đó là pháp trước kia chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều đượcThế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ đế.
“Khổ tập đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ; là pháp trước đây chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ tập đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều được Thế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ tập đế.
“Khổ tận đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ; là pháp trước đây chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ tận đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều đượcThế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ tận đế.
“Khổ xuất yếu đế làm phát sanh mắt, sanh trí, sanh minh, sanh giác, sanh quang, sanh huệ; là pháp trước đây chưa từng được nghe. Lại nữa, khổ xuất yếu đế là chân thật, nhất định không hư dối, không vọng, không thể khác; là điều đượcThế Tôn nói. Cho nên gọi là khổ xuất yếu đế.
“Năm tỳ-kheo nên biết, bốn đế này được ba lần chuyển với mười hai hành. Ai không biết như thật, không thành Vô thượng Chánh chân, Đẳng chánh giác. Ta vì đã phân biệt bốn đế này, ba lần chuyển với mười hai hành, biết nó như thật, cho nên thành Vô thượng Chí chân, Đẳng chánh giác.”
Sau khi nghe thuyết pháp này, A-nhã Câu-lân dứt sạch trần cấu, được mắt pháp trong sạch. Lúc đó đức Thế Tôn bảo A-nhã Câu-lân:
“Nay Ông đã đến với pháp, đã đắc pháp.”
Câu-lân đáp:
“Thưa vâng, Thế Tôn! Con đã đến với pháp, đã đắc pháp.”
Địa thần sau khi nghe nghe những lời như vậy, liền xướng rằng:
“Nay Như Lai tại nước Ba-la-nại đã chuyển pháp luân mà chư Thiên, người đời, Ma và Ma thiên, người cùng phi nhân, đều không chuyển được. Hôm nay Như Lai chuyển pháp luân này, A-nhã Câu-lân đã được pháp cam lồ.”
Khi đó, Tứ Thiên vương nghe địa thần xướng, lại chuyển lời tiếp xướng rằng:
“A-nhã Câu-lân đã đắc pháp vị cam lồ.”
Rồi trời Tam thập tam lại nghe từ Tứ Thiên vương. Diễm Thiên nghe từ Trời Tam thập tam, cho đến Đâu-suất thiên, lần lượt nghe tiếng, và cho đến Phạm thiên cũng nghe tiếng: “Như Lai tại nước Ba-la-nại đã chuyển pháp luân mà chư Thiên, người đời, Ma và Ma thiên, người cùng phi nhân, đều không chuyển được. Nay Như Lai chuyển pháp luân này.” Bấy giờ liền có tên gọi là A-nhã Câu-lân.
Rồi Thế Tôn bảo năm tỳ-kheo:
“Các ngươi, hai người ở lại để được chỉ dạy; ba người đi khất thực. Ba người khất thực được rồi thì sáu người sẽ cùng ăn. Ba người ở lại để được chỉ dạy, hai người đi khất thực. Hai người khất thực được rồi thì sáu người cùng ăn.”
Bấy giờ, bằng sự giáo huấn này mà trở thành pháp vô sanh Niết-bàn, cũng thành không sanh, không bệnh, không già, không chết. Lúc đó cả thảy năm tỳ-kheo đều thành A-la-hán. Bấy giờ, ba ngàn đại thiên sát độ có năm vị A-la-hán, với Phật là sáu.
Rồi Thế Tôn bảo năm tỳ-kheo:
“Tất cả các ngươi cùng nhau đi khất thực trong nhân gian. Cẩn thận đừng đi một mình. Còn những chúng sanh mà các căn thuần thục, những người đáng được độ. Nay Ta sẽ đến thôn Ưu-lưu-tì, thuyết pháp tại đó.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến thôn xóm Ưu-lưu-tì. Khi đó bên dòng sông Liên-nhã có Ca-diếp đang sinh sống tại đó. Ông biết thiên văn, địa lý; không gì không thông suốt. Toán số cây lá tất cả đều biết rõ. Ông dẫn năm trăm đệ tử thường ngày đi giáo hóa. Cách Ca-diếp không xa có thạch thất. Ở trong thạch thất, có rồng độc đang sống tại đó.
Thế Tôn đến chỗ Ca-diếp, nói với Ca-diếp:
“Tôi muốn ngủ nhờ trong thạch thất một đêm. Nếu ông đồng ý, tôi sẽ đến ở.”
Ca-diếp đáp rằng:
“Tôi không tiếc gì. Nhưng ở đó có một con rồng độc, sợ nó sẽ làm tổn hại đến ông.”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp, đừng lo, rồng không hại Ta! Chỉ cần đồng ý, Ta ở đó một đêm.”
Ca-diếp đáp:
“Nếu ông muốn ở, tùy ý đến ở.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền vào thạch thất, trải chỗ nằm mà nghỉ, kiết già phu tọa, chánh thân, chánh ý, buộc niệm tại tiền. Lúc đó, rồng độc thấy Thế Tôn ngồi; nó liền phun lửa độc. Thế Tôn nhập từ tam-muội, xuất từ tam-muội, nhập diệm quang tam-muội.
Bấy giờ lửa của rồng và ánh sáng Phật cùng lúc phát sáng. Đêm đó Ca-diếp dậy quan sát tinh tú, thấy trong thạch thất có ánh sáng và lửa lớn. Thấy vậy, ông bảo các đệ tử:
“Sa-môn Cù-đàm này dung mạo xinh đẹp, nay bị con rồng này hại. Thật đáng thương tiếc. Trước đây, ta cũng đã có lời này, ở đó có rồng ác không thể nghỉ đêm!”
Lúc đó Ca-diếp bảo năm trăm đệ tử:
“Các người cầm bình nước và mang thang cao đến chữa lửa, để Sa-môn kia được thoát khỏi nạn này.”
Bấy giờ, Ca-diếp dẫn năm trăm đệ tử đến thạch thất để chữa lửa này. Người thì cầm nước rưới, người thì bắc thang. Nhưng không thể dập tắt được lửa, đều là do oai thần của Như Lai tạo nên.
Bấy giờ, Thế Tôn nhập từ tam-muội dần dần khiến cho con rồng kia không còn sân hận nữa. Lúc này tâm rồng ác kia tỏ ra sợ sệt, chạy qua chạy lại muốn thoát ra khỏi thạch thất, nhưng không ra khỏi thạch thất được. Khi đó con rồng ác kia, hướng đến Như Lai, chui vào bát Thế Tôn ở. Khi đó, Thế Tôn dùng tay phải xoa mình rồng ác, rồi nói kệ này:
Rồng xuất thế khó có.
Rồng với rồng gặp nhau.
Rồng chớ nổi tâm hại.
Rồng xuất thế, hó có..
Quá khứ hằng sa số,
Chư Phật bát-niết-bàn;
Mà ngươi chưa hề gặp
Đều do lửa sân hận.
Tâm thiện hướng Như Lai,
Mau bỏ độc sân này.
Đã trừ độc sân nhuế,
Liền được sanh lên Trời.
Bấy giờ, con rồng dữ kia thè lưỡi liếm tay Như Lai và nhìn kỹ mặt Như Lai. Sáng hôm sau, Thế Tôn mang rồng dữ đó đến gặp Ca-diếp và nói với Ca-diếp:
“Đây là con rồng dữ, thật hung bạo. Nay nó đã bị hàng phục.”
Khi Ca-diếp thấy được rồng dữ, trong lòng hoảng sợ, bạch Thế Tôn:
“Thôi, thôi, Sa-môn! Đừng bước tới, rồng sẽ gây hại!”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp, đừng sợ! Nay Ta đã hàng phục nó rồi, sau này sẽ không gây hại nữa. Vì sao vậy? Vì rồng này đã được giáo hóa rồi.”
Bấy giờ, Ca-diếp cùng năm trăm đệ tử khen ngợi:
“Việc chưa từng có! Thật là kỳ diệu! Sa-môn Cù-đàm này oai thần thật lớn, có thể hàng phục con rồng dữ này, khiến không nó làm ác. Tuy vậy, vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Bấy giờ Ca-diếp bạch Phật:
“Đại Sa-môn, hãy nhận lời thỉnh cầu chín mươi ngày của tôi. Những thứ cần dùng như y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, tôi sẽ cung cấp hết thảy.”
Thế Tôn im lặng nhận lời thỉnh cầu của Ca-diếp. Thế Tôn đem rồng thần này thả vào trong biển lớn. Rồng dữ kia tùy theo mạng sống dài ngắn, sau khi mạng chung sanh lên trời Tứ Thiên vương. Sau đó Như Lai trở về nghỉ tại thạch thất. Ca-diếp sắp đặt nhiều đồ ăn uống xong, đến bạch Thế Tôn:
“Đồ ăn thức uống đã chuẩn bị xong, xin mời đến thọ thực.”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp về trước. Tôi sẽ đi ngay vậy.”
Sau khi Ca-diếp đi khỏi, Phật liền đến trên cõi Diêm-phù-đề, bên dưới cây diêm-phù, nhặt quả diêm-phù rồi, trở về trước, ngồi trong thạch thất Ca-diếp.
Khi Ca-diếp về đã thấy Thế Tôn ở trong thạch thất, liền bạch Thế Tôn:
“Sa-môn từ đường nào đến thạch thất?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Sau khi Ông đi, tôi đến phía trên cõi Diêm-phù-đề, bên dưới cây diêm-phù, nhặt quả diêm-phù rồi trở về ngồi đây. Ca-diếp nên biết, quả này rất thơm ngon, hãy cầm lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần cái này. Sa-môn tự lấy ăn.”
Bấy giờ Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Sa-môn này có thần túc siêu việt, có oai lực lớn, mới có thể đến phía trên cõi Diêm-phù nhặt trái ngon này. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Sau khi Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Sáng sớm Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
“Đã đến giờ ăn, mời đến thọ thực.”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Ca-diếp vừa đi khỏi, Phật liền đến phía trên cõi Diêm-phù, nhặt trái a-ma-lặc rồi trở về trước, ngồi trong thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Thế Tôn:
“Sa-môn từ đường nào đến chốn nầy?”
Phật trả bảo:
“Sau khi Ông đi, tôi đến trên cõi Diêm-phù, nhặt trái này lại, nó rất là thơm ngon, nếu cần thì lấy ăn!”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy ăn.”
Khi đó Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này rất có thần lực, có oai thần lớn. sau khi ta đi, đi lấy quả này về. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Sau khi Thế Tôn ăn xong liền trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn mà nói rằng:
“Đã đến giờ cơm, xin mời đến thọ thực.”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Sau khi Ca-diếp đi, Thế Tôn đến Bắc Uất-đan-viết lấy lúa tẻ chín tự nhiên, rồi trở về trước thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Sa-môn từ đường nào đến ngồi đây?”
Thế Tôn bảo:
“Sau khi ông đi, tôi đến Uất-đan-viết gặt lấy lúa chín muộn tự nhiên rất là thơm ngon. Ca-diếp cần thì lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này có thần lực lớn, có oai thần lớn. Tuy nhiên vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Sau khi, Thế Tôn ăn xong thì về chỗ kia nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn nói:
“Đã đến giờ cơm, xin mời đến thọ thực.”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Sau khi Ca-diếp đi, Thế Tôn đến Cù-da-ni nhặt quả a-lê-lặc, về trước vào thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Sa-môn từ đường nào đến ngồi đây?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Sau khi Ông đi, tôi đến Cù-da-ni nhặt quả này lại rất thơm ngon. Ca-diếp cần thì lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp rằng:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này có thần lực lớn, có oai thần lớn. Tuy nhiên vẫn không bằng ta đắc chơn đạo.”
Sau khi, Thế Tôn ăn xong thì về chỗ kia nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn bạch:
“Đã đến giờ cơm, xin mời đến thọ thực!”
Phật bảo Ca-diếp:
“Ông hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Sau khi Ca-diếp đi, Thế Tôn đến Phất-vu-đãi nhặt trái tì-hê-lặc rồi, về trước ngồi trong thạch thất Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Sa-môn từ đường nào đến ngồi đây?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Sau khi ông đi, tôi đến Phất-vu-đãi nhặt quả này rất thơm ngon. Ca-diếp cần thì lấy mà ăn.”
Ca-diếp đáp:
“Tôi không cần thứ này. Sa-môn tự lấy mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này có thần lực lớn, có oai thần lớn. Tuy nhiên vẫn không bằng ta đắc đạo chơn.”
Thế Tôn ăn xong trở về chỗ kia nghỉ ngơi.
Lúc bấy gời Ca-diếp đang chuẩn bị đại tế đàn. Năm trăm đệ tử cầm búa bửa củi. Tay nhấc búa lên nhưng búa không xuống. Lúc đó, Ca-diếp nghĩ thầm như vầy: “Đây chắc Sa-môn làm.” Khi đó Ca-diếp hỏi Thế Tôn:
“Nay muốn bửa củi, vì sao búa không hạ xuống được?”
Thế Tôn bảo:
“Muốn cho búa hạ xuống được phải không?”
Đáp:
“Muốn hạ xuống.”
Búa liền hạ xuống. Lúc búa kia đã hạ xuống, lại không nhấc lên được. Ca-diếp lại bạch Phật:
“Búa sao không nhấc lên được?”
Thế Tôn bảo:
“Muốn cho búa lên chăng?”
Đáp:
“Muốn nhấc lên.”
Búa liền nhấc lên.
Bấy giờ, đệ tử của Ca-diếp muốn nhen lửa, nhưng nhen không cháy. Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Đây chắc Sa-môn Cù-đàm gây ra.”
Ca-diếp bạch Phật:
“Vì sao nhen lửa không cháy?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Muốn lửa cháy phải không?”
Đáp:
“Muốn cho cháy.”
Lửa liền cháy. Sau đó muốn dập tắt, lửa lại không tắct. Ca-diếp bạch Phật:
“Sao lửa dập không tắt?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Muốn cho lửa tắt phải không?”
Đáp:
“Muốn cho tắt.”
Lửa liền tắt ngay. Ca-diếp liền nghĩ thầm như vầy: “Sa-môn Cù-đàm này diện mạo đoan chánh, hiếm có trong đời. Ngày mai ta có tế lễ lớn. Quốc vương, nhân dân tất cả đều tụ tập. Nếu họ thấy Sa-môn này, ta sẽ không còn được cúng dường. Sa-môn này ngày mai không đến sẽ là đại phúc.”
Thế Tôn biết những suy nghĩ trong lòng Ca-diếp. Sáng hôm sau, Phật đến Uất-đan-viết, lấy lúa chín muôn tự nhiên; đến Cù-da-ni lấy sữa; rồi đến ao A-nậu-đạt mà dùng. Trọn ngày ở chỗ đó, chiều tối về thạch thất nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn hỏi:
“Sa-môn, hôm qua sao không đến?”
Phật bảo Ca-diếp:
“Hôm qua ông đã nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm này diện mạo đoan chánh, hiếm có trong đời. Ngày mai ta có tế lễ lớn. Nếu quốc vương, nhân dân thấy được Sa-môn này, sẽ cắt đứt cúng dường cho ta. Nếu ông ta không đến sẽ là đại phúc.’ Tôi biết được những suy nghĩ trong lòng của ông, mới đến Uất-đan-viết gặt lấy lúa chín muôn tự nhiên, đến Cù-da-ni lấy sữa; rồi đến bên ao A-nậu-đạt mà ăn. Trọn ngày ở chỗ đó, chiều tối về thạch thất nghỉ ngơi.”
Khi ấy Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Đại Sa-môn này, có thần túc lớn, có thật oai thần. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về thạch thất nghỉ ngơi. Ngay đêm đó, Tứ Thiên vương đến chỗ Thế Tôn nghe kinh pháp. Tứ Thiên vương cũng có ánh sáng, Phật cũng phóng ánh sáng lớn, chiếu cả sơn động hoang dã kia tỏa sáng một màu. Đêm hôm đó Ca-diếp thấy được ánh sáng. Sáng hôm sau đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
“Đêm qua, ánh sáng gì chiếu sáng núi non hoang dã này?”
Thế Tôn bảo:
“Đêm qua Tứ Thiên vương đến chỗ tôi nghe Pháp. Đó là ánh sáng của Tứ Thiên Vương kia.”
Lúc đó Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn này rất có thần lực, mới khiến cho Tứ Thiên vương đến nghe kinh pháp. Tuy nhiên, thần lực này vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Nửa đêm, Thích Đề-hoàn Nhân đến chỗ Thế Tôn nghe pháp. Ánh sáng của Thiên Đế lại chiếu sáng núi đó. Ca-diếp kia đêm dậy ngắm sao, thấy ánh sáng này. Sáng hôm sau, Ca-diếp tới chỗ Thế Tôn, hỏi:
“Cù-đàm, đêm qua có ánh sáng thật là đặc biệt. Vì sao có ánh sáng như vậy?”
Thế Tôn bảo:
“Đêm qua, Thiên đế Thích đến đây nghe kinh. Cho nên có ánh sáng như vậy.”
Ca-diếp lại nghĩ thầm: “Sa-môn Cù-đàm này thật có thần lực, có oai thần lớn, mới có thể khiến cho Thiên Đế Thích đến nghe kinh pháp. Tuy vậy vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Nửa đêm Phạm Thiên vương phóng ánh sáng lớn chiếu xuống núi này, đến chỗ Thế Tôn nghe kinh pháp. Đêm đó Ca-diếp thức dậy, thấy ánh sáng. Sáng hôm sau đến chỗ Thế Tôn, hỏi:
“Đêm qua, ánh sáng chiếu sáng hơn ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Có những nhân duyên gì mà có thứ ánh sáng này?”
Thế Tôn bảo:
“Ca-diếp nên biết, đêm qua, Đại Phạm Thiên vương đến chỗ Ta nghe kinh pháp.”
Lúc đó Ca-diếp lại nghĩ thầm như vầy: “Sa-môn Cù-đàm này rất có thần lực, mới khiến Tổ phụ của ta đến chỗ Sa-môn này mà nghe kinh pháp. Tuy nhiên, vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Bấy giờ, Thế Tôn được y năm mảnh cũ rách, muốn giặt dũ, nghĩ thầm: “Ta sẽ giặt y này ở chỗ nào?”
Lúc đó, Thích Đề-hoàn Nhân biết được trong lòng Thế Tôn nghĩ gì, liền biến ra một hồ tắm, rồi bạch Thế Tôn: ‘Xin hãy đến đây giặt y.’
Thế Tôn lại nghĩ thầm: “Ta phải đứng chỗ nào để đạp giặt y này?”
Lúc đó, Tứ Thiên vương biết được trong lòng Thế Tôn nghĩ gì, liền nhấc một tảng đá vuông lớn đặt mé nước, rồi bạch Thế Tôn: “Xin hãy đứng chỗ này mà đạp y.”
Thế Tôn lại nghĩ: “Ta phơi y này ở chỗ nào?”
Lúc đó, Thần cây biết được trong lòng Thế Tôn nghĩ gì, liền làm oằn nhánh cây xuống, rồi bạch Thế Tôn: “Cúi xin Thế Tôn phơi y chỗ này.”
Sáng hôm sau, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
“Chỗ này trước đây không có ao, nay có ao này? Trước không có cây, nay có cây này? Trước không có đá, nay có tảng đá này. Nguyên nhân gì mà có sự thay đổi này?”
Thế Tôn bảo:
“Đây là hôm qua Thiên đế Thích biết tôi muốn giặt y cho nên làm hồ tắm này. Tôi lại nghĩ: ‘Đứng chỗ nào để đạp giặt y này?’ Tứ Thiên vương biết tôi đang nghĩ gì, liền mang đá này đến. Tôi lại nghĩ: ‘Phơi y này ở chỗ nào?’ Thần cây biết tôi đang nghĩ gì, liền oằn nhánh cây này vậy.”
Lúc đó, Ca-diếp nghĩ như vầy: “Sa-môn Cù-đàm này tuy có thần lực những vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Thế Tôn ăn xong, trở về chỗ kia nghỉ ngơi. Nửa đêm, có nhiều mây đen nổi lên, rồi đổ mưa lớn. Sông lớn Liên-nhã bị nước lũ ngập tràn.
Lúc đó, Ca-diếp nghĩ thầm: “Nước lũ tràn sông này, Sa-môn nhất định sẽ bị nước cuốn trôi. Nay ta ra xem thử.”
Ca-diếp cùng năm trăm đệ tử đi ra bờ sông. Bấy giờ Thế Tôn đang đi trên nước, chân không bị dính nước. Khi đó Ca-diếp từ xa thấy Thế Tôn đi trên mặt nước. Ca-diếp thấy vậy, liền nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Sa-môn Cù-đàm lại có thể đi trên mặt nước. Ta cũng có thể đi trên mặt nước, nhưng không thể khiến cho chân không dính nước mà thôi. Sa-môn này tuy thật có thần lực. Nhưng vẫn không bằng ta đắc đạo chân.”
Khi đó Thế Tôn bảo Ca-diếp:
“Ông không phải là A-la-hán, cũng không biết đạo A-la-hán. Ông còn chưa biết tên A-la-hán, huống chi là đắc đạo sao? Ông là người mù. Mắt không trông thấy gì hết. Như Lai đã biến hóa ngần ấy sự, mà ông vẫn cứ nói ‘Không bằng ta đắc đạo chân.’ Ông vừa nói rằng: ‘Ta có thể đi trên mặt nước.’ Bây giờ là lúc thích hợp. Có thể cùng đi trên mặt nước chăng? Ông nay hãy bỏ tâm tà kiến, đừng để phải chịu khổ não lâu dài như vậy.”
Khi Ca-diếp nghe Thế Tôn nói như vậy, liền đến trước, mặt đảnh lễ sát chân: “Con xin hối lỗi, biết rõ sai trái xúc phạm Như Lai. Cúi xin nhận sự sám hối này.” Như vậy ba lần.
Thế Tôn bảo:
“Chấp nhận sự hối lỗi của ông, đã biết tội quấy nhiễu Như Lai.”
Lúc đó, Ca-diếp bảo năm trăm đệ tử:
“Các ngươi, mỗi người hãy làm theo những gì mình thích. Ta nay tự quy y Sa-môn Cù-đàm.”
Khi ấy năm trăm đệ tử bạch Ca-diếp:
“Chúng con trước đây, lúc hàng phục rồng cũng có ý muốn quy Sa-môn Cù-đàm. Nếu thầy tự quy y Cù-đàm thì năm trăm đệ tử chúng con thảy đều tự quy y với Cù-đàm.”
Ca-diếp nói:
“Nay thật là thích hợp. Nhưng tâm ta lại chấp vào sự ngu si này, thấy ngần ấy sự biến hóa mà tâm ý vần còn không tỏ, vẫn tự xưng ta được đạo chân chánh.”
Rồi Ca-diếp cùng với năm trăm đệ tử vây quanh trước sau đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn cho phép chúng con được làm Sa-môn, tu hạnh thanh tịnh.”
Theo pháp thường của chư Phật, nếu Phật nói ‘Thiện lai, Tỳ-kheo!’ Người ấy liền thành Sa-môn.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Ca-diếp:
“Thiện lại, Tỳ-kheo! Pháp này vi diệu. Hãy khéo tu phạm hạnh.”
Ngay khi ấy, y phục đang mặc của Ca-diếp và năm trăm đệ tử thảy đều biến thành cà-sa, tóc trên đầu tự rụng, giống như cạo tóc được bảy ngày. Rồi những dụng cụ học thuật và liên hệ đến chú thuật của Ca-diếp đều được ném xuống sông. Sau đó, năm trăm đệ tử bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn cho chúng con được làm Sa-môn!”
Thế Tôn bảo:
“Thiện lai, Tỳ-kheo!”
Tức thì, năm trăm đệ tử liền thành Sa-môn, thân mặc cà-sa, tóc trên đầu tự rụng.
Lúc bấy giờ, thuận dòng nước về hạ lưu có phạm-chí tên là Giang Ca-diếp sống ở bên sông. Khi Giang Ca-diếp thấy những dụng cụ chú thuật bị nước cuốn trôi, bèn nghĩ: ‘Ối! Đại huynh của ta bị nước nhận chìm rồi!’
Giang Ca-diếp liền dẫn ba trăm đệ tử theo dòng sông lên thượng lưu, tìm thi hài của đại huynh. Từ xa, thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, thuyết pháp cho Đại Ca-diếp và năm trăm đệ tử, trước sau vây quanh. Thấy vậy, ông đến trước Ca-diếp mà nói: “Việc này há tốt đẹp sao? Trước kia làm thầy người. Nay làm đệ tử. Vì sao đại huynh làm đệ tử của Sa-môn?’
Ca-diếp đáp:
“Nơi này tuyệt diệu. Không nơi nào hơn.”
Lúc đó Ưu-tỳ Ca-diếp quay sang Giang Ca-diếp mà nói kệ này:
Thầy này trời người quý;
Nay ta thờ làm Thầy.
Chư Phật hiện thế gian,
Gặp được thật là khó.
Lúc đó Giang Ca-diếp nghe danh hiệu Phật, lòng rất vui mừng hớn hở khôn xiết, đến trước bạch Thế Tôn:
“Xin cho phép tu đạo!”
Thế Tôn bảo:
“Thiện lai, tỳ-kheo! Hãy khéo tu phạm hạnh để diệt tận khổ.”
Khi đó Giang Ca-diếp cùng ba trăm đệ tử liền thành Sa-môn, thân mặc cà-sa, tóc trên đầu tự rụng. Rồi Giang Ca-diếp cùng ba trăm đệ tử ném hết dụng cụ chú thuật xuống nước.
Bấy giờ thuận theo dòng nước cuối sông, có phạm-chí tên là Già-di Ca-diếp sống ở bên sông. Từ xa, trông thấy dụng cụ chú thuật bị nước cuốn trôi, liền nghĩ: “Ta có hai người anh học đạo ở trên đó. Nay dụng cụ chú thuật bị nước cuốn hết. Hai đại Ca-diếp chắc bị nước hại.” Nghĩ rồi, liền dẫn hai trăm đệ tử theo sông lên thượng lưu, đến chỗ học thuật. Từ xa thấy hai anh đang làm sa-môn, liền nói: “Nơi này tốt đẹp chăng? Xưa là bực tôn kính của người, nay làm đệ tử Sa-môn!”
Ca-diếp đáp:
“Nơi này rất tốt đẹp. Không nơi nào hơn.”
Già-di Ca-diếp suy nghĩ: “Hai anh của ta biết nhiều, học rộng. Nơi này chắc là mảnh đất tốt, mới khiến cho hai anh của ta vào học đạo. Nay ta cũng nên xin vào học đạo.”
Già-di Ca-diếp bèn đến trước, bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn cho phép con làm Sa-môn.”
Thế Tôn bảo:
“Thiện lai, tỳ-kheo! Hãy khéo tu phạm hạnh để diệt tận khổ.”
Già-di Ca-diếp tức thì trở thành Sa-môn, thân mặc cà-sa, tóc trên đầu tự rụng giống như cạo đầu được bảy ngày.
Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ở dưới cây ni-câu-loại bên sông kia, sau khi thành Phật chưa bao lâu, đã có một ngàn đệ tử, đều là các bậc bậc kỳ túc trưởng lão.
Lúc đó, Thế Tôn giáo hóa bằng ba sự. Thế nào là ba? Đó là thần túc giáo hóa, ngôn giáo giáo hóa, huấn hối giáo hóa.
“Sao gọi là thần túc giáo hóa? Bấy giờ Thế Tôn hoặc biến ra nhiều hình rồi hợp lại một, hoặc hiện hoặc ẩn. Đi qua vách đá mà không gì chướng ngại. Hoặc ra khỏi mặt đất, hoặc nhập vào đất giống như xuống nước mà không bị trở ngại. Hoặc ngồi kiết-già đầy khắp giữa hư không như chim bay trên không chẳng bị ngăn cản. Cũng như núi lửa lớn, phun khói vô lượng. Như mặt trời mặt trăng kia có đại thần lực, có thần lực lớn không thể hạn lượng, mà có thể dùng tay với đến. Thân cao cho đến Phạm thiên. Thế Tôn hiện thần túc như vậy.
“Sao gọi là ngôn giáo giáo hóa? Bấy giờ Thế Tôn dạy các tỳ-kheo nên xả điều này, nên giữ điều này; nên gần điều này, nên xa điều này; nên nhớ điều này, nên trừ điều này; nên quán điều này, nên không quán điều này.
“Sao gọi là nên tu điều này, không tu điều này? Hãy tu bảy giác chi, diệt ba kết. Sao là nên quán, không nên quán? Hãy quán ba kết, và ba thiện của sa-môn, đó là lạc do xuất yếu, lạc do không nhuế, lạc do không nộ. Sao gọi là không quán? Đó là ba khổ của sa-môn. Những gì là ba? Dục quán, nhuế quán, nộ quán. Sao gọi là niệm, sao gọi là không niệm? Bấy giờ, nên niệm khổ đế, nên niệm tập đế, nên niệm tận đế, nên niệm đạo đế; chớ niệm tà đế, thường kiến, vô thường kiến; biên kiến, vô biên kiến; mạng khác thân khác; chẳng phải mạng chẳng phải thân; Như Lai mạng chung, Như Lai không mạng chung, vừa hữu chung vừa vô chung; cũng chẳng hữu chung cũng chẳng vô chung. Đừng niệm như vậy.
“Sao gọi là huấn hối giáo hóa? Lại nữa, hãy đi như vầy, không nên đi như vầy; nên đến như vậy, không nên đến như vậy; nên im lặng như vậy, nên nói năng như vậy; phải thọ trì y như vậy, không được thọ trì y như vầy; nên vào thôn như vầy, không nên vào thôn như vầy. Đây gọi là huấn hối giáo giới.”
Lúc đức Thế Tôn bằng ba sự này giáo hóa một ngàn tỳ-kheo, những tỳ-kheo đó nhận được sự giáo hóa của Phật xong, trở thành một ngàn A-la-hán.
Khi ấy Thế Tôn thấy một ngàn tỳ-kheo đã đắc A-la-hán. Bấy giờ cõi Diêm-phù-đề có một ngàn A-la-hán cùng năm tỳ-kheo và Phật là sáu, Ngài quay ngồi hướng về Ca-tỳ-la-vệ.
Lúc đó, Ưu-tỳ Ca-diếp suy nghĩ như vầy: “Vì sao Thế Tôn ngồi quay lại hướng về Ca-tỳ-la-vệ?” Rồi Ưu-tỳ Ca-diếp liền đến trước, quỳ thẳng bạch Thế Tôn:
“Chẳng hiểu tại sao Như Lai ngồi quay hướng về Ca-tỳ-la-vệ?”
Thế Tôn bảo:
“Như Lai ở đời cần làm năm việc. Sao gọi là năm? Một là chuyển pháp luân; hai là thuyết pháp cho cha; ba là thuyết pháp cho mẹ; bốn là dẫn dắt phàm phu lập hạnh Bồ-tát; năm là thọ ký riêng cho Bồ-tát. Này Ca-diếp, đó gọi là Như Lai xuất hiện ở đời cần làm năm việc như vậy.”
Ưu-tỳ Ca-diếp bèn nghĩ: “Như Lai vì nhớ thân tộc xứ sở nên quay hướng đó ngồi vậy.”
Khi đó năm tỳ-kheo lần hồi đi đến bờ sông Ni-liên.Đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Lúc đó Tôn giả Ưu-đà-da xa thấy Thế Tôn ngồi hướng về Ca-tỳ-la-vệ. Thấy vậy liền nghĩ rằng: “Nhất định Thế Tôn muốn trở về Ca-tỳ-la-vệ để thăm thân quyến.” Ưu-đà-da liền tới trước quỳ thẳng bạch Thế Tôn:
“Nay con kham nhậm có điều muốn hỏi, xin được giải bày.”
Thế Tôn bảo:
“Muốn hỏi gì thì cứ hỏi.”
Ưu-đà-da bạch Thế Tôn:
“Xem ý Như Lai muốn trở về Ca-tỳ-la-vệ?”
“Thật vậy, như lời ông nói. Ưu-đà-da, nên biết, ông hãy tới chỗ Bạch Tịnh Vương trước. Ta sẽ đến sau. Vì sao vậy? Vì phải báo cho chủng tộc sát-lợi biết tin trước, rồi sau Như Lai mới tới. Ngươi đến bẩm với Vua rằng, bảy ngày sau Như Lai sẽ về thăm Vua.”
Ưu-đà-da đáp:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”
Bấy giờ Ưu-đà-da từ chỗ ngồi đứng dậy sửa lại y phục lễ sát chân Thế Tôn, rồi biến mất khỏi Thế Tôn, hiện đến Ca-tỳ-la-vệ, tới chỗ của Chân Tịnh vương, đến rồi đứng ở phía trước vua.
Khi Chân Tịnh vương đang ở trên đại điện, ngồi cùng với các thể nữ, lúc ấy Ưu-đà-da đang bay ở trên không. Rồi Chân Tịnh vương thấy Ưu-đà-da tay mang bình bát, cầm trượng, đang đứng trước mặt. Thấy vậy, trong lòng lo sợ mà nói rằng:
“Đây là người nào? Là người, hay phi nhân; trời, hay quỷ, dạ-xoa, la-sát, thiên long, quỷ thần?”
Lúc đó Chân Tịnh vương hỏi Ưu-đà-da:
“Ngươi là người nào?”
Lại nói với Ưu-đà-da bằng bài kệ này:
Là trời, hay là quỷ,
Hay càn-thát-bà chăng?
Ông nay tên là gì?
Hiện tại ta muốn biết.
Lúc bấy giờ Ưu-đà-da lại dùng kệ này đáp vua:
Tôi cũng chẳng là trời,
Chẳng phải càn-thát-bà.
Ở nước Ca-tỳ này,
Người đất nước Đại vương.
Xưa phá mười tám ức
Quân Ba-tuần xấu ác:
Thích-ca Văn, Thầy tôi.
Tôi đệ tử của Ngài.
Chân Tịnh Vương lại dùng kệ này hỏi Ưu-đà-da:
Ai phá mười tám ức
Quân Ba-tuần xấu ác?
Thích-ca Văn là ai
Nay Ông lại ca ngợi?
Ưu-đà-da lại nói kệ này:
Lúc Như Lai mới sanh
Trời đất rung động khắp.
Thệ nguyện quyết làm xong,
Nên gọi hiệu Tất-đạt.
Người thắng mười tám ức
Quân Ba-tuần xấu ác,
Người tên Thích-ca Văn.
Ngày nay thành Phật đạo.
Người kia con họ Thích,
Đệ tử thứ Cù-đàm;
Hôm nay làm Sa-môn,
Vốn tên Ưu-đà-da.
Chân Tịnh vương nghe những lời này rồi, trong lòng lvui mừng không thể tự kiềm được, hỏi Ưu-đà-da rằng:
“Thế nào Ưu-đà-da, Thái tử Tất-đạt nay vẫn còn sống sao?”
Ưu-đà-da đáp:
“Thích-ca Văn Phật nay đang hiện tại.”
Vua hỏi:
“Nay đã thành Phật rồi sao?”
Ưu-đà-da đáp:
“Nay đã thành Phật.”
Vua lại hỏi:
“Hôm nay Như Lai đang ở đâu?”
Ưu-đà-da đáp rằng:
“Như Lai hiện đang ở dưới cây ni-câu-loại tại nước Ma-kiệt.”
Rồi vua lại hỏi:
“Những người đệ tử theo hầu là những ai?”
Ưu-đà-da đáp:
“Hàng ức chư Thiên cùng một ngàn tỳ-kheo và Tứ Thiên Vương thường ở hai bên.”
Lúc đó vua hỏi:
“Mặc những loại y phục như nào?”
Ưu-đà-da đáp:
“Y Như Lai mặc được gọi là ca-sa.”
Rồi vua hỏi:
“Ăn những loại thức ăn nào?”
Ưu-đà-da đáp:
“Thân Như Lai dùng pháp làm thức ăn.”
Vua lại hỏi:
“Thế nào Ưu-đà-da, có thể gặp Như Lai được không?”
Ưu-đà-da đáp:
“Vua đừng sầu lo, sau bảy ngày Như Lai sẽ vào thành.”
Bấy giờ Vua rất vui mừng không kiềm chế được, tự tay rót nước cúng dường Ưu-đà-da. Rồi Chân Tịnh Vương đánh trống lớn, lệnh cho nhân dân cả nước sửa bằng đường lộ, dọn dẹp sạch sẽ, rưới dầu thơm trên đất, treo lụa tràng phan, bảo cái, trổi các kỷ nhạc không thể tính kể. Lại ra lệnh trong nước những người đui, điếc, ngọng, câm đều không được xuất hiện, bảy ngày sau Tất-đạt sẽ vào thành. Sau khi Chân Tịnh Vương nghe Phật sẽ vào thành, trong bảy ngày cũng không ngủ nghỉ.
Bấy giờ đã đến ngày thứ bảy, Thế Tôn nghĩ thầm: “Nay Ta nên dùng sức thần túc đi đến nước Ca-tỳ-la-vệ.” Rồi Thế Tôn dẫn các tỳ-kheo trước sau vây quanh đi đến nước Ca-tỳ-la-vệ. Đến nơi, Ngài vào vườn Tát-lư ở phía bắc thành.
Bấy giờ đó vua Chân Tịnh nghe Thế Tôn đã đến Ca-tỳ-la-vệ, ở trong vườn Tát-lư phía bắc thành. Vua bèn dẫn những người họ Thích đến chỗ Thế Tôn. Lúc đó Thế Tôn nghĩ thầm: “Nếu Vua Chân Tịnh tự thân hành đến đây, điều này không thích hợp cho Ta. Nay Ta phải đi gặp Vua. Vì sao vậy? Ân cha mẹ rất nặng, tình dưỡng dục sâu dày. Rồi Thế Tôn dẫn các tỳ-kheo đến cửa thành, bay lên hư không, cách đất bảy nhẫn. Vua Chân Tịnh thấy Thế Tôn đoan chánh không gì bằng, hiếm có trên đời, các căn tịch tịnh, không có các vọng niệm, thân có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tự trang nghiêm, liền phát tâm hoan hỷ, tức liền đảnh lễ sát chân mà nói:
“Tôi Vua dòng sát-lị, tên là Chân Tịnh Vương.”
Thế Tôn bảo:
“Chúc Đại vương hưởng thọ vô cùng. Đại vương hãy dùng chánh pháp cai trị giáo hóa, đừng dùng tà pháp. Đại vương nên biết, những ai dùng chánh pháp để cai trị giáo hóa, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên cõi thiện, ở trên trời.”
Rồi Thế Tôn từ trên không trung đi vào trong cung vua Chân Tịnh. Đến nơi, ngồi lên chỗ dọn sẵn.
Khi vua thấy Thế Tôn ngồi yên ổn, tự tay châm nước, phục vụ vô số đồ ăn uống. Khi Thế Tôn ăn xong, đã dùng nước rửa rồi, vua lấy một cái ghế nhỏ, ngồi nghe pháp.
Bấy giờ đức Thế Tôn thuận tự thuyết nghĩa vi diệu cho vua Chân Tịnh; luận về thí, luận về giới, luận về sanh thiên, dục là hạnh bất tịnh, xuất yếu là an lạc.
Bấy giờ đức Thế Tôn thấy tâm ý vua đã giải khai. Như Pháp mà chư Phật thường thuyết; Phật giảng thuyết tường tận cho vua nghe, về khổ, tập, tận, đạo. Khi đó vua Chân Tịnh liền ngay trên chỗ ngồi, sạch hết các trần cấu, được mắt pháp trong sạch.
Thế Tôn sau khi thuyết pháp cho vua nghe xong, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
Lúc đó vua Chân Tịnh tập họp toàn bộ dòng họ Thích lại và nói:
“Các sa-môn đều có mặt mày xấu xí. Dòng sát-lị mà dẫn theo chúng bà-la-môn như vậy là không thích hợp. Dòng họ Thích sát-lị phải có chúng sát-lị, vậy thì mới tốt đẹp.”
Các người họ Thích đáp:
“Thật vậy, Đại vương! Như Đại vương dạy, dòng sát-lị phải có chúng sát-lị, như vậy mới tuyệt.”
Bấy giờ vua bố cáo trong nước, những gia đình có anh em hai người thì bắt một người phải hành đạo. Ai không như vậy thì sẽ bị xử phạt nặng. Khi trong dòng họ Thích nghe vua ra lịnh, “Gia đình có hai người là anh em thì bắt một người phải hành đạo, ai không theo mệnh lệnh sẽ xử phạt nặng”, bấy giờ Thích Đề-bà-đạt-đâu nói với Thích A-nan rằng:
“Nay vua Chân Tịnh ra lệnh, ai có hai người anh em, thì phải phân một người hành đạo. Nay ngươi nên xuất gia học đạo. Ta phải ở nhà giữ gìn gia nghiệp.”
Lúc đó Thích A-nan vui mừng hớn hở nói:
“Như lời anh dạy”.
Lúc đó Thích Nan-đà nói với Thích A-na-luật rằng:
“Vua Chân Tịnh ra lệnh rằng ai có hai người anh em, thì phải phân một người hành đạo, ai không như vậy thì sẽ bị xử phạt nặng. Nay ngươi xuất gia, ta sẽ ở nhà”.
Thích A-na-luật nghe được những lời như vậy rồi, vui mừng hớn hở, không thể kiềm chế, đáp lại:
“Thật vậy, như lời anh nói.”
Lúc đó vua Chân Tịnh dẫn Thích Hộc Tịnh, Thích Thúc Tịnh, Thích Cam Lộ đến chỗ Thế Tôn. Vua ngự giá bằng xe tứ mã, xe màu trắng, lọng màu trắng, ngựa kéo xe màu trắng. Vị họ Thích thứ hai đi bằng xe màu xanh, lọng màu sanh, ngựa kéo xe màu xanh. Vị họ Thích thứ ba đi bằng xe màu vàng, lọng màu vàng, ngựa kéo xe màu vàng. Vị họ Thích thứ tư đi bằng xe màu đỏ, lọng màu đỏ, ngựa kéo xe màu đỏ. Cũng có những người họ Thích khác đi bằng voi, bằng ngựa, thảy đều tập hợp đến.
Thế Tôn từ xa thấy vua Chân Tịnh dẫn dòng họ Thích đến, bèn bảo các tỳ-kheo:
“Các ông xem chúng họ Thích này, và xem những người theo vua Chân Tịnh. Tỳ-kheo nên biết, trời Tam thập tam khi ra dạo vườn cảnh cũng như vậy, không có gì khác.”
Khi đó A-nan đi voi lớn màu trắng, áo màu trắng, lọng màu trắng. Thấy vậy, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các ông thấy Thích A-nan này, đi voi trắng, áo trắng chưa?”
Các tỳ-kheo đáp:
“Dạ vâng, Thế Tôn, chúng con đã thấy.”
Phật bảo các tỳ-kheo:
“Người này sẽ xuất gia học đạo, trở thành đa văn đệ nhất, chịu hầu hạ gần gũi Ta. Các ông thấy A-na-luật này không?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Dạ vâng, chúng con thấy.”
Phật bảo các tỳ-kheo:
“Người này sẽ xuất gia học đạo, trở thành thiên nhãn đệ nhất.”
Khi ấy Vua Chân Tịnh, bốn anh em cả thảy, cùng A-nan-đà, đều đi bộ tới trước, cởi bỏ năm loại nghi trượng, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ vua Chân Tịnh bạch Thế Tôn:
“Đêm hôm qua tôi sanh ý niệm như vầy: ‘Chúng sát-lị không nên dẫn chúng bà-la-môn, mà dẫn chúng sát-lị, như vậy là thích hợp. Tôi liền ra lịnh trong nước, nhà nào có hai người anh em, một người phải xuất gia học đạo. Cúi xin Thế Tôn cho phép họ xuất gia học đạo.”
Thế Tôn đáp:
“Lành thay, Đại vương! Trời người được nhiều lợi ích, được an vui. Vì sao vậy? Thiện tri thức này là ruộng phước tốt. Ta cũng nhờ thiện tri thức mà thoát được sanh, lão, bịnh, tử này.”
Khi đó chúng họ Thích được xuất gia. Rồi Vua Chân Tịnh bạch Thế Tôn:
“Cúi xin Thế Tôn dạy dỗ những vị tân tỳ-kheo này cũng như dạy dỗ Ưu-đà-da. Vì sao vậy? Tỳ-kheo Ưu-đà-da này rất có thần lực. Xin Tỳ-kheo Ưu-đà-da được ở lại trong cung giáo hóa, khiến cho các loài chúng sanh được an ổn lâu dài. Vì sao vậy? Vì tỳ-kheo này rất có thần lực. Lần đầu tôi gặp tỳ-kheo Ưu-đà-da liền phát tâm hoan hỷ, tôi liền khởi nghĩ như vầy: Đệ tử còn có thần lực huống chi Như Lai kia lại không có thần lực này?”
Thế Tôn đáp:
“Thật vậy, Đại vương, như lời đại vương dạy, Tỳ-kheo Ưu-đà-da này rất có thần lực, có oai đức lớn.”
Bấy giờ Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Các tỳ-kheo, đệ tử đứng đầu việc hiểu rộng biết nhiều mà Quốc vương nghĩ đến chính là Tỳ-kheo A-nhã Câu-lân. Có thể khuyến hóa nhân dân chính là Tỳ-kheo Ưu-đà-da. Có trí mau lẹ chính là Tỳ-kheo Ma-ha-nam. thường thích phi hành chính là Tỳ-kheo Tu-bà-hưu. Đi lại trên không chính là Tỳ-kheo Bà-phá. Có nhiều đệ tử, là Tỳ-kheo Ưu-tỳ Ca-diếp. Ý đắc quán Không, là tỳ-kheo Giang Ca-diếp. Ý đắc chỉ quán chính, Tỳ-kheo Tượng Ca-diếp.”
Bấy giờ Thế Tôn giảng rộng pháp vi diệu cho vua Chân Tịnh nghe. Vua nghe pháp rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, rồi lui ra về.
Các tỳ-kheo cùng Vua Chân Tịnh sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was sitting under the bodhi tree when he first became a Buddha.
Who to Teach First
SC 2It was then that the Bhagavān had this thought, “Now, I have attained this profound teaching that’s hard to understand, hard to comprehend, hard to realize, and hard to know. It’s an extremely subtle and sublime knowledge that I’ve realized and known. Now, to whom will I explain this teaching first? Who’ll understand this teaching of mine?”
SC 3The Bhagavān then thought, “Āḷāra Kālāma’s faculties are fully matured. He should be the first to be liberated. He had helped me come into possession of this teaching, too.”
SC 4After he had that thought, there was a god in the sky that said to the Bhagavān, “Āḷāra Kālāma died seven days ago.”
SC 5The Bhagavān again had this thought, “How terrible for him! He didn’t hear my teaching, but he reached the end of his life. If he had heard my teaching, he would have been liberated immediately.”
SC 6The Bhagavān again had this thought, “To whom will I explain this teaching first? Who can I liberate? Now, Udraka Rāmaputra should be the first to whom I share this teaching. After he hears my teaching, he’ll be the first to be liberated.”
SC 7When the Bhagavān had that thought, a god in the sky told him, “Just last night, he reached the end of his life.”
SC 8The Bhagavān then thought, “How terrible for Udraka Rāmaputra! He didn’t to hear my teaching, but he reached the end of his life. If he had heard my teaching, he would have been liberated immediately.”
SC 9The Bhagavān then thought, “Who’ll be the first to hear this teaching and attain liberation?” The Bhagavān then seriously contemplated this: “The five monks were of great help to me. They had followed me since I was first born.”
SC 10Again, he thought, “Where are those five monks living now?” He then used his heavenly eye to observe the five monks, who were residing at Ṛṣipatana in the deer preserve of Bārāṇasī. “I’ll go there now, and they’ll be the first to whom I explain this teaching. After they hear my teaching, they’ll be liberated.”
Seven Days at the Bodhi Tree
SC 11The Bhagavān spent seven days looking at the bodhi tree, and his eyes never closed. He then spoke these verses:
“Here I sit in this place,
Gone beyond the suffering of birth and death.
I picked up the ax of wisdom
And cut forever its root origin.
The god king came to me,
A host of māras did, too.
With the methods to defeat them,
I made them put on the cap of liberation.
Now, here under this tree,
Seated on a diamond seat,
I’ve won omniscience,
Acquired unobstructed wisdom.
Here I sit under this tree,
Observing the suffering of birth and death.
Gone [for me] is the origin of death,
Old age, and illness forever, without remainder.”
SC 12After the Bhagavān said these verses, he then rose from his seat and set out for Bārāṇasī.
The Ascetic Upaka
SC 13It was then that the ascetic Upaka saw the Bhagavān from afar. His glowing form was clear and bright, blotting out the light of the sun and moon. Upon seeing him, Upaka said to the Bhagavān, “Gautama, where does your teacher reside? On whom do you base your homeless religious training? What teaching do you always discuss with delight? Where are you coming from? Where are you going?”
SC 14The Bhagavān then spoke these verses to that ascetic:
“I’ve become an arhat
Supreme and without comparison.
Among gods and worldly people,
I’m now unsurpassed.
“I have no teacher
And no other equal, either.
I’m the sole worthy who’s without flaw,
Cooled and no longer warmed.
Now, I will turn the Dharma wheel
And go to visit Kāśī.
Now, with the happiness of immortality,
I’ll reveal their benightedness.
The realm of Bārāṇasī,
The royal domain of Kāśī,
That’s where the five monks are living
To whom I’m going to explain this subtle teaching.
They will swiftly be awakened
And realize their contaminants have ended.
Eliminating the origin of what’s evil,
Therefore, is the greatest thing.”
SC 15That ascetic mockingly bowed his head and put his palms together. He then snapped his fingers with a smile, set out on the road, and departed.
Converting the Five Monks
SC 16The Bhagavān went on to Bārāṇasī. When the five monks saw the Bhagavān coming in the distance, they held a discussion about him. “There is the ascetic Gautama coming in the distance. He has a confused disposition, and his mind isn’t focused. We shouldn’t speak with him again. Don’t get up to look at him or ask him to sit.”
SC 17Those five monks then spoke this verse:
“That man shouldn’t be respected,
Nor should he be befriended.
Again, don’t say, ‘Welcome!’
Don’t ask him to sit down, either.”
SC 18After the five monks spoke these verses, they all fell silent. When the Bhagavān arrived, he slowly approached the five monks. They got up to watch him come. Some of them prepared a seat; others fetched water. The Bhagavān then took the seat that was readied in front of them, and he thought, “These foolish men aren’t capable of keeping their own rules.”
SC 19The five monks then called the Bhagavān “friend,” and he told the five monks, “Don’t say ‘friend’ to an unsurpassed Tathāgata, a completely and correctly awakened one. Why is that? I’m an unsurpassed arhat, a completely and correctly awakened one who has gained the good of immortality. You should focus your thoughts and listen to my teaching.”
SC 20The five monks then said to the Bhagavān, “Gautama, when you practiced asceticism before, you still weren’t able to attain the state of a superior man. How could someone whose thinking was confused say today that he has attained awakening?”
SC 21The Bhagavān told them, “How is it, five monks? Have you ever heard me tell a lie before?”
The five monks said, “No, Gautama.”
SC 22The Bhagavān told them, “The Tathāgata, the Completely and Correctly Awakened One, has attained immortality. You should focus your minds and listen to my teaching.” The Bhagavān then thought, “I can train these five men now.”
Turning the Dharma Wheel
SC 23The Bhagavān then told the five monks, “You should know, there are these four truths. What are the four? The truth of suffering, truth of suffering’s formation, truth of suffering’s cessation, and the truth of suffering’s escape.
SC 24“What’s called the truth of suffering? It’s the suffering of birth, suffering of old age, suffering of illness, suffering of death, suffering of sorrow, and suffering of grief, which cannot be described. It’s also the suffering of association with what’s disliked, suffering of separation from what’s liked, and the suffering of not getting what’s desired. Essentially speaking, it’s the suffering of the five proliferating aggregates. This is called the truth of suffering.
SC 25“What’s the truth of suffering’s formation? It’s the factors of acquiring and craving. When accumulating tirelessly, the mind constantly covets and attaches to them. This is called the truth of suffering’s formation.
SC 26“What’s the truth of suffering’s cessation? It’s possible to make that craving cease and end without remainder so that it doesn’t arise anymore. This is called the truth of suffering’s cessation.
SC 27“What is the truth of suffering’s escape? It’s the noble eightfold path, which is right view, right control, right speech, right action, right livelihood, right method, right mindfulness, and right concentration. This is called the teaching of the four truths.
SC 28“Moreover, five monks: In this teaching of the four truths, the truth of suffering is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering is real, certain, neither fake nor false, and doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering.
SC 29“The truth of suffering’s formation is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering’s formation is real, certain, neither fake nor false, and doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering’s formation.
SC 30“The truth of suffering’s cessation is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering’s cessation is real, certain, neither fake nor false, and doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering’s cessation.
SC 31“The truth of suffering’s escape is a teaching never heard before that gives rise to vision, knowledge, insight, awakening, light, and wisdom. Furthermore, the truth of suffering’s escape is real, certain, and neither fake nor false, and it doesn’t ever change. It’s taught by the Bhagavān; therefore, it’s called the truth of suffering’s escape.
SC 32“Five monks, you should know that these are the three turnings and twelve steps of the four truths. Someone who doesn’t truly know them doesn’t achieve the unsurpassed, correct, and complete awakening. It was by discerning these four truths in three turnings and twelve steps and truly knowing them that I achieved the unsurpassed, correct, and complete awakening.”
SC 33Once he had explained this teaching, Ajñāta Kauṇḍinya’s dust and defilements were removed, and his Dharma eye was purified.
SC 34The Bhagavān then addressed Kauṇḍinya, “Have you grasped and attained the teaching now?”
Kauṇḍinya replied, “So it is, Bhagavān! I’ve attained and grasped the teaching.”
SC 35After hearing this discourse, the spirit of the earth called out, “The Tathāgata has turned the Dharma wheel while staying in Bārāṇasī. None of the gods, worldly people, and demons or the god Māra, humans, and non-humans could turn it, but today the Tathāgata has turned the Dharma wheel. Ajñāta Kauṇḍinya has also attained the teaching of immortality!”
SC 36The four god kings then heard the earth spirit’s call and passed it on: “Ajñāta Kauṇḍinya has attained the teaching of immortality!”
SC 37The Trāyastriṃśa gods also heard it from the four god kings … the Yama gods heard it from the Trāyastriṃśa gods … the Tuṣita gods in turn heard the call … the Brahma gods also heard the call: “The Tathāgata has turned the Dharma wheel while staying in Bārāṇasī. None of the gods, worldly people, and demons or the god Māra, humans, and non-humans could turn it, but today the Tathāgata has turned the Dharma wheel. Ajñāta Kauṇḍinya has also attained the teaching of immortality!”
Then, he was named Ajñāta Kauṇḍinya.
Teaching the Five Monks
SC 38It was then that the Bhagavān told the five monks, “You two stay here and receive instruction, and you three go and solicit alms. When the three of you have gotten alms, then the six of us will share a meal. You three then will stay to receive instruction, and you two go to solicit alms. When the two of you have gotten alms, the six of us will take our meal.”
SC 39He instructed them for a time, and they achieved the birthless quality of Nirvāṇa, and they became birthless, healthy, ageless, and deathless. The five monks then all became arhats. At that point, there were five arhats, and the Buddha was the sixth in the three thousand great thousand lands.
SC 40It was then that the Bhagavān addressed the five monks, “All of you go together to solicit alms from people. Be heedful, and don’t go alone. When there are sentient beings whose faculties are fully matured, they should be liberated. I’m going to Uruvilvā to explain the teaching there.”
Taming the Evil Serpent
SC 41The Bhagavān then went to the region of Uruvilvā. Kāśyapa was living near there on the shore of the Nairañjanā River. He knew astronomy and geography, and there was nothing he couldn’t comprehend. He even knew how to calculate the number of leaves in a tree. He led 500 disciples, whom he instructed daily. Not far away from Kāśyapa, there was a cave where a poisonous serpent lived.
SC 42It was then that the Bhagavān visited Kāśyapa. When he arrived, he said to Kāśyapa, “I’d like to stay for the night in the cave. If you would permit me, I’ll go there to stay.”
Kāśyapa replied, “I don’t care about it, but there is a poisonous serpent there that’s frightful and dangerous.”
SC 43The Bhagavān told him, “Kāśyapa, that’s no problem. That serpent won’t hurt me. I just need permission to stay there for the night.”
Kāśyapa replied, “If you want to stay there, then do as you like.”
SC 44The Bhagavān then went to the cave and prepared a seat for the night. Sitting down cross-legged with upright body and mind, he fixed his attention to what was in front of him. The poisonous serpent saw the Bhagavān sitting there and spat flaming venom at him. The Bhagavān at that moment had entered a concentration of kindness. He emerged from that concentration of kindness and entered a concentration of blazing light. The serpent’s fire and the Buddha’s light met at the same time.
SC 45Kāśyapa got up that night to look up at the stars, and he saw the light of a large fire in the cave. Seeing that, he told a disciple, “This ascetic Gautama is handsome looking, but now he’s being killed by that serpent. What a pity! I told him earlier that it was there. ‘There’s an evil serpent; you can’t stay the night there.’” Kāśyapa then told his 500 disciples, “Get pitchers of water and high ladders and go douse that fire! Save that ascetic from danger!”
SC 46Kāśyapa then led his 500 disciples to the cave to put out the fire. Some of them carried water and others brought ladders, but they weren’t able to put out the fire. It was the Bhagavān’s power that did. The Bhagavān then entered the concentration of kindness and slowly made that serpent stop being hateful. The evil serpent’s mind then became fearful. It ran east and west, trying to leave the cave, but it wasn’t able to find the exit. The evil serpent then went up to the Tathāgata and coiled up in his alms bowl.
SC 47The Bhagavān stroked the evil serpent’s body with his right hand and spoke these verses:
“Serpent, escaping is so hard to do,
One serpent and another have come together.
Serpent, don’t have harmful thoughts;
Escaping is so hard to do, serpent.
Numbering like the Gaṅgā River’s sands,
Buddhas [have attained] parinirvāṇa.
You haven’t met any of them;
That’s the reason for your hateful fire.
Have good thoughts towards the Tathāgata;
Quickly abandon this hateful venom.
Once the venom of hate is gone,
Then you’ll be born up in heaven.”
SC 48The evil serpent then stuck out its tongue, licked the Tathāgata’s hand, and looked up at his face.
SC 49Early the next morning, the Bhagavān carried the evil serpent in his hand and went to Kāśyapa. He said to Kāśyapa, “Here is the evil serpent that’s so dangerous. I’ve tamed it.”
SC 50When he saw the evil serpent, Kāśyapa was terrified and said to the Bhagavān, “Stop! Stop, ascetic! Don’t come any closer! That serpent looks ready to strike!”
The Bhagavān said, “Kāśyapa, don’t be afraid. I’ve tamed it. It’ll never harm anyone because this serpent has accepted my instruction.”
SC 51Kāśyapa and his 500 disciples then praised this unprecedented thing. [He thought,] “Amazing! Extraordinary! This ascetic Gautama has such miraculous power; he can tame this evil serpent and make it do no evil. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 52Kāśyapa said to the Bhagavān, “Great ascetic, will you accept my invitation to stay for ninety days? I’ll supply you with all the clothes, food, seats, bedding, and medicines that you’ll need.”
The Bhagavān then silently accepted Kāśyapa’s invitation.
SC 53The Bhagavān released that magical serpent into the ocean, and the evil serpent lived a short time longer. After its life ended, it was born up in the heaven of the four god kings. The Tathāgata then returned to stay in the cave.
Miraculous Gifts
SC 54Kāśyapa arranged for a variety of foods to be provided, and then went and said to the Bhagavān, “A meal is ready; you can go eat.”
The Bhagavān told him, “Kāśyapa, you go first; I’ll be right behind you.” After Kāśyapa left, he went to the top of Jambudvīpa and picked a Jambu fruit from under the Jambu tree there. He then returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 55When he saw the Bhagavān there in the cave, Kāśyapa said to him, “Ascetic, what path did you take to come to this cave?”
The Buddha told Kāśyapa, “After you left, I went to the top of Jambudvīpa and picked a Jambu fruit from under the Jambu tree. I then returned to sit here. Kāśyapa, you should know that this fruit is fragrant. You can take it for your meal.”
SC 56Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Then Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. He’s even able to go to the top of Jambudvīpa and pick this delicious fruit. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 57After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
SC 58Early in the morning, Kāśyapa went to the Buddha and said to him, “Mealtime has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa left, he went to the top of Jambudvīpa and picked an āmalaka fruit. He then returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 59Kāśyapa said to the Bhagavān, “Ascetic, what path did you take to get here?”
The Bhagavān told him, “After you left, I went to the top of Jambudvīpa, picked this fruit, and came back. It’s very fragrant. If you need it, you can have it to eat.”
SC 60Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.”
Then Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. After I left, he picked this fruit and came back. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 61After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
SC 62The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and said, “Mealtime has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa had left, the Bhagavān went north to Uttarakuru, took some naturally cooked rice and came back. He returned to the cave before Kāśyapa arrived.
SC 63Kāśyapa asked the Buddha, “Ascetic, what path did you take to come and sit here?”
The Bhagavān told him, “Kāśyapa, you should know that after you left, I went to Uttarakuru and brought back some naturally cooked rice. It’s very fragrant. Kāśyapa, if you need it, you can have it to eat.”
SC 64Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 65After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
SC 66The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and said, “Mealtime has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa left, the Bhagavān went to Godānīya, picked a black myrobalan fruit, and returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 67Kāśyapa asked the Buddha, “Ascetic, what path did you take to come and sit here?”
The Buddha told Kāśyapa, “After you left, I went to Godānīya and brought back this fruit. It’s very fragrant. Kāśyapa, if you need it, you can take it to eat.”
SC 68Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 69After he had eaten, the Bhagavān then returned to his place for the night.
SC 70The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and said, “The time has arrived; you can go eat.”
The Buddha told Kāśyapa, “You go first; I’ll go later.” After Kāśyapa left, the Bhagavān went to Pūrvavideha, picked a bahera myrobalan fruit, and returned to sit in the cave before Kāśyapa arrived.
SC 71Kāśyapa asked the Buddha, “Ascetic, what path did you take to come and sit here?”
The Buddha told Kāśyapa, “After you left, I went to Pūrvavideha and brought back this fruit. It’s very fragrant. Kāśyapa, if you need it, you can take it to eat.”
SC 72Kāśyapa replied, “I don’t need it. Ascetic, take it for your own meal.” Kāśyapa again thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 73After he had eaten, the Bhagavān returned to his place for the night.
The Ceremonial Fire
SC 74Kāśyapa then was going to perform a large sacrifice. His 500 disciples held axes to chop firewood, but once they had lifted the axes in their hands, the axes wouldn’t go down. Kāśyapa thought, “Surely, this is that ascetic’s doing.” Kāśyapa then asked the Bhagavān, “We would like to chop firewood. Why won’t the axes go down?”
The Bhagavān asked, “You would like the axes to go down?”
“We would like them to go down.” The axes immediately dropped.
SC 75After the axes had gone down, they couldn’t lift them again. Kāśyapa again asked the Buddha, “Why won’t the axes go up?”
The Bhagavān asked him, “You would like the axes to go up?”
“We would like them to go up.” The axes immediately rose up.
SC 76Kāśyapa’s disciples then went to start the fire, but the fire wouldn’t light. Kāśyapa again thought, “Surely, this is the ascetic Gautama’s doing.” Kāśyapa said to the Buddha, “Why won’t the fire light?”
The Buddha asked Kāśyapa, “You would like to light the fire?”
“We would like to light it.” The fire immediately started.
SC 77They then went to douse the fire, but the fire wouldn’t go out. Kāśyapa asked the Buddha, “Why won’t the fire go out?”
The Buddha asked, “You would like the fire to go out?”
“We would like it to go out.” The fire immediately went out.
SC 78Kāśyapa then thought, “This ascetic Gautama has a handsome countenance; it’s extraordinary for this world. Tomorrow, I’m going to perform a large sacrifice, so the king and the people will come and gather. If they see this ascetic, I won’t get their offerings anymore. It would be a great fortune if that ascetic didn’t come tomorrow.”
SC 79Knowing that thought in Kāśyapa’s mind, the Bhagavān went to Uttarakuru the next day early in the morning. He took some naturally cooked rice there, went to Godānīya to get milk, and then went to Lake Anavatapta to eat. At the end of the day, he returned to the cave at sunset to spend the night.
SC 80The next day, Kāśyapa went to the Bhagavān and asked, “Ascetic, why didn’t you come yesterday?”
The Buddha told Kāśyapa, “Yesterday, you had the thought, ‘This ascetic Gautama has a handsome countenance; it’s extraordinary for this world. Tomorrow will be my large sacrifice. If the king and the people see him, they’ll stop supporting me. It would be a great fortune if that ascetic didn’t come.’ I immediately knew that thought in your mind, so I went to Uttarakuru to get some naturally cooked rice, went to Godānīya for milk, and then went to Lake Anavatapta to eat. At the end of the day, I returned to the cave at sunset to spend the night.”
SC 81Kāśyapa again had this thought, “This ascetic has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
The Gods Visit the Bhagavān
SC 82After the Bhagavān had eaten, he returned to the cave for the night. That night, the four god kings visited the Bhagavān and listened to the sūtra teachings. The four god kings were radiant, and the Buddha also emitted a great radiance. They illuminated the mountain forest, which blazed with a single color.
SC 83Kāśyapa saw their radiance that night, so he went to the Bhagavān the next day. Upon arriving, he said, “What was so radiant that it illuminated the mountain forest last night?”
The Bhagavān told him, “The four god kings came to visit me and listened to the teaching. It was the radiance of those four god kings.”
SC 84Kāśyapa again had the thought, “This ascetic Gautama has such miraculous abilities, even the four god kings come to listen to his sūtra teachings. Even though he has this power, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 85After the Bhagavān had eaten, he returned to the cave for the night. In the middle of the night, Śakra the Lord of the Gods visited the Bhagavān to listen to the teachings. The Lord of the Gods’ radiance also illuminated the mountain.
SC 86That night, Kāśyapa got up and looked at the stars, and he saw this radiance. Early the next morning, he went to the Bhagavān and asked, “Gautama, what was that extraordinary radiance last night? What were the causes and conditions for it?”
The Bhagavān told him, “Last night, the Lord of the Gods visited me to listen to the sūtras. It was just his radiance.”
SC 87Kāśyapa again had the thought, “This ascetic Gautama has such miraculous abilities; he’s quite powerful. Even the Lord of the Gods visits him to listen to his sūtra teachings. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
SC 88After the Bhagavān had eaten, he returned to the cave for the night. In the middle of the night, the god king Brahmā emitted a great radiance that illuminated the mountain while he visited the Bhagavān and listened to the sūtra teachings.
SC 89That night, Kāśyapa got up and saw the radiance. The next day he went to the Bhagavān and asked, “Last night, there was a radiance that illuminated twice as much as before. It was brighter than the sun and moon! What were the causes and conditions for it?”
The Bhagavān told him, “Kāśyapa, you should know that last night the great god king Brahmā visited me to listen to the sūtra teachings.”
SC 90Kāśyapa again thought, “This ascetic Gautama has such miraculous ability. Even our ancestral father visits this ascetic to listen to his sūtra teachings. Even so, it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
Washing the Bhagavān’s Robes
SC 91The Bhagavān had obtained a fivefold robe that was in tatters, and he thought about washing it. He thought, “Where will I go to wash this robe?”
Śakra the Lord of the Gods then knew that thought in the Bhagavān’s mind. He magically created a bathing pool and said to the Bhagavān, “You can wash your robes there.”
SC 92The Bhagavān again had the thought, “Where will I lay out the robe to wash it?”
The four god kings then knew that thought in the Bhagavān’s mind, so they presented a large, square stone to him, putting it next to the water. They said to the Bhagavān, “You can lay out your robes here.”
SC 93The Bhagavān had another thought, “Where will I hang these robes to dry?”
A tree spirit knew that thought in the Bhagavān’s mind, so it lowered a tree limb. It said to the Bhagavān, “Please dry your robes here.”
SC 94The next morning, Kāśyapa went to the Bhagavān and asked him, “It wasn’t here before, but now here’s this pool. It wasn’t here before, but now here’s this tree [limb]. It wasn’t here before, but now here’s this stone. What causes and conditions has brought these things into being?”
The Bhagavān told him, “Last night, Śakra the Lord of the Gods knew that I wanted to wash my robes, so he created this bathing pool. I then had the thought, ‘Where will I lay out my robes to wash them?’ The four god kings knew that thought in my mind, and they brought me this stone. I also thought, ‘Where will I hang up these robes to dry?’ A tree spirit knew that thought in my mind, so it lowered this tree limb.”
SC 95Kāśyapa again thought, “This ascetic Gautama may be miraculous, but it’s not the same as the truth that I’ve attained.”
Walking on Water
SC 96After the Bhagavān had eaten, he returned to his place for the night. In the middle of the night, a large, black cloud appeared, and it brought a great rainstorm. The great Nairañjanā River became a raging torrent. Kāśyapa thought, “The river is a raging torrent. Surely that ascetic will be swept away! I’ll go look for him now!”
SC 97Kāśyapa and his 500 disciples went to river, and there was the Bhagavān walking on top of the water, and his legs weren’t wet. When Kāśyapa saw the Bhagavān walking on the water from a distance, he thought, “Amazing! Extraordinary! The ascetic Gautama can walk on water. I’m able to walk on water, too, but I’m not able to keep my legs from getting wet. Despite this ascetic’s miracles, it’s not the same as the truth I’ve attained.”
The Conversion of Uruvilvā Kāśyapa
SC 98The Bhagavān said to Kāśyapa, “You are still not an arhat, and you don’t know the awakening of an arhat. You aren’t even aware of the name ‘arhat,’ so how could you attain that awakening? You are a blind man without the eyes to see. The Tathāgata has performed so many miracles, yet you say, ‘It’s not the same as the truth I’ve attained.’ You say, ‘I’m able to walk on water.’ Now is the right time. Can you walk on the water with me? You can abandon the wrong views in your mind now, and nothing will cause you to experience this suffering for long.”
SC 99When he heard what the Bhagavān said, Kāśyapa faced him and bowed at his feet. “Now, I repent my mistake, deeply knowing what’s not the teaching. I’ve come into contact with a Tathāgata. Please accept my repentance!” He repeated this three times.
The Bhagavān told him, “I accept your repentance since you’re able to recognize that you’ve come into contact with a Tathāgata.”
SC 100Kāśyapa then addressed his 500 disciples, “Each of you should do what you think is fitting, but I’m taking refuge in the ascetic Gautama.”
SC 101His 500 disciples then said to Kāśyapa, “We had that thought about the ascetic Gautama before when he tamed the serpent. We immediately wanted to take refuge in him. If the teacher himself takes refuge in Gautama, then we 500 disciples will all take refuge in Gautama as well.”
Kāśyapa replied, “Now is the right time. It was just that my mind was attached to this foolishness: Seeing so many miracles, my mind still didn’t understand, so I said, ‘My truth is correct.’”
SC 102Kāśyapa then led his 500 disciples who surrounded him in front and behind, and they went to the Bhagavān. They bowed their heads at his feet and withdrew to stand to one side. He then said to the Bhagavān, “Please, Bhagavān, permit us to become ascetics and cultivate the pure practice.”
SC 103The eternal rule of Buddhas is that if they say, “Welcome, monk!” then one becomes an ascetic. The Bhagavān told Kāśyapa, “Welcome, monk! This teaching is subtle. Cultivate the religious life well!” The robes that Kāśyapa and the 500 disciples were wearing all turned into reddish-brown robes, and their hair fell out on its own. They looked like they shaved their heads, and it lasted for seven days. Kāśyapa then took his implements for studying magic and incantations and tossed them all into the river.
SC 104The 500 disciples then said to the Bhagavān, “Please, Bhagavān, permit us to become ascetics!”
The Bhagavān said, “Welcome, monks!” The 500 disciples became ascetics wearing reddish-brown robes, and the hair on their heads fell out on its own.
The Conversion of Nadī Kāśyapa
SC 105They followed the river downstream to where the ascetic named Nadī Kāśyapa lived on the riverbank. Nadī Kāśyapa saw all their implements of magical incantation floating in the water. He then thought, “What? Did my older brother drown in the river?” Nadī Kāśyapa then led his 300 disciples upstream searching for his brother’s body. He saw the Bhagavān sitting under a tree from a distance, surrounded in front and behind by Great Kāśyapa and his 500 disciples. He said, “What’s the reason for this marvel? A man who was once a teacher now is a disciple! Why did my older brother become a disciple of that ascetic that he’s accompanying?”
SC 106Uruvelā Kāśyapa replied, “It’s wonderful! There are no faults here.” He then spoke a verse to Nadī Kāśyapa,
“This teacher is esteemed by humans and gods;
He is the teacher whom I serve now.
Buddhas arise in the world,
But it’s so rare to meet one!”
SC 107When Nadī Kāśyapa heard the name “Buddha,” he felt ecstatic and danced with joy, unable to control himself. He went before the Bhagavān and said, “May I hear about the path?”
The Bhagavān told him, “Welcome, monk! Cultivate the religious life well until the end of suffering!”
SC 108Nadī Kāśyapa then became an ascetic along with his 300 disciples. All of them wore reddish-brown robes, and their hair fell out on its own. Nadī Kāśyapa and his 300 disciples threw all their implements of magical incantation into the water.
The Conversion of Gayā Kāśyapa
SC 109They then followed the river downstream to where the ascetic named Gayā Kāśyapa was living on the riverbank. He saw the implements of magical incantation floating in the river from a distance and thought, “I have two brothers upstream who are religious mendicants. Now, all these implements of magical incantation are floating in the river. Surely, the river has killed those two older Kāśyapas!” He then led his 200 disciples upstream until they reached that place where the incantations had been studied. He saw from a distance that his two brothers had become ascetics, so he said, “What marvel is this? Men who before were honored now are this ascetic’s disciples!”
Kāśyapa replied, “It’s so wonderful! There are no faults here.”
SC 110Gayā Kāśyapa then thought, “Now, these two brothers of mine knew much and were erudite. This must be a virtuous place for my two brothers to stay here as religious mendicants. I can also stay here as a religious mendicant.” Gayā Kāśyapa then went before the Bhagavān and said, “Please, Bhagavān, permit me to become an ascetic!”
The Bhagavān told him, “Welcome, monk! Cultivate the religious practice well until the end of suffering.”
SC 111Gayā Kāśyapa then became an ascetic who wore the reddish-brown robes, and his hair fell out on its own. He looked like he shaved his head, and it lasted for seven days.
Three Ways of Teaching
SC 112The Bhagavān then stayed there on the riverbank under a banyan tree. It hadn’t been long since he became a Buddha, and he led a thousand disciples. They were the elders and resided there a long time. The Bhagavān taught them in three ways. What were the three? He taught them with miraculous abilities, taught them with verbal teachings, and taught them with instructions.
SC 113How did he teach them with miraculous abilities? The Bhagavān sometimes divided into any number of forms and then combined them into one again. Sometimes, he disappeared and reappeared. Sometimes, he passed through stone walls without being obstructed at all. Sometimes, he entered the earth as though it were a flowing river without being blocked by it. Sometimes, he sat cross-legged and went up into the sky like a bird flying without being obstructed at all. He also could be like a giant volcano that produces smoke without measure. His great miraculous power wasn’t limited even by the sun and moon, which he could touch with his hand. He could go physically up to the Brahma heaven. Thus, the Bhagavān demonstrated miraculous abilities.
SC 114How did he teach them with verbal teachings? The Bhagavān instructed the monks, “You must abandon that and establish this.” “You must stay close to this and away from that.” “You must think this and let that go.” “You must contemplate this and not contemplate that.”
“What must be cultivated and not cultivated? You must cultivate the seven factors of awakening, and the three bonds are to be ceased.”
“What must be contemplated and not contemplated? You must contemplate the three bonds and the virtues of the ascetic, which are the happiness of escape, the happiness of having no hostility, and the happiness of having no anger. What must not be contemplated? That’s the three pains of the ascetic. What are the three? They are contemplation of desires, contemplation of hostility, and the contemplation of anger.”
“What’s to be thought and not thought? You must think about the truth of suffering, think about the truth of formation, think about the truth of cessation, and think about the truth of the path. Don’t think about wrong truths, which are the view of permanence, view of impermanence, view of limits, and view of limitlessness as well as what’s a person, what’s not the soul, what’s not the person, ‘the Tathāgata’s life ends,’ ‘the Tathāgata’s life doesn’t end,’ ‘existence ends,’ ‘existence doesn’t end,’ and ‘neither existence nor inexistence ends.’ Don’t think those things.”
SC 115How did he teach with instructions? “Furthermore, you must do this to let go and shouldn’t do that to let go.” “Do this when you arrive; you shouldn’t do that when you arrive.” “Be silent, or do this when you speak.” “You must hold your robes this way; you shouldn’t hold your robes in that way.” “You should enter a town this way; you shouldn’t enter a town in that way.” This was how he taught them with instructions.
SC 116The Bhagavān then taught those 1,000 monks in these three ways. When the monks had received the Buddha’s teaching, all 1,000 of them became arhats, and the Bhagavān saw that those 1,000 monks had become arhats. At that point, the region of Jambudvīpa had 1,000 arhats, plus the five monks and the Buddha made six teachers. He then turned to sit facing Kapilavastu.
The Return to Kapilavastu
SC 117Then Uruvilvā Kāśyapa had the thought, “Why does the Bhagavān sit facing Kapilavastu?” Uruvilvā Kāśyapa then knelt down before the Bhagavān and asked, “Judge not, Tathāgata, but why do you sit facing Kapilavastu?”
The Bhagavān told him, “When a Tathāgata is present in the world, he should do five things. What are the five? First is to turn the Dharma wheel. Second is to explain the teaching to his father. Third is to explain the teaching to his mother. Fourth is to lead ordinary men to establish the bodhisattva practice. Fifth is to give the prediction [of becoming a Buddha] to a bodhisattva. These, Kāśyapa, are the five things a Tathāgata appears in the world to do.”
SC 118Uruvilvā Kāśyapa again thought, “It’s because the Tathāgata is thinking of his native kinsmen that he sits facing that way.”
SC 119The five monks eventually came to the bank of the Nairañjanā River. They bowed their heads to the Bhagavān’s feet when they arrived and then sat to one side.
SC 120Venerable Udāyī then saw the Bhagavān sitting facing Kapilavastu from a distance. Seeing that, he thought, “Surely, the Bhagavān will go to Kapilavastu to see his relatives there.” Udāyī then knelt before the Bhagavān and said, “I have a question now that’s worthy of asking, if you would please explain it fully.”
The Bhagavān told him, “If you have a question, then ask it.”
SC 121Udāyī said to the Bhagavān, “Examining the Tathāgata’s mind, [I see] he wants to head for Kapilavastu.”
The Bhagavān told him, “It’s as you say. Udāyī, you should know that before I visit King Śuddhodana, I need to be his equal, then after that I will go. Why is that? Before the warrior caste honors someone, a messenger announces them. Afterward, the Tathāgata will go. When you arrive, tell the king this: ‘In seven days, the Tathāgata will come to see the king.’”
SC 122Udāyī replied, “Yes, Bhagavān.” Udāyī then rose from his seat, adjusted his robes, bowed at the Bhagavān’s feet, and then disappeared from in front of him. He went to Kapilavastu to visit King Śuddhodana. He appeared standing before the king.
SC 123King Śuddhodana was seated in a great hall with his concubines. Udāyī then flew up into the air. King Śuddhodana saw Udāyī holding a bowl in his hand, so he picked up his staff and stood before him. Looking at [Udāyī], he was frightened and said, “What is this person? Is he human or non-human? A god or demon? A yakṣa, rākṣasa, god, nāga, or demonic spirit?”
SC 124King Śuddhodana asked Udāyī, “What sort of person are you?” and spoke this verse to Udāyī:
“Are you a god, demon,
Gandharva, or something else?
Now, who are you?
This is what I want to know.”
SC 125Udāyī then replied to the king with verse:
“I am neither a god
Nor a gandharva.
Here in Kapilavastu,
The great king is a defiled human.
Once he destroyed 18 million [demons],
That host of corrupt Māra Pāpīyān,
My teacher became Śākyamuni.
I am his true disciple.”
SC 126King Śuddhodana again said to Udāyī in verse:
“Who has destroyed 18 million [demons],
That host of corrupt Māra Pāpīyān?
Who is this ‘Śākyamuni’?
Now, I implore you to tell me.”
SC 127Udāyī then spoke these verses:
“When the Tathāgata was first born,
There was an earthquake in heaven and earth.
He vowed to complete the task,
So today he’s called ‘Siddhârtha.’
He defeated 18 million [demons],
That host of corrupt Māra Pāpīyān.
He’s called Śākyamuni
Because today he achieved the Buddha path.
That man who is the lion of the Śākyas
Was ‘Gautama’ when he was a disciple.
Today, I’ve become an ascetic
Who was formerly named Udāyī.”
SC 128When he heard this, King Śuddhodana was overjoyed and couldn’t control himself. He said to Udāyī, “How is it, Udāyī? The prince Siddhârtha exists as he did before?”
Udāyī replied, “The Buddha Śākyamuni is present today.”
SC 129The king asked, “He has become a Buddha now?”
Udaya replied, “He has now become a Buddha.”
SC 130The king again asked, “Where is the Tathāgata today?”
Udāyī replied, “The Tathāgata is presently in Magadha sitting under a banyan tree.”
SC 131The king replied, “By what disciples is he served?”
Udāyī replied, “A million gods, a thousand monks, and the four god kings are always present to his left and right.”
SC 132The king asked, “What do the robes that he wears look like?”
Udāyī replied, “The robe and lower garment worn by the Tathāgata are called ‘reddish-brown.’”
SC 133The king asked, “What food does he eat?”
Udāyī replied, “The Tathāgata’s body eats teachings as its food.”
SC 134The king again asked, “How is it, Udāyī? Can I meet the Tathāgata?”
Udāyī replied, “Fear not, king! In seven days, the Tathāgata will come and enter this city.”
SC 135The king was overjoyed and couldn’t control himself. He served food and drink to Udāyī with his own hands as an offering.
SC 136King Śuddhodana then beat a great drum and ordered the kingdom’s people to repair the roads, remove refuse, sprinkle the ground with perfume, set up banners and canopies, play music, and other indescribable things. He also ordered all the deaf, blind, and mute people in the kingdom to stay inside until after seven days had passed, and then everyone would come into the city. When King Śuddhodana heard that the Buddha would be coming to the city in seven days, he couldn’t sleep.
Teaching Śuddhodana
SC 137When the seventh day arrived, the Bhagavān then thought, “Now, it would be fitting to use my miraculous abilities to go to Kapilavastu.” The Bhagavān then led the monks, who surrounded him in front and behind, and went to Kapilavastu. Upon arriving, he then went to the cedar park to the north of the city.
SC 138Hearing that the Bhagavān had passed through Kapilavastu and was in the cedar park to the north, King Śuddhodana then led a crowd of Śākyas to visit the Buddha.
SC 139The Bhagavān thought, “If King Śuddhodana comes here in person, this won’t be fitting for me. I’ll go and meet with him. Why is that? A father and mother’s love is deep, and their nurturing feeling is great.” The Bhagavān then led a crowd of monks to the city gate while flying seven fathoms from the ground.
SC 140King Śuddhodana saw the Bhagavān, who was handsome without comparison. He was extraordinary for this world. His faculties were peaceful, lacking a multitude of thoughts, and his body was adorned by thirty-two signs and eighty excellencies. Feeling encouraged, the king bowed his head at the Bhagavān’s feet and said, “I am a king of the warrior caste named King Śuddhodana.”
SC 141The Bhagavān told him, “Let the great king’s life be without want. Therefore, great king, you should rule with the correct teaching. Don’t rule with the wrong teaching. Great king, you should know that those who rule using the correct teaching are born in a good place up in heaven when their bodies break up and their lives end.”
SC 142The Bhagavān then walked on air to King Śuddhodana’s palace. When he arrived, he prepared a seat and sat down.
SC 143When he saw the Bhagavān sitting concentrated, the king served him a meal with his own hands. When he saw that the Bhagavān was finished eating, he brought clean water, fetched a small seat, and listened to the teaching.
SC 144The Bhagavān at that point gradually explained the sublime goal to King Śuddhodana. He discussed the topics of generosity, discipline, birth in heaven, desiring impure actions, and the happiness of escape. When the Bhagavān saw that the king’s mind was open and understood his intent, he expounded the teaching that Buddhas and Bhagavāns always do: suffering, its formation, its cessation, and the path. He taught it all to the king.
SC 145There on his high seat, King Śuddhodana’s dust and defilements were removed, and his Dharma eye was purified. After he had shared this exposition of the teaching with the king, the Bhagavān then rose from his seat and departed.
Ānanda and Aniruddha Become Disciples
SC 146King Śuddhodana called a meeting of the Śākya assembly and said, “The appearance of these ascetics is disgraceful. The warrior caste leads the assembly of priests, but it’s not fitting for us. The warrior Śākya clan will recruit from the warrior assemblies to make them marvelous.”
The Śākyas replied, “Yes, great king. As the king instructs, the warriors will recruit from the warrior assemblies to make them marvelous.”
SC 147The king told those in the kingdom, “Wherever there are two brothers, one will be chosen to become an ascetic. Those who refuse will be severely punished.”
The Śākya assembly heard the king’s instruction and ordered it: “Where there are two brothers, one will be chosen to become an ascetic. Those who don’t follow this order will be severely punished.”
SC 148The Śākyan Devadatta said to the Śākyan Ānanda, “King Śuddhodana has today ordered, ‘Where there are two brothers, one will be chosen to become an ascetic.’ Now, you leave home to train on the path. I will remain at home and cultivate the occupation of the household.”
The Śākyan Ānanda rejoiced and danced. He replied, “As your brother, I’ll heed the order!”
SC 149The Śākyan Ānanda then said to the Śākyan Aniruddha, “King Śuddhodana has instructed, ‘Where there’s a second brother, one of them is to become an ascetic. Those who refuse will be severely punished.’ Now, you and I will leave home!”
SC 150When the Śākyan Aniruddha heard this, he rejoiced and danced, being unable to control himself. He replied, “Yes! As a brother, I’ll come as instructed!”
SC 151King Śuddhodana then led the Śākyans Droṇodana, Śuklodana, and Amṛtodana to the Bhagavān. They rode in four-horse team chariots. [The first] chariot was white, had a white canopy, and was pulled by white horses. The second Śākyan rode a blue chariot with a blue canopy and was pulled by blue horses. The third Śākyan rode a yellow chariot with a yellow canopy and was pulled by yellow horses. The fourth Śākyan rode a red chariot with a red canopy and was pulled by red horses. There were also Śākyans riding elephants and horses. They all went together as an assembly.
SC 152The Bhagavān saw King Śuddhodana leading this assembly of Śākyans from a distance. He told the monks, “All of you, look at that assembly of Śākyans. Look at that assembly of King Śuddhodana. Monks, you should know that when the Trayastriṃśa gods leave their garden, they do so in this way, too. There’s no difference at all.”
SC 153Ānanda rode a white elephant, wore white clothes, and had a white umbrella. Seeing him, the Bhagavān told the monks, “All of you, do you see that Śākyan Ānanda riding a white elephant and wearing white clothes?”
The monks replied, “We do, Bhagavān. We see him.”
SC 154The Buddha told the monks, “This man will leave home to train on the path. He’ll be the best in learning and worthy of waiting on me left and right. Do all of you see that Śākyan Aniruddha there?”
The monks replied, “We do. We see him.”
SC 155The Buddha told the monks, “This man will leave home and train on the path. His heavenly eye will be the best.”
SC 156King Śuddhodana and his brothers made four men, and Nandika and Ānanda were in front of them. They abandoned the five desires and went to the Bhagavān. They bowed their heads at his feet and sat to one side.
SC 157King Śuddhodana said to the Buddha, “Last night, I had this thought occur to me, ‘The assembly of warriors shouldn’t lead the assembly of priests. They should return to leading the warrior assembly. This would be fitting for them.’ I then gave the order to the kingdom, ‘Where there’s a second brother, one man will be chosen who’ll leave home and train on the path.’ Please, Bhagavān, permit them to leave home and train on the path.”
The Bhagavān told him, “Good, great king! That will be helpful. It’ll bring peace to gods and humans. Why is that? These good friends are an excellent blessing and a field of merit. To me, good friends are also a cause for attaining liberation from birth, old age, illness, and death.” That assembly of Śākyans then attained the path.
SC 158King Śuddhodana said to the Bhagavān, “Please, Bhagavān, instruct these new monks. They should be instructed like Udāyī. Why is that? That monk Udāyī has great miraculous abilities! May the monk Udāyī always reside in the palace and teach us, making sentient beings gain well-being for a long time. Why is that? This monk has great miraculous abilities. When I first met the monk Udāyī, it made my heart rejoice. I then thought, ‘Even his disciples have miraculous abilities, so how could that Tathāgata not have these miraculous abilities?”
The Bhagavān told him, “So it is, great king. As the great king says, this monk Udāyī has great miraculous abilities and possesses great power.”
SC 159The Bhagavān then addressed the monks, “The first disciple is widely known and recognized by many and remembered by the king. He’s this monk Ajñāta Kauṇḍinya. Able to encourage people is this monk Udāyī. Having a quick intelligence is this monk Mahānāma. Always delighted to fly is this monk Subāhu. Coming and going by air is this monk Vāṣpa. With many disciples is this monk Uruvilvā Kāśyapa. Thinking of observing the sky is this monk Nadī Kāśyapa. Thinking of calmness is this monk Gaya Kāśyapa.”
SC 160The Bhagavān broadly shared the subtle teaching with King Śuddhodana. After the king heard the teaching, he rose from his seat, bowed his head at the Bhagavān’s feet, and withdrew and departed.
SC 161The monks and King Śuddhodana who heard what the Buddha taught then rejoiced and approved.