BJT 2898(Trong lúc) đức Thế Tôn Siddhattha bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy đang công bố về Sự Thật, đang giúp cho các sanh linh thành tựu Niết Bàn.
BJT 2899(Khi ấy) tôi đã mang lại bông hoa sen mọc ở trong nước, làm thích ý. Sau khi thực hiện chiếc lọng che bằng bông hoa, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 2900Bậc Hiểu Biết Thế Gian Siddhattha, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Đạo Sư, đứng ở Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên lời kệ này:
BJT 2901“Người nào sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở Ta đã nắm giữ chiếc lọng che bằng bông hoa, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, người ấy không đi đến chốn khổ đau.”
BJT 2902Nói xong lời này, bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sid-dhattha đã giải tán hội chúng rồi đã bay lên khoảng không ở bầu trời.
BJT 2903Khi vị Trời của nhân loại đứng dậy, chiếc lọng che màu trắng cũng đã vươn lên. Chiếc lọng che tối thượng di chuyển ở phía trước đức Phật tối thượng.
BJT 2904(Kể từ khi) tôi đã dâng lên chiếc lọng che trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của chiếc lọng bằng bông hoa.
BJT 2905Vào kiếp thứ 74, tám vị (cùng) tên Jalasikha đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2906Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphachattiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pupphachattiya là phần thứ chín.
“Siddhatthassa bhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Saccaṁ pakāsayantassa,
nibbāpentassa pāṇino.
Jalajaṁ āharitvāna,
satapattaṁ manoramaṁ;
Pupphassa chattaṁ katvāna,
buddhassa abhiropayiṁ.
Siddhattho ca lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe ṭhito satthā,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Yo me cittaṁ pasādetvā,
pupphacchattaṁ adhārayiṁ;
Tena cittappasādena,
duggatiṁ so na gacchati’.
Idaṁ vatvāna sambuddho,
siddhattho lokanāyako;
Uyyojetvāna parisaṁ,
vehāsaṁ nabhamuggami.
Vuṭṭhite naradevamhi,
setacchattampi vuṭṭhahi;
Purato buddhaseṭṭhassa,
gacchati chattamuttamaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ chattaṁ abhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pupphacchattassidaṁ phalaṁ.
Catusattatikappamhi,
aṭṭha jalasikhā ahū;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pupphacchattiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pupphacchattiyattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 2898-2899Bringing water-born lotuses,
hundred-leafed, delighting the mind,
and making it, I offered a
floral umbrella to Buddha,
the Blessed One, Siddhattha,
the World’s Best One, the Neutral One,
when he was declaring the truth,
giving living beings succor. Verse 1-2
Walt 2900 And Siddhattha, World-Knower,
Sacrificial Recipient,
standing in the monks’ Assembly,
the Teacher spoke this verse for me: Verse 3
Walt 2901 “This one who pleased his heart in me
and made a floral umbrella,
due to that mental pleasure he
will not go to a bad rebirth.” Verse 4
Walt 2902 Having said this, the Sambuddha,
Siddhattha, Leader of the World,
taking leave of his retinue
rose up into the sky, the sky! Verse 5
Walt 2903 When the Man-God had risen up
the white umbrella also rose.
That unexcelled umbrella then
went in front of the Best Buddha. Verse 6
Walt 2904 In the ninety-four aeons since
I offered him that umbrella,
I’ve come to know no bad rebirth:
fruit of a floral umbrella. Verse 7
Walt 2905 In the seventy-fourth aeon
there were eight named Jalasikha,
wheel-turning monarchs with great power,
possessors of the seven gems. Verse 8
Walt 2906 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Pupphacchattiya Thera spoke these verses.
The legend of Pupphacchattiya Thera is finished.
BJT 2898(Trong lúc) đức Thế Tôn Siddhattha bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy đang công bố về Sự Thật, đang giúp cho các sanh linh thành tựu Niết Bàn.
BJT 2899(Khi ấy) tôi đã mang lại bông hoa sen mọc ở trong nước, làm thích ý. Sau khi thực hiện chiếc lọng che bằng bông hoa, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 2900Bậc Hiểu Biết Thế Gian Siddhattha, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Đạo Sư, đứng ở Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên lời kệ này:
BJT 2901“Người nào sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở Ta đã nắm giữ chiếc lọng che bằng bông hoa, do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, người ấy không đi đến chốn khổ đau.”
BJT 2902Nói xong lời này, bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sid-dhattha đã giải tán hội chúng rồi đã bay lên khoảng không ở bầu trời.
BJT 2903Khi vị Trời của nhân loại đứng dậy, chiếc lọng che màu trắng cũng đã vươn lên. Chiếc lọng che tối thượng di chuyển ở phía trước đức Phật tối thượng.
BJT 2904(Kể từ khi) tôi đã dâng lên chiếc lọng che trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của chiếc lọng bằng bông hoa.
BJT 2905Vào kiếp thứ 74, tám vị (cùng) tên Jalasikha đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2906Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphachattiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pupphachattiya là phần thứ chín.
“Siddhatthassa bhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Saccaṁ pakāsayantassa,
nibbāpentassa pāṇino.
Jalajaṁ āharitvāna,
satapattaṁ manoramaṁ;
Pupphassa chattaṁ katvāna,
buddhassa abhiropayiṁ.
Siddhattho ca lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Bhikkhusaṅghe ṭhito satthā,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Yo me cittaṁ pasādetvā,
pupphacchattaṁ adhārayiṁ;
Tena cittappasādena,
duggatiṁ so na gacchati’.
Idaṁ vatvāna sambuddho,
siddhattho lokanāyako;
Uyyojetvāna parisaṁ,
vehāsaṁ nabhamuggami.
Vuṭṭhite naradevamhi,
setacchattampi vuṭṭhahi;
Purato buddhaseṭṭhassa,
gacchati chattamuttamaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ chattaṁ abhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pupphacchattassidaṁ phalaṁ.
Catusattatikappamhi,
aṭṭha jalasikhā ahū;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pupphacchattiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pupphacchattiyattherassāpadānaṁ navamaṁ.